Luận văn: THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG pot - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC TRẦN VĂN SINH
THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP
VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI
HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Chuyên ngành: Y học Dự phòng
Mã số: 60 72 73
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ VĂN HÀM
Thái Nguyên, 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, các bộ môn, các giảng viên
Trường đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình truyền đạt
những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
Luận văn.
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS

1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN
3
1.1.
Sức khoẻ và bệnh tật của người lao động nông nghiệp
3
1.2.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh tật
7
1.3.
Một số đặc điểm kinh tế, xã hội của huyện Lục Ngạn
14
1.4.
Tình hình nghiên cứu sức khoẻ, bệnh tật của người lao động
16
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
20
2.1.
Đối tượng nghiên cứu
20
2.2.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
20
2.3.
Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu
20
2.4.
Chỉ tiêu nghiên cứu
23
2.5.

4.2.
Thực trạng một số chứng, bệnh thường gặp
45
4.3.
Một số yếu tố liên quan đối với các chứng, bệnh thường gặp
50
KẾT LUẬN
54
KIẾN NGHỊ
55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
56
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ATVSLĐ:
An toàn vệ sinh lao động
BHLĐ:
Bảo hộ lao động
BVTV:
Bảo vệ thực vật
CS:
Cộng sự
HCBVTV:
Hóa chất bảo vệ thực vật
NXB:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC BẢNG

Nội dung Trang
Bảng 3.1. Đối tượng nghiên cứu phân theo trình độ học vấn
26
Bảng 3.2. Đối tượng nghiên cứu phân theo tuổi, giới
26
Bảng 3.3. Đối tượng nghiên cứu phân theo tuổi nghề
27
Bảng 3.4. Thực trạng sử dụng BHLĐ ở đối tượng nghiên cứu
27
Bảng 3.5. Tình hình sử dụng HCBVTV
28
Bảng 3.6. Một số chứng bệnh thường gặp
29
Bảng 3.7. Tỷ lệ mắc chứng đau đầu theo tuổi đời
30
Bảng 3.8. Tỷ lệ mắc chứng đau đầu theo tuổi nghề
30
Bảng 3.9. Tỷ lệ mắc chứng mất ngủ theo tuổi đời
31
Bảng 3.10. Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi họng mạn tính theo tuổi đời
32

viêm loét dạ dày – tá tràng
39
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh
viêm da dị ứng
39
Bảng 3.24. Mối liên quan giữa trình độ văn hoá với bệnh viêm kết mạc
mắt
40
Bảng 3.25. Mối liên quan giữa trình độ văn hoá với bệnh viêm da dị
ứng
40


là mô hình sản xuất hàng hoá có hiệu quả. Tuy nhiên những vấn đề về môi
trường có ảnh hưởng tới sức khỏe, phát triển bền vững và những phát sinh nội
tại đang đòi hỏi chúng ta về sự cần thiết phải có sự quan tâm, đánh giá.
Quá trình canh tác nông nghiệp nói chung, trồng vải nói riêng luôn luôn
tạo ra sự giao lưu, chuyển đổi của các thành phần sẵn có về môi trường sinh
thái. Những chất mà con người đưa vào môi trường theo mục đích nâng cao
hiệu quả kinh tế cho cây vải bao gồm các sản phẩm từ phân bón, hoá chất trừ
sâu, diệt cỏ, diệt chuột và các loại hoá chất có tác dụng đến quá trình sinh
trưởng đều đáng phải quan tâm. Lợi ích của phân bón, hoá chất trừ sâu diệt cỏ
và các hoá chất có tác dụng đến quá trình sinh trưởng của cây nông nghiệp đã
được khẳng định từ thời thượng cổ. Tuy nhiên những bất cập, ảnh hưởng có
hại của phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật đã và đang là vấn đề khó giải
quyết của các nhà khoa học cũng như cả cộng đồng, đặc biệt là sự ảnh hưởng
xấu tới môi trường sống và sức khoẻ của con người (dẫn từ [16], [18]).
Bắc Giang là tỉnh miền núi có diện tích tự nhiên 3.823,3 km
2
, trong đó
diện tích nông nghiệp là 260.906 ha. Năm 2007 cả tỉnh Bắc Giang có 2.935
trang trại, tăng 2.549 trang trại so với năm 2002. Các trang trại đã thu hút, giải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

