BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN - ĐẠI HỌC Y DƢỢC
NGUYỄN XUÂN NGUYÊN
THỰC TRẠNG MỘT SỐ BỆNH
VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHĂN NUÔI LỢN
QUY MÔ NHỎ TẠI XÃ KHA SƠN - PHÚ BÌNH - THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN QUÝ THÁI THÁI NGUYÊN, 2008
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Ban Giám hiệu, khoa Sau đại học Tr-ờng đại học Y - D-ợc - Đại
học Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho em.
Các giáo s-, các nhà khoa học các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy tận
tình và h-ớng dẫn em trong thời gian em tham gia học tập tại tr-ờng.
Xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Tiến sỹ Nguuyễn Quý Thái - Ng-ời thầy
h-ớng dẫn khoa học trong quá trình em hoàn thành bản luận văn này.
Lãnh đạo Sở Y tế Bắc Giang - Huyện uỷ - Uỷ ban nhân dân huyện
Yên Thế đã tạo điều kiện để em tham gia khoá học này.
Xin đ-ợc cảm ơn Ban giám đốc, cán bộ viên chức Trung tâm Y tế
Dự phòng huyện Yên Thế nơi tôi công tác.
Cám ơn Đảng uỷ, Uỷ Ban nhân dân, Trạm Y tế xã Kha Sơn - Phú
Chăm sóc sức khoẻ ban đầu
HCBVTV
Hóa chất bảo vệ thực vật
NĐT
Nội độc tố
NXB
Nhà xuất bản
TCVSCP
Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
TMH
Tai mũi họng
WHO
World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
1.2.3. Ảnh hưởng của khí NH
3
6
1.2.4. Ảnh hưởng của H
2
S
7
1.2.5. Vi sinh vật trong không khí
8
1.3
Những bệnh vật nuôi lây sang người và cách phòng chống
9
1.3.1. Bệnh đóng dấu lợn
9
1.3.2. Bệnh E.Coli
10
1.3.3. Bệnh lao
11
1.3.4. Bệnh do liên cầu khuẩn
11
1.3.5. Bệnh Listeriosis
1.6.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
17
1.6.2. Nghiên cứu trong nước
17
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
21
2.1
Đối tượng
21
2.2
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
21
2.2.1. Địa điểm
21
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
22
2.3
Phương pháp nghiên cứu
22
2.3.1. Phương pháp
22
2.3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu
22
36
Chƣơng 4: BÀN LUẬN
43
4.1
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
43
4.2
ệnh thường gặp ở người chăn nuôi lợn
45
4.3
Một số yếu tố liên quan đến các bệnh thường gặp
51
KẾT LUẬN
59
KIẾN NGHỊ
61
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Nội dung
Trang
Biểu 3.1. Đặc điểm giới tính người chăn nuôi lợn
27
Biểu 3.2.Trình độ học vấn của người chăn nuôi lợn
DANH MỤC BẢNG
Nội dung Trang
Bảng 3.1. Cơ cấu bệnh tật ở người chăn nuôi lợn
30
Bảng 3.2. Tỷ lệ mắc bệnh TMH theo giới, tuổi đời của người chăn nuôi lợn
30
Bảng 3.3. Tỷ lệ mắc bệnh TMH theo tuổi nghề của người chăn nuôi lợn
31
Bảng 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh da liễu theo giới, tuổi đời của người chăn nuôi lợn
31
Bảng 3.5. Tỷ lệ mắc bệnh da liễu theo tuổi nghề của người chăn nuôi lợn
32
Bảng 3.6. Tỷ lệ mắc bệnh hô hấp theo giới, tuổi đời của người chăn nuôi lợn
33
Bảng 3.7. Tỷ lệ mắc bệnh hô hấp theo tuổi nghề của người chăn nuôi lợn
33
Bảng 3.8. Tỷ lệ mắc bệnh tiêu hoá theo giới, tuổi đời của người chăn nuôi lợn
34
Bảng 3.9. Tỷ lệ mắc bệnh tiêu hoá theo tuổi nghề của người chăn nuôi lợn
35
Bảng 3.10. Liên quan giữa vị trí đặt chuồng lợn so với nhà ở và bệnh TMH
36
Bảng 3.11. Liên quan giữa cách xử lý phân gia súc và bệnh TMH
36
Bảng 3.12. Liên quan giữa sử dụng khẩu trang và bệnh TMH
37
Bảng 3.13. Liên quan giữa vị trí đặt chuồng lợn so với nhà ở và bệnh da liễu
38
Bảng 3.14. Liên quan giữa cách xử lý phân gia súc và bệnh da liễu
38
thổi thêm một luồng gió mới cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt
Nam. Trong nông nghiệp chăn nuôi là một ngành cơ bản không thể tách rời.
