Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất sắn tại xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn - Pdf 24



i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN VĂN NGỌC NGHIÊN CƢ́ U MỘ T SỐ BIỆ N PHÁ P KỸ THUẬ T
SẢN XUẤT SẮN TẠI XÃ KIM LƢ, HUYỆ N NA RÌ ,
TỈNH BẮC KẠN
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60. 62. 01. 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. DƢƠNG VĂN SƠN
2. TS. TRẦN ĐĂNG XUÂN
Nguyễn Văn Ngọc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnii

LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và sự quan tâm của Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học (Nay là
Phòng quản lý sau Đại học) và các thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên. Tôi đã tiến hành thực hiện Đề tài “Nghiên cứ u mộ t số biệ n
php k thut sn xut sn tạ i xã Kim Lư, huyệ n Na Rì, tnh Bc Kn”.
Đến nay tôi đã hoàn thành đề tài của mình, để có được kết quả như
vậy, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo
hướng dẫn, Ban giám hiệu nhà trường và Phòng quản lý sau Đại học, các tổ
chức cá nhân liên quan đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện
đề tài của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
1. Ban giám hiệu Nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
2. PGS.TS Dương Văn Sơn - Phó trưởng khoa Kinh tế và phát triển
nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
3. TS. Trần Đăng Xuân - Giảng viên Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên.
4. Phòng quản lý đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên.
5. Sự phối hợp giúp đỡ của Trung tâm Quốc tế về Nông nghiệp Nhiệt

2.2. Mục tiêu của đề tài 3
3. Ý nghĩa của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Điều kiện tự nhiên kinh tế -xã hội tỉnh Bắc kan….………………… 4
1.3. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu sắn trên thế giới 6
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới 6
1.3.2. Tình hình nghiên cứu giống sắn trên thế giới 9
1.3.3. Tình hình nghiên cứu đất trồng sắn, dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân
cho sắn trên thế giới 12
1.3.4. Tình hình nghiên cứu thời vụ thu hoạch sắn trên thế giới 14
1.4. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu sắn trong nước 15
1.4.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trong nước 15
1.4.2. Tình hình chế biến và tiêu thụ sắn ở Việt Nam 18
1.4.3. Tình hình nghiên cứu giống sắn trong nước 20
1.4.4. Tình hình nghiên cứu đất trồng sắn, dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân
cho sắn ở Việt Nam 21
1.4.5. Tình hình nghiên cứu mật độ, khoảng cách trồng sắn trên thế giới và
trong nước 23
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Thời gian, địa điểm và nội dung nghiên cứu 25
2.2. Nội dung nghiên cứu 25
2.3. Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1. Thí nghiệm so sánh một số dòng, giố ng sắ n 25
2.3.2. Thí nghiệm phân bón cho sắn 28
2.3.3. Thí nghiệm mật độ trồng sắn 30
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Kết quả thí nghiệm so sánh một số dòng sắn 32

3.2.4. Ảnh hưởng của phân bón đến tuổi thọ lá của giống sắn thí nghiệm.52
3.2.5. Ảnh hưởng của phân bón đến một số đặc điểm nông học của giống sắn 54
3.2.6. Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất 55
3.3. Kết quả thí nghiệm mật độ 58
3.3.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm 58
3.3.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 59
3.3.3. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ ra lá của giống sắn 60
3.3.4. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tuổi thọ lá của giống sắn thí nghiệm 61
3.3.5. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số đặc điểm nông học của
giống sắn thí nghiệm 62
3.3.6. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66
1. Kết luận 66
2.Đề nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Từ, cụm từ viết tắt
Chú giải
CSTH
Chỉ số thu hoạch
CIAT
Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới
NSSVH
Năng suất sinh vật học

CT
Công thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnvi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ trồng đến mọc của 8 dòng,
giống sắn 33
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng chiều cao của 8 dòng, giống sắn thí nghiệm 35
Bảng 3.3: Tốc độ ra lá của 8 dòng, giống sắn thí nghiệm 38
Bảng 3.4: Tuổi thọ lá của 8 dòng, giống sắn thí nghiệm 40
Bảng 3.5: Đặc điểm nông học của 8 dòng, giống sắn thí nghiệm 42
Bảng 3.6: Các yếu tố cấu thành năng suất của 8 dòng, giống sắn
thí nghiệm 46
Bảng 3.7: Tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ trồng đến mọc của các công
thức phân bón 49
Bảng 3.8: Tốc độ tăng trưởng chiều cao của các công thức phân bón 51
Bảng 3.9: Tốc độ ra lá của các công thức phân bón 52
Bảng 3.10: Tuổi thọ lá của các công thức phân bón 52
Bảng 3.11: Một số đặc điểm nông học của các công thức phân bón
định đến năng suất sắn. 54
Bảng 3.12: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các công
thức phân bón 55
Bảng 3.13: Hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón cho sắn 57
Bảng 3.14: Tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ trồng đến mọc của các công
thức mật độ 58
Bảng 3.15: Tốc độ tăng trưởng chiều cao của các công thức mật độ 59

