Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất dong riềng bền vững tại xã Kim Lư, huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn - Pdf 24



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN ĐỨC HƢNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT SẢN
XUẤT DONG RIỀNG BỀN VỮNG TẠI XÃ KIM LƢ -
HUYỆN NA RÌ TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


Ngƣời hƣớng dẫn Khoa học:
PGS.TS. Dƣơng Văn Sơn

Thái Nguyên - 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả và
các số liệu trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này. Xác nhận của giáo viên hƣớng dẫn PGS.TS. Dƣơng Văn Sơn

thời gian thực hiện đề tài
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp, anh em bè bạn và gia
đình đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất và tinh thần cho tôi trong thời gian học tập
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Hưng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và mục tiêu của đề tài 4
2.1. Mục đích của đề tài 4
2.2. Mục tiêu của đề tài 4
2.2.1. Mục tiêu tổng quát 4


2.3.2. Thí nghiệ m 2: Xác định liều lượng phân bón thích hợp cho cây dong riềng 28
2.3.3. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu xác định mật độ trồng hợp lý 29
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 29
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1. Nghiên cứu đánh giá một số dòng, giống dong riềng 30
3.1.1. Thời gian nẩy mầm, độ đồng đều và tỷ lệ nảy mầm của một số dòng,
giống dong riềng 30
3.1.2. Thời gian sinh trưởng của các dòng, giống dong riềng 31
3.1.3. Đặc điểm nông sinh học của các dòng, giống dong riềng 33
3.1.4. Khả năng chống chịu của các dòng, giống dong riềng 36
3.1.5. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống
dong riềng 37
3.1.6. Năng suất và chỉ tiêu chất lượng của các dòng, giống dong riềng 39
3.2.1. Ảnh hưởng của các mức phân bón đến thời gian nẩy mầm, độ đồng
đều và tỷ lệ nảy mầm của dong riềng 41
3.2.2. Ảnh hưởng của các mức phân bón đến thời gian sinh trưởng của cây
dong riềng 42
3.2.3. Ảnh hưởng của các mức phân bón đến sinh trưởng phát triển của cây
dong riềng 43
3.2.4. Ảnh hưởng của các mức phân bón đến khả năng chống đổ và sâu
bệnh của cây dong riềng 46
3.2.5. Ảnh hưởng phân bón đến năng suất cây dong riềng 47
3.2.6. Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng củ dong riềng 49
3.1.7. Hoạch toán hiệu quả kinh tế của các mức phân bón 51
3.3. Nghiên cứu xác định mật độ trồng cây dong riềng hợp lý 52
3.3.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian nẩy mầm, độ đồng đều và
tỷ lệ nảy mầm của cây dong riềng 52
3.3.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng của cây
dong riềng 53