Tuy nhiên người lao động nông nghiệp nói chung và lao động chăn nuôi nói
riêng cũng luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường và sức khoẻ.
Có nhiều chứng bệnh hoặc bệnh truyền nhiễm ở người có liên quan đến
chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hiện nay tỷ lệ các bệnh dịch lây từ gia súc, gia
cầm như cúm gia cầm, nhiễm trùng, nhiễm độc, lợn tai xanh đang trở thành
mối quan ngại của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam [3], [4],
[6]. Ở một số nước trên thế giới, vấn đề này không được giải quyết triệt để
nên đã gây nhiều tác hại, tác động nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ
cộng đồng. Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp khá phát triển,
tỷ lệ các hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm nhiều, hơn nữa
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, số lượng các trang trại cũng ngày một
nhiều hơn. Đây có thể là một trong những nguyên nhân gây nên nhiều bệnh
lây truyền hoặc gia tăng một số bệnh thường gặp đối với cộng đồng nếu vấn
đề vệ sinh lao động không được giải quyết đúng quy trình và đảm bảo an toàn [44].
Ở nước ta sản xuất nông nghiệp trong đó có chăn nuôi đang là nền tảng
kinh tế xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc. Chăn nuôi quy mô nhỏ là mô
hình thường gặp vì đã mang lại nhiều lợi ích cho nông dân. Tuy nhiên chăn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
nuôi quy mô nhỏ cũng chứa ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khoẻ cộng đồng.
Một số nghiên cứu tại một số khu vực chăn nuôi lợn quy mô hộ gia đình ở các
huyện Phú Bình, Phổ Yên, Thành phố Thái Nguyên, đã cho thấy sự gia tăng
tỷ lệ của nhiều bệnh: tai mũi họng, hô hấp, tiêu hóa, da và niêm mạc. Tuy
nhiên các nghiên cứu về bệnh trạng và các yếu tố ảnh hưởng ở người chăn
nuôi lợn còn ít và chưa có hệ thống. Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài "Thực
trạng một số bệnh và yếu tố liên quan ở người chăn nuôi lợn quy mô nhỏ
chưa cao, nền khoa học kỹ thuật vẫn còn đóng vai trò khiêm tốn, nên đã ảnh
hưởng xấu đến sức khoẻ người nông dân. Lao động nông nghiệp nước ta có
những đặc trưng về tác hại nghề nghiệp cần lưu ý như lao động ngoài trời phụ
thuộc vào thiên nhiên, lao động thủ công đơn giản là chính. Trong quá trình
lao động người dân phải tiếp xúc nhiều với các tác nhân gây bệnh đặc biệt là
các vi sinh vật, kí sinh trùng, hoá chất trừ sâu nguy hại [3], [7], [9], [26], [29].
Sự phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên cao trong quá trình sản xuất
như các yếu tố vi khí hậu trong môi trường lao động: nhiệt độ, độ ẩm, tốc gió,
bức xạ nhiệt… đã có ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của người lao động
nông nghiệp. Mùa đông nhiệt độ giảm song độ ẩm ngoài đồng ruộng ở nước
ta còn cao nên sẽ làm cho cảm giác rét buốt tăng lên, mất nhiều nhiệt. Mùa hè
bức xạ nhiều nên nhiệt độ ngoài đồng ruộng nhiều khi cao hơn nhiệt độ da ở
cơ thể con người gây cản trở cho quá trình điều hoà thân nhiệt. Hơn nữa nhiệt
độ, độ ẩm cao càng làm cho việc thoát nhiệt khó khăn, dễ gây tích nhiệt hoặc
mất quá nhiều mồ hôi kèm theo mất muối khoáng gây cản trở cân bằng thể
dịch. Do lao động thủ công, lao động đơn giản nên nhiều khi năng lượng tiêu
hao lớn có khi tới 3000- 4000 Kcalo [5], [7].