quyết việc làm cho 8.842 lao động, trong đó có 3.908 lao động thường xuyên.
Đặc biệt đối với cây vải đã hình thành vùng sản xuất hàng hoá lớn nhất cả
nước với diện tích là 39.835 ha, tổng sản lượng đạt 228.000 tấn, tăng gấp 4
lần so với năm 2002, góp phần quan trọng vào việc xoá đói, giảm nghèo ở
nhiều địa phương trong tỉnh (dẫn từ [23], [33], [34], [35]).
Khu chuyên canh vải đã tạo ra một môi trường sinh thái mới bao gồm
các sinh vật sẵn có đã có sự thay đổi về tỷ lệ, đồng thời đã tăng tỷ lệ một số
sinh vật mới phù hợp với môi trường như các loại chim ăn quả tăng lên, quần

yếu tố sinh học như di truyền, thể chất. Muốn có sức khoẻ tốt phải tạo ra môi
trường sống lành mạnh và đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực, chủ động của
mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Nghề nông ở nước ta cũng chịu nhiều ảnh hưởng, nhiễm nhiều bệnh tật
như các nghề khác do tính đa dạng của công việc. Có rất nhiều bệnh mang
tính chất đặc thù đối với đối tượng lao động nông nghiệp. Bệnh nhiễm ký sinh
trùng là bệnh thường gặp nhất của nhà nông như các viêm nhiễm ngoài da do
nấm, vi trùng, ấu trùng sán vịt…Các bệnh đường ruột cũng thường gặp ở
người lao động bởi họ phải làm việc trong môi trường thiên nhiên và tiếp xúc
nhiều với tác nhân gây bệnh đường tiêu hoá. Theo nghiên cứu của một số tác
giả trong nước cho thấy tỷ lệ người lao động nông nghiệp, nông thôn mắc các
bệnh giun là khá cao, đặc biệt là các bệnh giun đũa (50 – 80%), các bệnh do
giun móc (20 – 30%). Nguyên nhân của sự gia tăng bệnh này là do việc xử lý
phân không tốt, sử dụng phân còn tồn tại nhiều trứng giun như phân tươi,
phân chưa ủ trong canh tác nông nghiệp (dẫn từ [12]).
Môi trường nông nghiệp, nông thôn đang phải đối mặt với nhiều vấn đề
ô nhiễm như ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không
khí. Không riêng gì ở thành phố và các khu công nghiệp mà hiện nay ở địa
bàn nông thôn cũng đang là mối quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

hội. Các chất thải sinh hoạt không được xử lý, phân hữu cơ được sử dụng bừa
bãi trong nông nghiệp khi chưa ủ đủ thời gian. Việc sử dụng phổ biến các loại
phân này ở hầu hết các địa phương trong cả nước, đang hàng ngày phân huỷ
ra các chất hoá học gây ô nhiễm môi trường. Tình trạng ô nhiễm không khí ở
môi trường lao động nông nghiệp thường cao hơn các khu vực khác, bởi trong
quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ sản phẩm cuối cùng là CO
2
và các khí

