Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an - Pdf 80

1. mở đầu

1.1. Đặt vấn đề
Trớc đây cũng nh hiện nay, thuốc bảo vệ thực vật đóng một vai trò
quan trọng trong việc bảo vệ an toàn cây trồng trớc sự tàn phá của các loài
gây hại. Một trong những chi phí cho các biện pháp phòng chống dịch hại cây
trồng, chi phí cho biện pháp hóa học bảo vệ thực vật hằng năm trên thế giới là
rất lớn. Cụ thể, Nguyễn Xuân Thành (1997) [18] cho biết năm 1940 toàn thế
giới phải chi đến 40 triệu USD cho công tác phòng chống dịch hại, năm 1955
là 275 triệu USD, đến năm 1970 đã lên tới 1 tỷ USD.
Phùng Minh Phong (2002) [17] cũng chỉ ra rằng, nhờ sử dụng hóa chất
bảo vệ thực vật mà ít nhất 20% sản phẩm nông nghiệp ở các nớc phát triển và
40-50% ở các nớc chậm phát triển không bị phá hoại bởi các loài gây hại.
Nh vậy, không thể không thừa nhận các mặt tích cực của hóa chất bảo
vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp và bảo vệ mùa màng, nông sản, đặc
biệt là Việt Nam, một nớc với hơn 80% dân c hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp và nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân. Song
trong quá trình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật con ngời đã quá lạm dụng
các mặt tích cực đó mà không chú ý mặt trái của chúng dẫn đến việc phá vỡ
hệ sinh thái gây hậu quả xấu, đi ngợc lại nỗ lực của con ngời nhằm cung
cấp đủ lợng thực, thực phẩm nuôi sống con ngời và tiến tới nâng cao chất
lợng sản phẩm lơng thực, thực phẩm, đáp ứng nhu cầu về thực phẩm sạch
đảm bảo sức khỏe cho con ngời.
Sự lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật hay sự thiếu hiểu biết về nó là
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong rau, quả,
lơng thực, thực phẩm, nguồn đất, nguồn nớc, ô nhiễm bầu không khí...tác
động trực tiếp đến sức khỏe, đời sống con ngời và những động vật khác. 1
Tình trạng ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới và Việt Nam

khía cạnh tồn d HCBVTV.
Đánh giá kết quả nghiên cứu theo một số thang tiêu chuẩn hiện hành.
1.3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Điều tra cơ bản về tình hình sử dụng HCBVTV tại địa bàn nghiên cứu
trong những năm gần đây.
Điều tra cơ bản về phơng thức chăn nuôi, cơ cấu và quy mô chăn nuôi,
nguồn thức ăn chủ yếu,...
Các mẫu thức ăn, nớc chăn nuôi
Các mẫu của một số cơ quan: mỡ, gan, thận của lợn nuôi tại địa phơng
và các mẫu thịt tiêu thụ tại địa phơng.

1.4. Địa bàn nghiên cứu
Huyện Nam Sách là một trong những huyện thuần nông với nghề trồng
lúa và cây hoa màu cùng với phát triển chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi lợn.
Nam Sách cũng là huyện mang những đặc điểm điển hình của khu vực đồng
bằng sông Hồng.
Trong huyện chúng tôi tập trung nghiên cứu tại hai xã: Hợp Tiến và ái
Quốc, đây là những xã có diện tích lớn, mật độ dân c cao đồng thời có phong
trào trồng trọt và chăn nuôi điển hình cho huyện. Ngoài ra xã Hợp Tiến là một
trong những xã có các hợp tác xã chăn nuôi lớn dới sự tác động của Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, dự án lu vực đồng bằng sông Hồng, hiện
nay phong trào chăn nuôi đang rất phát triển.