Sự tiếp xúc với các yếu tố vi sinh vật, kí sinh trùng gây bệnh là một đặc
thù của nhiều nước nhiệt đới. Môi trường lao động chứa nhiều loại vi sinh vật
gây bệnh từ phân gia súc và gia cầm chưa được xử lý. Các loại vi nấm, kí sinh
trùng gây bệnh tồn tại ở môi trường tự nhiên và tiếp cận với người lao động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
dễ gây các bệnh như các loại nấm da, tóc và ký sinh trùng đường ruột. Dùng
nhiều hoá chất là phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật nếu thiếu an toàn trong
sử dụng và bảo quản làm cho người nông dân có thể dễ dàng bị nhiễm độc
hoặc ảnh hưởng không tốt tới sức khoẻ [6], [8], [29], [44], [56]. Người nông
dân cũng có thể bị say nắng, say nóng cũng như mắc một số các bệnh mạn
5
lao động thủ công nặng nhọc còn chiếm tỷ lệ cao, nguy cơ chấn thương khi
chăm sóc gia súc, có khả năng lây nhiễm cao bởi vi sinh vật và các yếu tố sinh
học có hại. Các yếu tố vật lý có hại như ồn, rung cũng xảy ra trong sử dụng
máy say sát thức ăn gia súc. Những năm gần đây các nghiên cứu trên thế giới
về sức khoẻ người chăn nuôi gia súc gia cầm đã cho thấy những tác động tổng
hợp cộng hưởng của các yếu tố có hại như bụi, hơi khí độc, vi sinh vật và
nấm, mùi khó chịu nên đã ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động rõ rệt,
ngay cả khi các yếu tố bụi, hơi khí độc thấp hơn TCVSCP nhiều lần [7],
[12], [45].
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển
mạnh mẽ, số lượng đầu gia súc và đàn gia súc tăng nhanh, đem lại hiệu quả
kinh tế cao cho nông dân. Tuy nhiên, các loại dịch bệnh liên tiếp sảy ra cũng
gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc và nguy hiểm hơn là nhiều bệnh
của gia súc còn lây sang người, gây những tổn thất nghiêm trọng. Mấy chục
năm qua, trên thế giới đã phát hiện ra hơn 30 loại bệnh truyền nhiễm mới như
sốt xuất huyết Hecbôla, bò điên, lở mồm long móng, viêm não Nipath, các
bệnh này đều liên quan giữa động vật và người. Thông thường, vật nuôi có
thể truyền bệnh sang cho người qua virút, vi khuẩn và qua một số côn trùng
ký sinh do đó việc hiểu biết về các căn bệnh này và việc phòng chống các căn
bệnh này là rất cần thiết. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa bệnh, bảo vệ sức khỏe
cho con người mà còn giảm thiểu tối đa các thiệt hại do các bệnh đó gây ra
[16], [17], [27], [28].
1.2. Các bệnh thƣờng gặp ở ngƣời làm nông nghiệp
1.2.1. Say nóng (hội chứng quá nhiệt cấp)
Là hội chứng xảy ra khi nhiệt độ không khí và độ ẩm cao, ít gió, lao động
nặng, quá trình thải nhiệt bị cản trở gây tích nhiệt cao trên 38,5
0
+ Có rối loạn phản xạ, nói mê sảng, ảo ảnh, ghê rợn, co giật, hôn mê và
tử vong do liệt trung tâm hô hấp, tuần hoàn
1.2.3. Rối loạn bệnh lý do khí NH
3
NH
3
là sản phẩm phân giải của các hợp chất hữu cơ và vô cơ có chứa Nitơ đặc
biệt là urê. NH
3
là chất không màu, có mùi khai, có tác dụng kích thích mạnh
niêm mạc đường hô hấp, niêm mạc mắt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
NH
3
hoà tan vào niêm mạc đường hô hấp, đường tiêu hoá và niêm mạc
mắt gây kích thích trực tiếp lên các niêm mạc, gây co khí quản, viêm phổi,
viêm phế nang. NH
3
vào máu làm hàm lượng kiềm dự trữ trong máu tăng lên
làm PH máu thay đổi, cơ thể trúng độc kiềm, kích thích thần kinh trung ương
gây tê liệt hô hấp, co giật toàn thân.