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
Nxb : Nhà xuất bản

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Tỷ lệ này mầm, thời gian và độ đồng đều của các dòng, giống
dong riềng 30
Bảng 3.2: Thời gian sinh trưởng của các dòng, giống dong riềng 32
Bảng 3.3: Đặc điểm nông học của các dòng, giống dong riềng thí nghiệm 34
Bảng 3.4: Khả năng chống chịu của các dòng, giống dong riềng 36
Bảng 3.5: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
của các dòng, giống dong riềng thí nghiệm 37
Bảng 3.6: Năng suất và một số chỉ tiêu chất lượng của các dòng, giống
dong riềng triển vọng 40
Bảng 3.7: Ảnh hưởng mức phân bón đến tỷ lệ này mầm, thời gian nảy
mầm và độ đồng đều của dong riềng trong các công thức thí
nghiệm 42
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của các mức bón phân đến thời gian sinh trưởng
cây dong riềng 43
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của các mức bón phân đến sinh trưởng
của cây dong riềng trong các công thức thí nghiệm 44
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của mức bón phân đến khả năng chống đổ và sâu
bệnh của cây dong riềng ở các công thức trong thí nghiệm 46
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của dong riềng trong các công thức thí nghiệm 47
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng củ dong riềng trong
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang rất quan
tâm tìm hướng giải quyết cho những vấn đề quan trọng như khủng hoảng
về năng lượ ng, các rủi ro về môi trường và An ninh lương thực . Về vấn đề
lương thực, hiện nay đã có nhiều nước quan tâm phát triển nhiều loại cây
trồng đảm bảo đáp ứng về lương thực, thực phẩm cho người và gia súc gia
cầm, trong đó có nghiên cứu và phát triển cây dong riềng. Ở Việt Nam
trong những năm gần đây, nhiều địa phương đã tập trung chỉ đạo phát triển
cây dong riềng và đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, có nơi cây dong riềng
còn góp phần xoá đói giảm nghèo như Bắc Kạn, Điện Biên, Quảng Ninh,
Kon Tum, Đồng Nai,…
Vùng Trung du miền núi phía bắc Việt Nam - địa bàn đào tạo, nghiên
cứu và ứng dụng chủ yếu của Đại học Thái Nguyên gồm 16 tỉnh với diện
tích 10.313.876 ha (chiếm 31% diện tích toàn quốc), dân số 13.291.000,
chiếm 15,1% dân số cả nước (trong đó có 40% là người dân tộc thiểu số).
Vùng Trung du, miền núi phía Bắc được xác định là vùng có tiềm năng lớn
về phát triển nông lâm nghiệp. Trong những năm qua, nông lâm nghiệp của
vùng có nhiều thay đổi nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển của của nhà
nước và địa phương. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ dân trí, điều kiện
địa lý, giao thông và tập quán canh tác lạc hậu… nên vùng Trung du, miền
núi phía Bắc vẫn là vùng chậm phát triển, tỷ lệ đói nghèo khá cao, GDP chỉ
chiếm 9,6% GDP quốc gia, thu nhập bình quân/người chỉ bằng 60 - 70% so
với mức thu nhập trung bình toàn quốc. Hiện nay, vùng đang phải tập trung
giải quyết nhiều lĩnh vực trong phát triển kinh tế như: Vấn đề an toàn lương
thực và xoá đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo tồn phát triển

tuy vậy một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra con số ước đoán về diện tích
dong riềng nước ta những năm gần đây vào khoảng 30 nghìn ha với các
giống dong riềng lấy củ và dong riềng cảnh được trồng phổ biến khắp cả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
nước, từ vùng đồng bằng, trung du đến các vùng núi cao như tỉnh Lào Cai,
Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên Trong đó Bắc Kạn có
diện tích trồng dong riềng năm 2012 là 1.324 ha, tập trung ở các huyện Na
Rì, Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông ; Thái Nguyên trồng được trên 600 ha,
tập trung ở huyện Đồng Hỷ, Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương
Ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, dong riềng được trồng chủ
yếu trên đất dốc với phương thức canh tác nương rẫy truyền thống (phát
nương mới, bỏ nương cũ diễn ra thường xuyên), không sử dụng biện pháp
bảo vệ đất, nguy cơ thoái hoá đất xẩy ra ngày càng nghiêm trọng. Người
dân thường trồng giống cũ, cao cây, năng suất và hàm lượng tinh bột thấp;
Mật độ trồng không đồng đều, có nơi trồng quá thưa nên lãng phí đất, nơi
lại trồng quá dày dẫn đến củ nhỏ, năng suất không cao. Phân bón ảnh
hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của dong riềng nhưng nông dân
thường bón phân theo hình thức tự phát, không cân đối giữa đạm, lân, kali,
đặc biệt phân hữu cơ hầu như không được sử dụng làm cho đất bị trai cứng,
năng suất giảm nhanh sau 1 – 2 vụ trồng.
Huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn là huyện trồng dong riềng với diện tích
lớn phục vụ cho nghề làm miến dong truyền thống. Tuy nhiên, vài năm trở
lại đây cây dong riềng ở huyện Na Rì nói riêng và trên địa bàn tỉnh nói
chung đã không được chú trọng đầu tư, phát triển nên diện tích ngày càng
bị thu hẹp,… Trong khi đó, nhu cầu dong riềng nguyên liệu để sản xuất miến
lại tăng lên và phải nhập từ các huyện hoặc tỉnh ngoài vào để sản xuất. Yêu