3

4
2. tổng quan tài liệu

2.1. Những hiểu biết cơ bản về hóa chất bảo vệ thực vật
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Có nhiều khái niệm khác nhau về hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV).
HCBVTV là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp hóa học
dùng để trừ sâu, bệnh, cỏ dại, loài gặm nhấm... gây hại cho cây trồng ngoài
đồng ruộng, nông sản trong các kho bảo quản và đợc gọi chung là sinh vật
hại cây trồng và nông sản, theo Trần Quang Hùng (1995, 1999) [12], [13].
Theo Lê Trung (1997) [22] và [57], FAO định nghĩa hóa chất bảo vệ thực
vật nh sau: "Thuốc trừ sâu là bất kỳ một chất hay hỗn hợp chất đợc dùng để
phòng, phá hủy hay diệt trừ bất kỳ loài vật nào kể cả vectơ gây bệnh của ngời
hay súc vật, những loại cây cỏ dại, hoặc động vật gây hại can thiệp vào quá
trình sản xuất, lu kho, vận chuyển hoặc tiếp thị sản phẩm, lơng thực, gỗ và
các sản phẩm từ gỗ, thức ăn gia súc. Thuật ngữ thuốc trừ sâu còn bao gồm
những chất dùng để điều hòa tăng trởng cây trồng, làm rụng lá, hút ẩm, chất
làm tha quả, cho chín sớm, những chất dùng trong thu hái hay vận chuyển.
Thuật ngữ thuốc trừ sâu không bao gồm phân bón, thức ăn gia súc, chất cho
thêm vào thực phẩm và thuốc cho súc vật".
2.1.2. Phân loại hóa chất bảo vệ thực vật
Có nhiều cách phân loại HCBVTV khác nhau, xin nêu ra một số cách
phân loại chủ yếu sau.
2.1.2.1. Phân loại dựa vào đối tợng phòng chống

Theo Lê Trung (1997) [22], HCBVTV đợc chia thành
Thuốc trừ sâu (insecticide)
Thuốc trừ nấm và vi khuẩn (fungicide, bactericide)
Thuốc diệt loài gặm nhấm (rodenticide, zoocide)
Thuốc trừ ký sinh trùng (acarcide, miticide)

Nhóm 10: Các hợp chất vô cơ.
Nhóm 11: Các chất chứa urê.
Nhóm 12: Các loại thuốc còn lại. 6
2.1.2.4. Phân loại theo nhóm độc

Bảng 2.1: Phân loại HCBVTV theo nhóm độc theo WHO
Độc cấp tính LD
50
(chuột nhà) mg/kg
Phân loại và ký hiệu
nhóm độc
Qua miệng (per os) Qua da (percutan)
I
a
. Độc mạnh 5 20 10 40
I
b.
Độc 5-50 20-200 10-100 40-400
II. Độc trung bình 50-500 200-2000 100-1000 400-4000
III. Độc ít 500-2000 2000-3000 >1000 >4000

2.2. Tình hình sản xuất và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
Theo Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23], từ lâu con ngời đã biết sử dụng
một số sản phẩm tự nhiên để diệt trừ sâu hại bảo vệ cây trồng nh các hợp chất
asen, đồng, các hợp chất chứa flo có nguồn gốc thực vật và dầu sa khoáng. Cũng
theo Nguyễn Xuân Thành (1997) [18]: thuốc trừ sâu thảo mộc là loại thuốc dân
gian đợc điều chế, chiết xuất từ thực vật, một trong những cây thuốc đợc sử

nớc đang phát triển.
Theo Agnes. Rola, Prablu. Pingali (1993) [54] chi phí cho thuốc trừ sâu
lúa ở một số quốc gia năm 1988 nh sau:
Bảng 2.2: Chi phí cho thuốc trừ sâu lúa ở một số quốc gia năm 1988 (triệu USD)
Tên nớc
Thuốc
trừ cỏ
Thuốc
trừ sâu
Thuốc
trừ nấm
Thuốc
khác
Tổng Tỷ lệ (%)
Nhật bản
570 455 375 20 1420 59,2
Hàn Quốc
48 89 95 3 235 9,8
Trung Quốc
11 108 35 0 154 6,4
Đài Loan
26 38 18 5 87 3,6
ấn Độ
18 51 14 3 85 3,5
Philipin
17 28 0 3 48 2,0
Việt Nam
2 9 2 0 13 0,5
HCBVTV ở Việt Nam đợc thể hiện qua bảng 2.3 9
Bảng 2.3: Số lợng hoạt chất HCBVTV đợc sử dụng ở Việt Nam (1991-1994)
1991 1992 1993 1994
Nhóm chất
Lợng
(kg)
Tỷ lệ
%
Lợng
(kg)
Tỷ lệ
%
Lợng
(kg)
Tỷ lệ
%
Lợng
(kg)
Tỷ lệ
%
Thuốc trừ sâu 17590 82,2 18100 74,13 17700 69,15 20500 68,33
Thuốc trừ bệnh 2700 12,6 2800 11,5 3800 14,84 4650 15,5
Thuốc trừ cỏ 500 3,3 2600 10,65 3050 11,91 3500 11,7
Các thuốc khác 410 1,9 915 3,75 1015 4,1 1350 4,5
Tổng 21.400 100 24.415 100 25.600 100 30.000 100