NH
3
+ Hb tạo ra hêmatin làm mất khả năng vận chuyển O
2
của Hb, gây
2
S sẽ gây ra một số bệnh như: viêm mắt, phổi, dạ
dày mãn tính. Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Ngà và cộng sự thì hàm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
lượng H
2
S trong môi trường dân cư có nhiều chất hữu cơ tại Hà Nội trong
không khí thường vượt giới hạn cho phép từ 3 đến 10 lần và đã gây ảnh
hưởng làm gia tăng nhiều dấu hiệu bệnh lý mạn tính. Do vậy, đối với người
chăn nuôi phải có công tác bảo hiểm tốt, tránh sự xâm nhập của khí độc nói
chung và H
2
S nói riêng [18], [47], [48], [49], [50], [52].
1.2.5. Vi sinh vật trong không khí
Trong không khí luôn tồn tại và phát triển nhiều loại vi sinh vật. Tuỳ điều
kiện nhiệt độ, độ ẩm từng vùng, đặc tính thức ăn, các chất tăng trưởng,
phương pháp chăn nuôi và tính chất của bụi trong không khí mà số lượng
chủng loại vi sinh vật có khác nhau [1], [9], [32], [36].
Sự phân bố của vi sinh vật trong không khí cũng khác nhau tuỳ từng
vùng. Tuy không khí không phải là môi trường sống của vi sinh vật nhưng tại
đó có thể có rất nhiều vi sinh vật tồn tại. Nguồn gốc của những vi sinh vật này
là từ đất, từ nước, từ con người, động vật, thực vật, theo gió, theo bụi phát tán
đi khắp nơi trong không khí. Một hạt bụi có thể mang theo rất nhiều vi sinh
vật, đặc biệt là những vi sinh vật có bào tử có khả năng tồn tại lâu trong
không khí. Nếu đó là những vi sinh vật gây bệnh thì đó chính là nguồn gây
bệnh có trong không khí. Ví dụ như các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp có
Những người có nguy cơ mắc bệnh cao là nông dân, những người sống
ở rừng hoặc gần rừng, người nuôi thú hoang dã, cán bộ thú y các nhà địa chất,
người đi du lịch, đi săn, người làm nghề giết mổ gia súc, gia cầm chế biến thịt
sữa, lông da động vật, nguời bán thịt Bệnh dịch có thể trầm trọng thêm do
việc di dân, tái định cư, khai hoang đến những vùng đất mới [7], [51].
1.3.1. Bệnh đóng dấu lợn
Đóng dấu lợn là một trong 4 bệnh đỏ khá phổ biến ở lợn, vật bị bệnh dưới da
nổi cộm; sung huyết màu đỏ, hình vuông hoặc hình tròn như con dấu son
đóng trên da nên gọi là bệnh " đóng dấu ". Bệnh do một loại trực trùng nhỏ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
không di động, gram âm gây ra; trong thiên nhiên tồn tại phổ biến ở nhiều loài
vật, đặc biệt là lợn. Bệnh được truyền sang người dưới 3 thể: khu trú dưới da,
khuyếch tán dưới da và hiếm gặp là bệnh toàn thân, thường gặp là viêm nội
tâm mạc.
Tác nhân gây bệnh do trực khuẩn Erysipelohrixrhu siopathiae, bệnh
xảy ra rải rác ở nhiều nơi trên thế giới. Tại những nơi mà điều kiện vệ sinh
chăn nuôi kém, lợn phải sống trong chuồng luôn có phân rác ẩm ướt, bệnh dễ
phát sinh. Nguyên nhân là do vi khuẩn có sẵn trong hạch amydal của lợn bài
tiết ra, nó có thể sống trong nền chuồng ẩm vài ngày. Khi lợn gặp Streess
(thời tiết thay đổi, thiếu thức ăn…) bệnh sẽ phát sinh.
Bình thường bệnh chỉ xuất hiện với những ca lẻ tẻ, đôi khi có thể thành
dịch địa phương và giết hại khá nhiều lợn. Chuồng nuôi bị ô nhiễm cũng vô
tình thành ổ chứa mầm bệnh.
Người lây bệnh do tiếp xúc với động vật có bệnh hoặc sản phẩm của
chúng. Đặc biệt khi da bị trày sước, hoặc khi tiêu thụ sản phẩm động vật chưa
nấu chín thì nguy cơ mắc bệnh càng cao.
vào những loại bệnh truyền từ động vật sang người.