Bắ c Kạ n. Đó là các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất và chất
lượng, nhằm tăng thu nhập trên đơn vị diện tích, góp phần nâng cao đời
sống cho người sản xuất.
2.2. Mục tiêu của đề tài
2.2.1. Mục tiêu tổng quát
Chọn tạo giống và xác định được kỹ thuật canh tác phù hợp nâng cao
năng xuất và chất lượng dong riềng trong sản xuất miến dong.
2.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu xác định một số dòng, giống dong riềng có năng suất cao
chất lượng tốt, có thời gian sinh trưởng phù hợp với điều kiện sinh thái của
địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
- Nghiên cứu, xác định lượng phân bón thích hợp đối với dong riềng.
- Nghiên cứu, xác định mật độ trồng dong riềng hợp lý.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Xác định cơ sở khoa học cho việc định hướng khu vực trồng và
phát triển dong riềng theo hướng sản xuất chuyên canh.
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu, và
chuyển giao cho sản xuất.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Tuyển chọn giống dong riềng có triển vọng để đưa vào sản xuất góp
phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng dong riềng
- Xây dựng kỹ thuật trồng, mật độ, phân bón thâm canh tăng năng suất
và chất lượng dong riềng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

bội 2n = 2X = 27
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
1.1.3. Phân bố và các giống dong riềng
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước
vùng nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Tại châu
Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và
Đài Loan (Hermann, M. et al. 2007).
1.1.4. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng
Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ.
Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể cao
trên 2,5m. Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những
lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp
phần củ. Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi
lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp
thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó
libe và mạch gỗ và trong cùng là nhu mô.
Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có
thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh
bột, thân rễ nằm trong đất; Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy,
lúc mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần;
Trên mỗi đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh,
nhánh có thể phân chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân
có thể có màu trắng, vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động
khá lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho
thấy phía ngoài cùng của củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô
bên trong có những bó cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là

có 2 nhị, trong đó 1 nhị thì chỉ còn vết, nhị kia thì một nửa cánh mang 1
bao phấn, nửa còn lại cũng biến thành hình cánh. Tất cả các nhị đều có màu
sắc sặc sỡ, màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ. Bầu
hoa có 3 ô, mỗi ô có từ 6 – 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết mùi. Thời
gian từ nụ đến nở hoa từ 3 – 5 ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao, từ
trong ra ngoài; Hoa nở vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng qủa nang, hình trứng ngược,
kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều dai mềm.
Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 – 5
mm. Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 - 13g.
1.1.5. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng
Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25-30
o
C, điều kiện
ấm áp dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và
đẩy nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy
nhanh quá trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ và dong riềng chịu
lạnh khá nên có khả năng trồng ở độ cao trên 2.500m so với mặt nước biển.
Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể
trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng.
Ngày dài có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành củ. Điều kiện ngày ngắn,
cường độ ánh sáng mạnh thúc đẩy sự hình thành phát triển củ, trong khi
ngày dài lại thúc đẩy sự phát triển thân lá.
Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất không khắt
khe so với cây trồng khác, nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau.