[5], [6], [8], [10], [14].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.1.1. Bệnh do khí hậu thời tiết
Người nông dân nói chung và người dân chuyên canh vải nói riêng cũng
dễ bị say nắng, say nóng và các bệnh khác do điều kiện vi khí hậu bất thường,
thậm chí có người chết. Bệnh say nắng là do tác động của bức xạ cực tím tác
động vào khu vực trung tâm nằm ở hành não. Bệnh say nóng là do tích nhiệt
trong quá trình lao động ở môi trường nóng bức. Do không được quan tâm
đúng mức nên đã có nhiều trường hợp bị ảnh hưởng hoặc đã xảy ra các rối
loạn bệnh lý lâu ngày không được phát hiện và xử lý kịp thời. Nhóm các bệnh
có liên quan đến môi trường lao động sản xuất ở nông thôn có rất nhiều và
cần phải nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn (dẫn từ [17], [24]).
1.1.2. Các bệnh hô hấp
Các nghiên cứu trong nước cho thấy mô hình bệnh tật ở nước ta vẫn là
mô hình của những nước nghèo, mà chủ yếu là bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh
dưỡng. Trong thực tế thì các bệnh hô hấp ở nông dân luôn luôn cao. Bởi vì
nhiễm khuẩn hô hấp dễ mắc hơn các nhiễm khuẩn khác do diện tích tiếp xúc
của bộ máy hô hấp với môi trường là cao nhất trong cơ thể. Suy dinh dưỡng
có tỷ lệ cao trong cộng đồng nông dân nước ta, làm cho miễn dịch của con
người bị giảm thiểu, đặc biệt là miễn dịch chống các bệnh nhiễm trùng thường
gặp. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nước ta còn tương đối cao, cho nên miễn dịch
của cơ thể sẽ bị kém so với người bình thường trong đó có miễn dịch đối với
các bệnh nhiễm trùng do thiếu đạm, thiếu vitamin A… Nhiễm khuẩn hô hấp
cấp vẫn là bệnh hay gặp trong cộng đồng (dẫn từ [11], [13]). Một số loại
HCBVTV tác động trực tiếp lên tế bào gây kích thích và cũng huỷ hoại tế bào
niêm mạc đường hô hấp gây bệnh đã được nghiên cứu nhiều. Do đó các bệnh
hô hấp cũng thường gặp ở người nông dân nói chung và nông dân chuyên
canh vải như viêm phế quản, viêm phổi…


1.2. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến sức khỏe, bệnh tật của ngƣời lao động
nông nghiệp
1.2.1. Môi trường nông nghiệp, nông thôn
Trong những năm qua nhờ thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp và nông thôn mà sản xuất nông nghiệp đã đạt được thành
tựu to lớn, góp phần tăng tổng sản phẩm trong nước, bảo đảm an ninh lương
thực, góp phần quan trọng cải thiện đời sống nhân dân. Cùng với sự nỗ lực
của nhân dân, nhà nước đã giành nguồn đầu tư đáng kể để xây dựng cơ sở hạ
tầng, đổi mới phương thức sản xuất, ứng dụng công nghệ mới, đầu tư thiết bị
máy móc, điện, thuốc bảo vệ thực vật và cải thiện điều kiện lao động trong
sản xuất nông nghiệp.
Trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, ngành sản xuất
và kinh doanh hoá chất phát triển rất mạnh, đặc biệt là hoá chất dùng trong
nông nghiệp. Hoá chất dùng trong nông nghiệp được sản xuất và sử dụng
nhiều vì lợi ích kinh tế song do việc sử dụng không đúng kỹ thuật, không đảm
bảo an toàn vệ sinh lao động đã gây nên những ảnh hưởng bất lợi đến môi
trường và sức khoẻ cộng đồng. Môi trường sống đặc biệt là môi trường nông
nghiệp, nông thôn đang là một vấn đề bức xúc bởi rất nhiều nguyên nhân
trong đó có khối lượng lớn hoá chất dùng làm phân bón và hoá chất bảo vệ
thực vật thải ra đồng ruộng, thậm chí cả các khu vực dân cư sinh sống [23].
Các hoá chất mà con người sử dụng trong nông nghiệp hiện nay bao gồm
rất nhiều loại sản phẩm như phân hoá học (đạm, lân, kali…), HCBVTV, diệt
cỏ, diệt chuột và các loại hoá chất có tác dụng kích thích sinh trưởng cây
trồng, kích thích ra hoa, đậu quả, tươi lâu. Hiện nay Việt Nam đang được coi
là một quốc gia phát triển về nhiều mặt, đặc biệt là chúng ta đang đứng ở vị trí