Nhìn chung bệnh lao phân bố rộng rãi trên toàn thế giới, trừ một số
nước phát triển đã thanh toán được bệnh lao trên quy mô toàn quốc hoặc từng
vùng. Sự truyền bệnh lao từ bò sang người chủ yếu qua tiêu thụ sữa của
những con bò bị bệnh lao mà không được khử trùng bằng phương pháp
Pasteur. Người nuôi bò có thể bị nhiễm bệnh khi tiếp xúc trực tiếp với con vật
có bệnh, hoặc do hít thở phải vi khuẩn qua không khí. Trong lò mổ người giết
mổ gia súc có thể bị lây bệnh qua tiếp xúc với phủ tạng, thịt của vật bị bệnh.
Bệnh lao truyền từ động vật sang người chủ yếu ở thể lao phổi, còn lao ngoài
phổi rất hiếm gặp [32], [38].
1.3.4. Bệnh do liên cầu khuẩn
Có nhiều nhóm liên cầu khuẩn gây bệnh ở động vật nhưng chỉ có 2 loài được coi
là bệnh truyền từ động vật sang người là Streptococcus suis và S. zooepidemmicus.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Các vi sinh vật này gây bệnh trên đường hô hấp, sinh dục, thần kinh ở nhiều
loài gia súc và từ đó truyền các bệnh tương ứng sang người. Kháng sinh
Penicillin là thuốc chữa bệnh hiệu quả kể cả gia súc và người [31].
Ở ngựa, trâu, bò mắc bệnh: con vật ủ rũ kém ăn hoặc bỏ ăn, sốt nhẹ, ho
khan từng cơn; bầu vú, núm vú sưng, đau, giảm tiết sữa, sữa biến chất. Ở lợn:
lợn con từ 3-20 tuần tuổi dễ mắc nhất, nhiều khi gây viêm não cho cả ổ lợn.
Biểu hiện chính là bỏ ăn, đi lại khó khăn, sốt, liệt rồi chết, có khi nôn mửa, co
giật [32].
1.3.5. Bệnh Listeriosis
Bệnh Listeriosis xảy ra ở nhiều loài động vật, kể cả ở người. Bệnh thường tác
động vào đường sinh dục của những động vật và phụ nữ có thai, vào hệ thần
bảo quản không tốt. Sự lây lan giữa người với người rất dễ sảy ra như trong
bệnh viện. Bệnh ở người biểu hiện bằng viêm ruột cấp tính.
Trên thế giới, gia súc và gia cầm từ nhỏ đến lớn đều rải rác có bệnh. Ở
những nước có điều kiện thú y kém, điều kiện vệ sinh kém, đôi khi bệnh phát
sinh thành những ổ dịch lớn và ở lợn thường ghép với dịch tả lợn. Những
chủng vi khuẩn mà gia súc mắc phải có liên quan đến người lại thường không
rõ triệu chứng. Điều đó gây khó khăn cho sự phát hiện bệnh ở động vật và
việc phòng ngừa cho người [32].
1.3.7. Bệnh than
Bệnh than là bệnh truyền nhiễm cấp tính chung cho nhiều loài động vật và
người. Bệnh gây thành các ổ dịch lẻ tẻ ở gia súc với cái chết nhanh đột ngột,
chết có bụng chướng to nhanh, các lỗ tự nhiên thường chảy máu đen như
nhựa đường, máu khó đông. Tỷ lệ chết rất cao nếu không chữa chạy kịp thời.
Nếu mổ gia súc chết do bệnh than, vi khuẩn than tiếp súc với ôxy trong không
khí sẽ biến thành nha bào có sức đề kháng cao với các chất sát trùng và có thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
tồn tại trong đất tới 50 năm mà vẫn còn khả năng gây bệnh. Những người
tham gia mổ thịt những con vật bị bệnh than sẽ làm dịch lây lan rộng ở gia
súc và có nhiều người bị lây bệnh, chủ yếu ở thể ngoại với những mụn loét
sâu có đáy màu đen. Nếu mắc bệnh ở thể phổi hoặc thể thể ruột có thể dẫn tới
tử vong.
Trong tự nhiên, bệnh than thường sảy ra vào mùa mưa từ tháng 4 đến
tháng 9. Bệnh có khuynh hướng khu trú ở một số vùng nhất định gọi là "Vùng
than" tại một số tỉnh trung du và miền núi. Tại Việt Nam, nhưng năm 1970 trở
về trước có một số ổ dịch nhưng hiện nay bệnh đã được kiểm soát. Bệnh
thường sảy ra ở một số vùng do xác chết vì bệnh than không được thiêu đốt
các nước châu Á: Trung Quốc, Lào, Campuchia, Philippin Ở nước ta bệnh
có ở tất cả các vùng sinh thái, từ miền Bắc, miền Trung, miền Nam.