Nh vậy, số lợng HCBVTV đợc sử dụng ở nớc ta trong các năm liên

nhân có thể do tiếp xúc trực tiếp với nguồn hoá chất hoặc do chúng tồn tại trong
thức ăn, nớc uống hay không khí ảnh hởng lâu dài đến sức khoẻ con ngời.
Cũng theo Dudani (1999) [32] cho biết ở Trung Quốc năm 1993 có
10.000 ngời chết do nhiễm độc HCBVTV, ở Philipin từ tháng 1/1992 đến
tháng 3/1993 có 1.303 trờng hợp trúng độc. Một nghiên cứu khác ở trung
tâm Luzon cho thấy hàng năm có gần 900 nông dân bị chết/1 tỉnh do nhiễm
độc HCBVTV, tỷ lệ tử vong tăng 27%. Một công ty sản xuất thuốc trừ sâu lớn
ở Anh đã phải nộp khoản tiền bồi thờng là 90.000 USD cho việc làm gia tăng
nguy cơ gây ung th do PCP và Lindane.
Theo Lê Trung (1994) [22] ớc tính số ngời nhiễm độc HCBVTV
hàng năm trên thế giới theo WHO qua hình 2.1
Tiếp xúc dài ngày, tổn thơng mạn tính
không đặc hiệu
Tiếp xúc dài ngày, tổn thơng mãn tính
và đặc hiệu
Tiếp xúc một lần và ngắn ngày kể cả tự tử
37.00
ngời

những loại côn trùng có ích và các loại thuỷ sản khác.
Căn cứ vào tác động độc hại đối với con ngời mà ngời ta chia
HCBVTV thành 2 loại:
Chất độc nồng độ (concentration poison): các chất này gây độc cho cơ
thể phụ thuộc vào nồng độ thuốc xâm nhập vào cơ thể.
Chất độc tích luỹ chúng có thể tích luỹ trong các mô bào động vật và gây
hại cho chính động vật đó và có thể gây ảnh hởng lâu dài cho con ngời
thông qua chuỗi thức ăn. 12
Theo Việt Linh [15], các nhà khoa học tại Đại học Bristol tiến hành thí
nghiệm cho thấy thuốc trừ sâu có thể liên quan đến hầu hết các ca bệnh ung
th bạch cầu ở trẻ em và cho hay đang thu thập bằng chứng để làm rõ nhận
định này. Tiến sĩ khoa học Margret Sanders và đồng nghiệp tại Đại học Bristol
cho biết "chất hoá học đợc sử dụng làm thuốc trừ sâu nh DDT và một số
hợp chất hữu cơ clo có thể xâm nhập qua nhau thai rất nhanh. Thí nghiệm
cũng cho thấy nếu ngời mẹ ăn thức ăn có nhiễm HCBVTV chúng sẽ qua
nhau thai vào bào thai, hiện nay chúng ta cha biết mức độ ảnh hởng của
chúng nh thế nào, nhng chúng ta biết bệnh bạch cầu ở trẻ em bắt đầu từ khi
bào thai phát triển trong tử cung và thuốc trừ sâu có thể là một trong những
nhân tố".
Cũng theo một số nghiên cứu về tác hại của HCBVTV, mỗi loại HCBVTV có tác
động khác nhau, có thể tổng hợp sự tác động của chúng qua hình sau.

ứng
Sinh tế bbào
non
Mang
HCBVTV

U
lành
tínhU ác
tính
Biểu hiện tác động gây bệnh trên ngời của HCBVTV

Hình 2.2. Biểu hiện tác động gây bệnh trên ngời của HCBVTV 13
2.3.4. Gây trúng độc mn tính
Theo Perry (1998) [51] trạng thái trúng độc mãn tính là trạng thái trúng
độc trờng diễn, thuốc BVTV xâm nhập vào cơ thể thành từng liều nhỏ trong
thời gian kéo dài thờng là 6-18 tháng đối với động vật lớn hoặc cả đời đối với
động vật nhỏ.
Trần Quang Hùng (1999) [13] cho biết mỗi loại hóa chất đợc công
nhận là HCBVTV đều phải qua kiểm tra độ độc mãn tính bao gồm: khả năng
tích lũy trong cơ thể ngời và động vật máu nóng, khả năng gây đột biến tế
bào, kích thích tế bào khối u phát triển, ảnh hởng của hóa chất đến bào thai
gây dị dạng đối với thế hệ sau....
Tuy vậy, khi con ngời tiếp xúc với HCBVTV một cách thờng xuyên