1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng ti Việt Nam
Diện tích dong riềng của Việt Nam đạt khoảng 30.000 ha. Sản lượng
hàng năm đạt 450.000 tấn củ tươi. Dong riềng được trồng ở những chân đất
khô hạn, trên đất dốc hoặc những nơi sản xuất tinh bột và miến. Các tỉnh
trồng nhiều dong riềng để sử dụng làm miến là Hà Nội, Hưng Yên, Hòa
Bình và Đồng Nai.
Tại những vùng có diện tích trồng đáng kể, dong riềng hầu hết được
chế biến thành tinh bột, sau đó làm miến (N. K. Quỳnh và T. V. Hộ, 1996).
Tuy nhiên, các quy trình chế biến miến dong ở nước ta hiện nay vẫn mang
tính thủ công chưa đảm bảo chất lượng và chỉ có một số ít nhà máy sử dụng
tinh bột dong để sản xuất miến ăn liền. Dong riềng hiện nay được chế biến
với khối lượng lớn chủ yếu tại một số làng nghề tại Quốc Oai, Hoài Đức,
Ba Vì (Hà Nội), Trảng Bom (Đồng Nai), Yên Mỹ, Khoái Châu (Hưng
Yên). Hiện nay nhu cầu sử dụng miến ngày càng tăng, trong khi đó nguồn
nguyên liệu cho chế biến lại chưa đủ nên hàng năm nước ta vẫn phải nhập
hàng ngàn tấn tinh bột dong ẩm từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
1.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng ti Bc Kn
Bắc Kạn là tỉnh miền núi phía Bắc, có địa hình phân dị lớn, độ dốc
cao. Việc đưa các loại cây trồng vào địa bàn Bắc Kạn trong những năm qua
đã có nhiều nghiên cứu, nhiều mô hình được áp dùng để tạo vùng sản xuất
phù hợp với điều kiện địa lý, thổ nhưỡng và cả tập quán canh tác của đồng
bào dân tộc thiểu số.
Ở Bắc Kạn, nhiều vùng mùa đông nhiệt độ dưới 10
0
C các loại cây

Bắc Kạn là: Nhất Thiện (huyện Ba Bể), HTX miến dong Côn Minh, Kim
Lư, Cư Lễ, Lạng San (huyện Na Rì). Sắp tới, Bắc Kạn sẽ có những cơ sở
sản xuất miến dong quy mô lớn hơn, thực hiện sự cam kết giữa doanh
nghiệp và người dân trong việc trồng và tiêu thụ sản phẩm dong riềng.
Cùng với việc các hợp tác xã chế biến dong riềng được thành lập mới,
hiện nay một số cơ sở chế biến dong riềng hoạt động với quy mô nhỏ đang
chuẩn bị đầu tư mới để sản xuất với quy mô lớn hơn. Theo số liệu thống kê
của Sở Công Thương, trên địa bàn tỉnh hiện có 26 cơ sở đang dự kiến đầu
tư dây chuyền chế biến tinh bột với tổng công suất 940 tấn củ/ngày; 04 đơn
vị đang dự kiến đầu tư mới dây chuyền sản xuất miến dong với tổng công
suất đạt 13,7 tấn củ/ngày. Như vậy, năm 2012 tổng công suất chế biến tinh
bột dong riềng (bao gồm cả hiện có và dự kiến đầu tư mới) trên địa bàn
toàn tỉnh có thể đáp ứng được 99,04%, nếu tăng thêm thời gian chế biến thì
công suất hiện tại sẽ đủ để chế biến hết khối lượng củ dong riềng năm
nay. Theo số liệu báo cáo của các địa phương, năm tới tổng diện tích người
dân đăng ký trồng dong riềng là 2.200 ha.
Bên cạnh đó, được sự quan tâm của UBND tỉnh Bắc Kạn, Sở Khoa
học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn đang tiến hành làm hồ sơ đề nghị bảo hộ
sản phẩm trí tuệ tập thể miến dong Bắc Kạn (một loại hàng hóa có giá trị,
được người nội trợ nhiều nơi tin dùng vì chất lượng đặc biệt). Theo đó, dự
án thành công sẽ bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng;
cũng như quảng bá nhãn hiệu tập thể nói riêng trong sản xuất nông nghiệp.
Từ đó, gắn kết nhau cùng xây dựng, bảo vệ và phát triển nhãn hiệu tập thể
cho sản phẩm đặc thù của địa phương, tạo việc làm và tăng thu nhập cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
nhiều lao động tại địa phương, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, góp