Sán ký sinh và di chuyển trong ruột non của lợn làm tổn thương niêm
mạc, gây viêm ruột do nhiễm khuẩn thứ phát. Thể hiện rõ nhất ở lợn là: sán
chiếm đoạt dinh dưỡng, làm cho lợn gầy còm, suy nhược giảm tăng trọng ở
lợn thịt, giảm tiết sữa và ảnh hưởng đến sinh sản ở lợn nái. Người bị nhiễm
sán lá ruột, thể hiện gày còm, thiếu máu và rối loạn tiêu hoá có thể chết. Bệnh
sán lá ruột chỉ tồn tại và lưu hành trong các vùng nóng ẩm, có các loài ốc ký
chủ trung gian sinh sống, vì không có ốc ký chủ thì sán không thể hoàn thành
chu kỳ sinh học [12], [27].
1.5. Bệnh ở vật nuôi truyền sang ngƣời do virút
1.5.1. Bệnh dại ở động vật
Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm chung của chó, mèo và nhiều loại thú
nuôi, thú hoang khác và người, do virút dại gây ra trạng thái điên loạn, bại liệt
và tử vong cao (100%) cho súc vật và người bệnh. Ở nước ta, bệnh dại còn rất
phổ biến, có ở tất cả các tỉnh từ Bắc đến Nam, xảy ra rải rác quanh năm
nhưng tập trung ở các tháng nóng ẩm từ mùa hè đến mùa thu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Virút xâm nhập vào cơ thể súc vật và người từ vết cắn thường do chó
dại, mèo dại. Đầu tiên virút tìm đến dây thần kinh vận động gần vết thương,
từ đó về tuỷ sống và vào đại não, phá huỷ đại não và tuỷ sống, gây viêm não
tuỷ cấp làm tử vong vật bệnh và người bệnh. Thời gian di chuyển từ vết
thương về đại não tuỳ thuộc vết cắn gần hay xa thần kinh trung ương.
Người bị bệnh dại thời kỳ ủ bệnh thể hiện: bồn chồn, lo lắng, đi lại,
không yên, kém ăn, không ngủ được. Sau đó người bệnh điên loạn đập phá,
hú hét, co giật, chảy rớt dãi, sợ ánh sáng và kết thúc tử vong trong trạng thái
đổi công việc. Trong các tài liệu cổ xưa của Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập, La
Mã, Hy Lạp đã đề cập nhiều bệnh lây từ động vật sang người như dịch hạch,
sốt vàng. Người Ấn Độ đã nhắc nhở trong y văn là nên bỏ nhà nếu thấy chuột
chết và rơi từ mái nhà xuống. Về sau này ta biết đó là do một bệnh rất nguy
hiểm lây từ chuột sang người. Trong thời kỳ này, người ta cũng bắt đầu biết
tìm kiếm những giải pháp ngăn ngừa sự lây bệnh từ động vật sang người bằng
nhiều biện pháp như cách ly, vệ sinh môi trường. Vào thế kỷ XVII người ta
đã biết nông dân chăn nuôi gà ở nước Anh có thể bị mắc một số bệnh hô hấp.
Trong các tài liệu y văn và thú y cũng đã mô tả nhiều bệnh có thể lây từ động
vật sang người như lao, sốt làn sóng, cúm, than Vào thế kỷ XIX và thế kỷ
XX nhiều công trình nghiên cứu môi trường và sức khoẻ người chăn nuôi đã
được tiến hành và hàng loạt các ngành chuyên môn, môn học liên quan đã ra
đời như: vi sinh vật thú y, vi sinh vật gây bệnh ở người, bệnh truyền nhiễm
thú y, bệnh truyền nhiễm ở người… Các ngành khoa học trên đã góp phần
quan trọng trong công tác bảo vệ và tăng cường sức khoẻ người nông dân
[14], [22], [23], [31].
1.6.2. Nghiên cứu trong nước
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu trong nước, thì các tác giả Việt Nam đã đặt
vấn đề nghiên cứu các vấn đề sức khoẻ nông thôn, nông nghiệp ngay từ khi