15
2.4.2. Tồn lợng của HCBVTV trong đất
Theo các nhà khoa học [41], [43], [44], [45] cho biết, việc sử dụng
HCBVTV có liên quan trực tiếp đến môi trờng đất và nớc. Khoảng 50%
thuốc trừ sâu đợc phun ra rơi xuống đất còn cha kể đến biện pháp bón thuốc
trực tiếp vào đất để diệt cỏ và tuyến trùng. Thuốc bảo vệ thực vật tồn d trong

giếng của dân địa phơng cũng có chứa hoá chất bảo vệ thực vật.
Từ năm 1991-1995 U.S. Geological Survey đã kiểm tra 5000 mẫu nớc
suối và nớc giếng thấy có ít nhất một loại HCBVTV trong mỗi mẫu. Trong đó
diazinon và chlorpyrifos phát hiện thấy nhiều nhất ngoài ra còn các HCPPHC
khác, 2,4-D...
Một nghiên cứu ở bang California (Mỹ) cho thấy 22 loại HCBVTV đã
đợc tìm thấy trong 436 mẫu nớc ngầm năm 1996, đặc biệt ở những vùng sản
xuất nông nghiệp sự xuất hiện của HCBVTV trong nớc càng thờng xuyên
hơn. Sự luân chuyển của HCBVTV trong môi trờng nớc tự nhiên đợc thể
hiện qua hình 2.4: Hấp thụ ở lớp trầm lắng
dới đất
Thuốc trừ sâu

+ Xâm nhâp dới dạng bụi lỏng hoặc khí, khi thuốc BVTV đợc phun ra, gió
sẽ mang theo những hạt chứa thuốc có kích thớc nh hạt bụi có thể lơ lửng
trong không khí và theo gió đa đi khắp nơi, sự xâm nhập này cũng có thể do
gió bào mòn các vùng đất khô có chứa HCBVTV, bụi khô có tốc độ và khả
năng phát tán xa hơn bụi lỏng đặc biệt khi phun thuốc bằng máy bay.
+ Sự xâm nhập dới dạng hơi do bay hơi từ bề mặt có dùng thuốc đặc biệt với
những thuốc dễ bay hơi nh lindane, aldrin... tốc độ bay hơi phụ thuộc vào
tính chất hóa học của thuốc, dạng điều chế, dụng cụ sử dụng, cách sử dụng và
đặc biệt là tốc độ gió. Ngời ta tính đợc tỷ lệ bay hơi của DDT là 12% và của
aldrin là 50%.
Ngoài ra các HCBVTV sử dụng trong công nghiệp, bảo quản nông sản,
vệ sinh môi trờng, y tế thậm chí trong chiến tranh, sự thiếu thận trọng trong
quá trình sản xuất làm hở và thoát một lợng lớn HCBVTV ra ngoài môi
trờng gây ô nhiễm một vùng không khí rộng lớn.
Sự xâm nhập không liên tục do các bề mặt tiếp xúc với thuốc trở thành
nguồn dự trữ thuốc để từ đó thuốc xâm nhập vào không khí với từng lợng
nhỏ theo gió. Nếu một diện tích lớn sử dụng HCBVTV sẽ là mối nguy hiểm
lớn đối với không khí. 18
Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] cho biết HCBVTV có thể phát tán rất xa,
ví dụ bụi HCBVTV ở Bắc và Trung Phi có thể lan tới Nam Đại Tây Dơng. Ngay
tuyết ở vùng Bắc cực cũng chứa HCBVTV, ngời ta ớc tính trong 25 năm thì có
khoảng 2.500 tấn DDT đợc đa tới Bắc cực. Ngời ta cũng tìm thấy HCBVTV ở
độ cao 80-200 m sau 3- 8 ngày phun thuốc bằng máy bay.
Với thực trạng này thì các làng quê Việt Nam là nơi phải hứng chịu nhiều
nhất chính những HCBVTV mà ngời ta sử dụng do đặc điểm phân bố dân c
tập trung và các cánh đồng bao quanh, nên thuốc trừ sâu có thể tác động trực
tiếp đến đời sống con ngời qua không khí, nguồn nớc và chính những nông