14
đạt 45 - 60 tấn/ha, cao nhất đạt 95 - 100 tấn/ha. Giá bán trên thị trường tại
thời điểm đó trung bình là 1.000 đ/kg.
Bên cạnh đó, với vùng sản xuất dong riềng ở Na Rì - Bắc Kạn dưới
sự quan tâm hỗ trợ chỉ đạo của chính quyền, hiện nay đã có Nhà má y chế
biế n tinh bộ t dong riề ng ướ t Đồ n g Tâm thuộc xã Kim Lư , huyệ n Na Rì ,
tỉnh Bắc Kạn được thành lập và đi vào hoạt động, đồng thời được sự hỗ trợ
của dự án 4FGF do CIAT quả n lý tạ i huyệ n Na Rì ; Qua đó sản phẩm trồng
ra sẽ được thu mua ngay, đảm bảo đầu ra cho người nông dân.
Như vậy, cây dong riềng là cây mũi nhọn của địa phương trong phát
triển kinh tế, vì nó là một cây có khả năng xóa nghèo và vươn lên làm giàu
nhanh. Kế hoạch gieo trồng mỗi năm tăng 30 ha, dự kiến đến năm 2015 đạt
428 ha trở lên, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 11,6 triệu đồng
người/năm vào năm 2015.
1.3. Các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.3.1. Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), thuộc nhóm
cây nông nghiệp có nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ. Ngày nay dong riềng
được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Nam
Mỹ là trung tâm đa dạng của dong riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu
Phi là những nơi trồng và sử dụng dong riềng nhiều nhất (Cecil, 1992;
Hermann, 1999). Dong riềng được gọi bằng một số tên khác nhau như
Queenland Arrowroot, Canna Indica (L.), Canna Edulis (Kerr- Gawl)
(Cecil,1992).
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các
nước vùng Nam Mỹ, Châu Phi, và một số nước Nam Thái Bình Dương. Tại
Châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc,
Úc, và Đài Loan (Hermann, M. et al. 2007). Mặc dù vậy đến nay chưa có
số liệu thống kê chính xác về diện tích loại cây trồng này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

riềng quốc tế của CIP tại Ecuador, trong nhà lưới ở độ cao 2400m, biên độ
12-27
o
C với mật độ 2cây/m2, trên nền đất cát pha, không bón phân,
Hermann và CS đã thu được kết quả rất thú vị. Năng suất củ tươi đạt từ 17-96 tấn/ha,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
hàm lượng tinh bột trong củ tươi đạt 4-22% và đạt 12-31% qui về chất khô,
hàm lượng đường hòa tan trong củ tươi là 5-11 độ Brix.
Nghiên cứu hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế cho thấy có sự
tương quan thuận cao giữa hàm lượng chất khô của củ với hàm lượng
đường hòa tan và hàm lượng tinh bột trong củ tươi r =0,66, trong khi số
chồi tương quan nghịch với hàm lượng chất khô trong củ r = -0,57.
Phân tích các chất dinh dưỡng trong đất trồng và trong cây, các nhà
khoa học cho biết, để thu được 1tấn củ tươi, cho 120-130kg tinh bột khô ở
mật độ 20.000cây/ ha, cây dong riềng cần 0,54kg N, 0,53kg P, 3,11kgK,
2,47kg Mg và 0,37kg Ca. Dong riềng là cây sử dụng rất hiệu quả nguồn N
và nước trong đất.
Nhóm tác giả trong công bố của mình đã kết luận, mặc dù hàm lượng
tinh bột trong củ dong riềng thấp nhưng do năng suất củ rất cao nên vẫn có
năng suất tinh bột đạt 2,8-14,3 tấn/ha và chỉ số thu hoạch cao nên dong
riềng là cây tăng thu nhập của nông dân nghèo ở các vùng cao nhiệt đới.
Tuy nhiên cho đến nay, tại các nước có trồng dong riềng thì nó vẫn chưa
được quan tâm nghiên cứu. Ở châu Á, Trung Quốc và Việt Nam là những
nước trồng và sử dụng dong riềng hiệu quả nhất (Hermann, M. et al. 2007).
Hiện nay trên thế giới chọn tạo giống dong riềng chủ yếu chọn lọc từ
nguồng gen hoang dại, sau đó tiến hành cải tiến nguồn gen để chọn lọc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status