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

nước xuất khẩu gạo và cà phê thứ 2 trên thế giới. Chúng ta cũng đang đứng ở

đổi mới là sự chuyển đổi nền kinh tế được điều chỉnh bằng cơ chế quản lý tập
trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế trang trại
phát triển đã mở ra một hướng làm ăn mới, hình thành đội ngũ nông dân năng
động, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam. Nhưng nền kinh tế
Việt Nam hiện nay vẫn đang phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp là chính.
Nông nghiệp hiện nay vẫn dựa trên một nền tảng nông nghiệp còn lạc hậu, vai
trò của khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp còn hạn chế. Do đó ảnh hưởng
đến năng suất lao động cũng như sức khoẻ người nông dân. Nước ta có trên
70% là lao động nông nghiệp trong số gần 40 triệu người ở tuổi lao động, sản
phẩm quốc nội nhờ nông nghiệp mà tăng nhanh, người dân được no đủ, vững
bền. Lao động nông nghiệp ở nước ta hiện nay đang dựa trên một nền tảng
nông nghiệp lạc hậu để lại với trình độ dân trí chưa cao, nền khoa học kỹ
thuật vẫn còn đóng một vai trò khiêm tốn, ảnh hưởng đến năng suất lao động
cũng như sức khoẻ người nông dân. Do vậy các vấn đề sức khoẻ của người
lao động nông nghiệp là vấn đề đáng nhận được sự quan tâm nhiều của các
nhà quản lý cũng như các thày thuốc.
Lao động nông nghiệp nước ta có đặc điểm lao động ngoài trời và phụ
thuộc nhiều vào yếu tố thiên nhiên cho nên cần lưu ý quan tâm như điều kiện
khí hậu thời tiết khắc nghiệt, lao động thủ công đơn giản thiếu bảo hộ là phổ
biến. Trong quá trình lao động người nông dân phải tiếp xúc nhiều với các tác
nhân gây ảnh hưởng tới sức khoẻ, đặc biệt là các vi sinh vật, phân bón,
HCBVTV nguy hại và các hoá chất có tác dụng sinh trưởng mỗi vùng, mỗi
công việc chuyên canh đặc thù khác nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Người lao động nông nghiệp chủ yếu là lao động ngoài trời. Các phương
tiện bảo vệ tránh nắng, tránh mưa và các yếu tố khí hậu bất lợi thường không
đạt yêu cầu bảo vệ so với các loại hình lao động khác. Bức xạ mặt trời, đặc
biệt là thời gian giữa ngày có nhiều tia cực tím nên khả năng gây kích thích

nghị Quốc tế về y học lao động và vệ sinh môi trường lần thứ III tại Hà Nội
(2008) tỷ lệ các nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ đối với người lao động
nông nghiệp chỉ chiếm 16,8% trong tổng số các báo cáo khoa học được trình
bày tại hội nghị. Đất nước ta có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nên
các nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ đối tượng này cần được chú trọng và
đầu tư nhiều hơn.
Tiếp xúc nhiều với các tác nhân gây bệnh đặc biệt là các vi sinh vật, ký
sinh trùng và hoá chất trừ sâu nguy hại cũng là một đặc thù. Có rất nhiều sinh
vật cũng như vi sinh vật là nguy cơ đối với sức khoẻ người lao động nông
nghiệp. Các loại côn trùng khá phong phú trong điều kiện thiên nhiên vùng
nhiệt đới của nước ta. Ngoài các sinh vật có khả năng gây hại trực tiếp như
ong, ruồi, rắn… Các loại côn trùng còn bắt buộc chúng ta phải sử dụng hoá
chất tiêu diệt với hàng chục ngàn tấn hoá chất hàng năm do chúng phá hoại
rau màu. Do điều kiện khí hậu và thời tiết không ổn định tạo điều kiện cho
côn trùng phát triển nên người nông dân vì mục đích bảo vệ rau màu đã phải
dùng quá nhiều hoá chất trừ sâu, tần suất sử dụng cao. Có rất nhiều vi sinh vật
gây bệnh tồn tại trong đất, nước thậm chí trong không khí mà người nông dân
thường xuyên phải tiếp xúc trong quá trình lao động. Các vi sinh vật gây bệnh
chưa bị diệt còn tồn tại trong đất và nước đủ là nguy cơ nhiễm trùng đường
tiêu hoá, gây nên hậu quả là trên 50% số người dân ít nhất bị nhiễm trùng
đường tiêu hoá 1 lần/năm (dẫn từ [13], [46], [48], [49], [55]).
Các vi sinh vật gây bệnh thường có thời gian tồn tại ở môi trường 1 - 2 tuần,
hơn nữa việc sử dụng phân bón thường xuyên sẽ làm cho môi trường thường
xuyên có vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hoá, da, niêm mạc và khó khăn cho
việc phòng chống bệnh này đối với người lao động nông nghiệp. Các nấm gây