Khả năng thuốc tồn tại lâu dài một phần là cần thiết để phòng trừ sâu bệnh
có hiệu quả nhng chúng lại ảnh hởng đến con ngời và môi sinh. Sự tồn lu
của HCBVTV trong nông sản phụ thuộc vào loại HCBVTV đợc sử dụng (có
thời gian bán huỷ sinh học dài hay ngắn), thời gian dùng thuốc trớc khi thu
hoạchvì vậy tổ chức FAO đã đa ra mức tồn lợng tối đa (Maximum Residue
Limit- MRL) cho phép đối với từng loại thuốc và từng loại nông sản. ở mỗi
nớc căn cứ vào tình trạng vệ sinh môi trờng, trình độ dân trí và nhận thức của
ngời dân từ đó nâng cao dần chất lợng sản phẩm và hạ thấp dần mức d
lợng HCBVTV tối đa cho phép trong từng loại thực phẩm và nông sản mà xác
định mức d lợng tối đa cho từng loại thuốc.
MRL là lợng chất độc cao nhất đợc phép tồn lu trong nông sản đó
dùng làm thức ăn, đợc tính bằng mg/kg nông sản.
Theo Vũ Hài và cộng sự (2001) [9], thời gian cách li tính từ ngày cây
trồng (hoặc sản phẩm cây trồng) đợc xử lý thuốc lần cuối cùng cho đến ngày
thu hoạch nông sản làm thức ăn cho ngời và vật nuôi mà không tổn hại đến
cơ thể. Trong thời gian này thuốc chuyển hoá đến mức không độc, hoặc chỉ
còn lại d lợng tối đa cho phép theo từng loại thuốc trên từng loại cây trồng.
Vì vậy thời gian cách li là khác nhau đối với từng loại thuốc và cây trồng
khác nhau, nếu trong quá trình sản xuất cha hết thời gian cách li đã thu
hoạch sản phẩm và sử dụng con ngời và vật nuôi có thể có nguy cơ bị
trúng độc và nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên trong thực tế sử dụng
ngời dân cha thực sự quan tâm đến thời gian cách li của thuốc hoặc vì lợi 20
nhuận mà không quan tâm đến sự nguy hiểm đối với ngời khác, dẫn đến
các vụ ngộ độc nghiêm trọng đặc biệt trên rau xanh.
2.4.7. Tồn lu của HCBVTV trong cơ thể ngời và quần thể động vật
Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] cho biết các nhà khoa học đã tìm thấy
DDT trong mô mỡ của ngời dân trong các nớc nh sau: ở Hungari là 12,4

hoạt động hạn chế của vật mang chất độc. Trong những loại chất độc thờng
xuyên xâm nhập vào cơ thể ngời thì 70% qua thức ăn và 20% từ không khí,
10% còn lại qua nớc uống.

2.5. Độc tính của một số loại HCBVTV
2.5.1. Các HCBVTV thuộc nhóm Clo hữu cơ (HCCLHC)
Theo Trần Quang Hùng (1995, 1999) [12], [13], và Phùng Thị Thanh Tú
(1994) [23] cho biết HCBVTV thuộc nhóm clo hữu cơ là loại đầu tiên đợc sử
dụng và ngày nay vẫn dùng để diệt côn trùng và diệt muỗi. Các chất này là
dẫn xuất clo của hydro cacbon đa nhân, các xyclo parafin, các tecpen và bezen
nh aldrin, BHC, DDT, HCH, clodancác chất này đều có clo trong phân tử
nên tác động của chúng nhiều lúc giống nhau, chỉ khác nhau về mức độ độc
tính và biểu hiện lâm sàng. Đặc tính chung của nhóm này là có độ độc cao
(thuộc nhóm độc I và II) rất bền vững ngoài môi trờng gây ô nhiễm lâu dài
nguồn đất, nớc và tích luỹ trong cơ thể sinh vật nên nhìn chung đã bị đa vào
danh sách cấm sử dụng.
Theo một số tác giả nghiên cứu về độc tính của nhóm HCCLHC [11],
[13],25], [26], [22] cho biết HCCLHC có tác dụng hỗn hợp, vừa độc qua tiếp
xúc vừa độc qua đờng tiêu hoá, tuy nhiên chúng có thể xâm nhập vào cơ thể
qua đờng tiêu hoá, hô hấp, qua da và đợc thải chậm qua thận. Sau khi đợc
hấp thu chúng có thể xâm nhập qua màng tế bào, do tính chất a mỡ nên
chúng đợc tích luỹ trong các tổ chức đặc biệt các mô mỡ, lớp màng của tế
bào thần kinh. Trong gan, thận và cơ tim cũng có một lợng đáng kể, tại đó
chúng gây tổn thơng mô bào, các hệ thống men quan trọng làm ảnh hởng
quá trình chuyển hoá và hô hấp mô bào gây thiếu oxy ở mức độ mô bào. 22
Các HCCLHC do có khả năng tích luỹ nên dễ gây độc mãn tính với triệu
chứng thần kinh là chủ yếu, đặc biệt chúng tác động lên hệ thống màng axon