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

bệnh rất phổ biến trong môi trường lao động nông nghiệp do phổ nhiệt độ phù
hợp cho việc tồn tại phát sinh phát triển của nấm là tương đối rộng (10 -

toàn. Trong sử dụng và bảo quản hoá chất, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,
các hoá chất có tác dụng đến quá trình sinh trưởng của cây vải cũng có tác
dụng xấu như các cây trồng khác.
Trong các vấn đề môi trường thì tình hình ô nhiễm môi trường do
HCBVTV ở nước ta thực sự là vấn đề cần quan tâm vì tính chất nguy hiểm
trực tiếp của nó. Cũng như sử dụng phân bón, tổng lượng HCBVTV sử dụng
không phải quá lớn song lại rất tập trung vào một số vùng, mà phương pháp
sử dụng, bảo quản và lưu hành không được kiểm soát, không đảm bảo an toàn
vệ sinh lao động. Mặt khác, khác với phân bón (không kể yếu tố vệ sinh)
HCBVTV thường gây ra hiệu ứng trực tiếp tác động vào con người, động vật,
gia súc, gia cầm cũng như nhiều loài sinh vật khác. Theo Cục Bảo vệ thực vật,
hàng năm cả nước sử dụng hơn 50.000 tấn HCBVTV các loại. Loại thuốc sử
dụng chủ yếu là Monitor, Dipterex, Bassa, DDT, Wofatox, Validacin. Tuy đã
có lệnh cấm sử dụng nhóm thuốc DDT, Heptaclo (thuộc nhóm clo hữu cơ)
song trong thực tế người dân vẫn sử dụng nhiều [15].
Chính vì phương pháp sử dụng, loại thuốc sử dụng, trình độ hiểu biết của
người sản xuất còn yếu kém nên dư lượng thuốc BVTV trong sản phẩm là
một mối nguy hại rất to lớn. Rất nhiều trường hợp ngộ độc thức ăn do ăn phải
dư lượng vết của HCBVTV trong rau quả đã được biết đến trên toàn quốc.
Trên thực tế hiện tượng sử dụng bất cẩn ở nhiều nơi đã gây nên tình trạng ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng. Kết quả giám định dư lượng thuốc BVTV ở
tỉnh Khánh Hoà cho thấy: trong 423 mẫu đất phân tích có 39% số mẫu chứa
dư lượng hoá chất trừ sâu vượt ngưỡng cho phép từ 2 – 40 lần, trong 120 mẫu
nước, có 36,6% số mẫu chứa dư lượng hoá chất trừ sâu vượt ngưỡng cho phép
từ 2 – 50 lần [7]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