của androgen và ngăn cản hoạt động chức năng của kích tố này. 23
Cũng theo Ngô Kiều Oanh (2002) [16], Phạm Khắc Hiếu (1998) [11]
thì những tác động bất lợi trên cá, các loài bò sát, chim và động vật hoang dã
khác, bao gồm chức năng sinh sản không bình thờng, tập tính sinh sản bất
thờng, mất tính đực, hiệu quả nở trứng giảmnhững nguyên nhân và hậu
quả ngày nay vẫn đang đợc nghiên cứu và làm rõ.
Theo các nhà nghiên cứu về độc tính của HCCLHC [10], [11], [32],
[37], [39] đa số các hoá chất thuộc nhóm clo hữu cơ đều có khả năng tích luỹ
trong cơ thể sinh vật, thời gian bán huỷ sinh học dài, do vậy chúng phải đợc
quản lý nghiêm ngặt vì có liên quan đến sự mất cân bằng sinh thái và ảnh
hởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con ngời. Đặc biệt dioxin còn có khả năng
gây đột biến gen ảnh hởng đến chất lợng và sức khoẻ đời sau. Tất cả các
chất này đều đợc chứng minh là có thể gây ung th cho ngời và động vật.

a/ DDT (diclo diphenyl tricloetan)
Tên gọi khác: anofex, jeidan, chlorphenothane, gesarol
Tên hoá học: 1,1,1-triclo-2,2-bis(P-clophenyl)etan.
Công thức hoá học: C
14
H
9
Cl
5

Phân tử lợng: M =354,5
C
H

lợng nhỏ DDT đợc phân huỷ còn lại bị chuyển hoá thành các hợp chất ít
độc hơn nh DDE, DDD, DMC, dicofon, clobenzinat, metoxiclo.
Trần Quang Hùng (1995, 1999) [12], [13] cho biết DDT là thuốc có tác
dụng vị độc rất bền vững trong cơ thể sống, môi trờng, sản phẩm động vật,
thực vật. Thuộc nhóm độc II, LD
50
quang miệng là 113-118 mg/kg, LD
50
qua
da 250 mg/kg, ADI 0,02 mg/kg. Theo một số tiêu chuẩn về môi trờng của Bộ
Khoa học Công nghệ và Môi trờng (1993) nồng độ tối đa cho phép trong môi
trờng lao động là 1 mg/m
3
không khí, trong khí quyển là 0,05 mg/m
3
.
Theo Phạm Khắc Hiếu (1998) [11], DDT xâm nhập vào cơ thể qua
đờng tiêu hoá, hô hấp và da, nhng đờng hấp thu chủ yếu với số lợng lớn
là đờng tiêu hoá. DDT đợc tích luỹ lâu dài trong tổ chức mỡ của ngời và
động vật (do tính a mỡ của DDT), luân chuyển trong các sản phẩm tự nhiên
của môi trờng sống. Vì vậy, mặc dù đã bị cấm sử dụng từ năm 1992 nhng
ngời ta vẫn tìm thấy chúng trong các cơ quan mô bào của ngời, động vật và
thực vật ở những nơi trớc đây đã từng sử dụng DDT với khối lợng lớn.
Theo Phạm Khắc Hiếu (1998) [11] thì hàm lợng DDT trong máu và
hoạt lực của enzime glucozo-6-phosphat-dehydrogenaza (G6PD)- là enzime có
vai trò đảm bảo tính nguyên vẹn của hồng cầu, thiếu nó sẽ dẫn tới thiếu máu.
Ngời ta cũng chứng minh rằng DDT ảnh hởng đến chức năng sinh sản của
các loài chim, phá huỷ khả năng tích trữ vitamin A trong gan của động vật có
vú, chuột ăn thức ăn có nhiễm DDT thấy gan bị nhiễm độc nặng, bạch cầu
tăng và kéo theo một số bệnh khác. Khi nuôi các tế bào lympho của ngời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status