* Sinh thái mất sự đa dạng

và cành giống vải thiều đạt hơn 60 tỷ đồng, sản lượng quả thu hoạch đạt
74.751 tấn năm 2003. Năm 2008 diện tích vải thiều tăng lên 19.192 ha và đạt
sản lượng 80.000 tấn quả tươi, giá trị thu nhập 450 tỷ đồng, tăng 8 tỷ so với
năm 2007. Cây ăn quả là thế mạnh của huyện Lục Ngạn trong việc phát triển
nông nghiệp hàng hóa. Do vậy công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người
lao động nói chung, người canh tác vải nói riêng tại huyện Lục Ngạn có vai
trò quan trọng vào thắng lợi đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội địa
phương (dẫn từ [2], [33]).
Huyện Lục Ngạn nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng
Đông Bắc được bao bọc bởi hai dải núi lớn là Bảo Đài và Huyền Đinh, huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nên có một số đặc điểm sau:
- Có lượng mưa thấp hơn so với các vùng khác trong tỉnh Bắc Giang.
Lượng mưa trung bình 1.321 mm, lượng mưa cao nhất 1.780 mm (tập trung
vào tháng 6, 7, 8) lượng mưa thấp nhất 912 mm (tập trung vào tháng 12, 1).
- Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,5
0
C, tháng cao nhất là 27,8
0
C (tháng 6),
tháng thấp nhất là 18,8
0
C (tháng 1, 2).
- Độ ẩm không khí trung bình năm là 81,9%, cao nhất là 85%, thấp nhất là 77%.
- Số giờ nắng bình quân cả năm là 1.729 giờ, bình quân giờ nắng trong
ngày là 4,4 giờ [30].
Do đặc điểm khí hậu của địa phương nên huyện Lục Ngạn rất phù hợp
với việc phát triển đa dạng các loại cây ăn quả, cây lâm nghiệp.
Song đến nay các nghiên cứu về sức khoẻ, bệnh tật của người nông dân
nói chung, người chuyên canh vải nói riêng còn ít. Hiện nay đang triển khai
một nghiên cứu "Dự án Hội chứng não cấp" tại tỉnh Bắc Giang của Viện Vệ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trong đó ô nhiễm mẫu đất chiếm 39%, ô nhiễm không khí chiếm 38,2% [15].
Hậu quả tất yếu của sự ô nhiễm trên đây là sức khoẻ của người lao động giảm
sút, các bệnh nghề nghiệp hay bệnh liên quan đến nghề nghiệp phát sinh và
phát triển làm cho tuổi thọ, tuổi lao động giảm đáng kể đối với người lao
động. Theo Đỗ Hàm, thì một số chứng bệnh thường gặp ở người tiếp xúc với
hoá chất bảo vệ thực vật là:
- Các dấu hiệu thường gặp là: mệt mỏi, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, tê
bì, kiến bò chiếm tỷ lệ 3,1- 48,1%.
- Tỷ lệ mắc các bệnh thần kinh, da liễu ở các nhóm nghiên cứu cao.
- Hoạt tính của enzym cholinesterase ở các đối tượng giảm [13].
Theo Trần Nguyễn Hoa Cương, nghiên cứu kiến thức, thực hành của
người trồng rau về an toàn sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật và một số yếu tố
ảnh hưởng tại 2 xã huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2005 cho thấy: vấn đề sử
dụng bảo hộ lao động giữa kiến thức và thực hành không đi đôi với nhau.
Trong quá trình pha và phun thuốc tỷ lệ nhận thức là 96,7%, trong khi đó tỷ lệ
thường xuyên sử dụng BHLĐ là 82,7%. Khẩu trang là loại phương tiện bảo
vệ cá nhân có tỷ lệ được sử dụng thường xuyên cao nhất (95%) còn các loại
phương tiện khác thì thấp hơn nhiều [4].
Khảo sát tồn dư HCBVTV trên rau tại Bắc Ninh năm 2001 cho thấy:
83% số mẫu rau muống, 68% số mẫu rau ngót và 100% số mẫu đậu đũa phát
hiện thấy có tồn dư HCBVTV, tuy nhiên lượng tồn dư này trong mức giới hạn
tối đa cho phép của Bộ Y tế. Tại Phú Thọ, khảo sát năm 2001 – 2002, trên
30,6% mẫu rau quả phát hiện thấy có tồn dư HCBVTV, trong đó 21,4% vượt
giới hạn tối đa cho phép (dẫn từ [18]).
Kết quả khảo sát năm 2002 tại vùng sản xuất rau của Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh đã làm người tiêu dùng thêm lo ngại về tính an toàn của sản
phẩm nông sản nói chung và của rau quả nói riêng [4].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status