lai sắn sẽ là nguyên liệu chính cung cấp cho công nghiệp chế biến nhiên
liệu sinh học (ethanol) [13].
Ở Việt Nam, cây sắn là cây lương thực quan trọng được xếp vào hàng
thứ 4 sau lúa, ngô, khoai. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
đưa cây sắn ra khỏi nhóm cây lương thực và cho rằng sắn có thể xếp vào
nhóm cây công nghiệp, cây trồng này đã chuyển đổi nhanh chóng vai trò từ
cây lương thực thành cây công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản
lượng sắn đã tăng nhanh ở thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Hiện tại, sản phẩm
sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi thương mại quốc tế
(P.Silvestre, M.Arraudeau, 1991).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn2

Sắn dễ trồng, hợp nhiều loại đất, vốn đầu tư thấp, hợp khả năng kinh
tế với nhiều hộ gia đình nông dân nghèo, thiếu lao động, tận dụng đất để
lấy ngắn nuôi dài. Cây sắn cũng có khả năng cạnh tranh cao vì sử dụng
hiệu quả tiền vốn, đất đai, tận dụng tốt các loại đất nghèo dinh dưỡng. Sắn
đạt năng suất cao và lợi nhuận khá nếu biết sử dụng giống tốt và trồng đúng
quy trình canh tác sắn bền vững [2], [10].
Tuy nhiên thực tế hiện nay năng suất, sản lượng sắn tại nhiều địa
phương ở Việt Nam cũng như ở huyện Na Rì , tỉnh Bắc Kạn vẫn còn thấp
chưa ổn định và chưa thực sự có tính bền vững.
Vì vậy, muốn nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế từ
trồng sắn cần phải tuyển chọn những giống sắn cho năng suất cao, chất
lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái kết hợp với việc áp dụng biện
pháp kỹ thuật canh tác có tính ổn định là vấn đề rất cần thiết.
Để sản xuất bền vững cần các đòi hỏi cả về mặt kỹ thuật và thị
trường tiêu thụ sản phẩm.

3.1. Ý nghĩa trong học tp và nghiên cứu khoa học
Giúp học viên củng cố và hệ thống toàn bộ kiến thức đã học áp dụng
vào thực tiễn, tạo điều kiện cho học viên học hỏi thêm những kinh nghiệm
trong sản xuất, trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực
tiễn đã giúp học viên nâng cao được chuyên môn, nắm được phương pháp
tổ chức và tiến hành nghiên cứu cũng như ứng dụng các tiến bộ KHKT vào
sản xuất.
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sn xut
Góp phần tìm ra biện pháp kỹ thuật cánh tác bền vững cùng với việc
tuyển chọn giống sắn có triển vọng năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp
tình hình sản xuất sắn tại địa phương để đưa vào sản xuất đại trà nhằm đáp
ứng nhu cầu sản xuất hiện nay của người trồng sắn ở Na Rì – Bắc Kạn nói
riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn4

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Cây sắn có đặc điểm khác với những cây trồng khác là nó có sự phát
triển đồng thời giữa phát triển thân lá và tích luỹ tinh bột vào củ. Có nghĩa
rằng sản phẩm của quá trình quang hợp được phân phối cho duy trì phát
triển thân lá và phình to của củ. Năng suất của sắn phụ thuộc vào khả năng
quang hợp và chỉ số diện tích lá. Tốc độ tăng trưởng tích luỹ vật chất khô
của cây tăng khi chỉ số diện tích lá tăng. Tinh bột được tích luỹ về củ tăng
dần theo thời gian sinh trưởng. Năng suất của sắn tăng nhanh nhất từ tháng

nông nghiệp trên đầu người của tỉnh đạt 1.259 m
2
/người, cao hơn của cả
nước (1.150 m
2
/người).
Bắc Kạn có 333.058 ha đất lâm nghiệp, chiếm 68,41% diện tích tự
nhiên. Bình quân diện tích đất lâm nghiệp là 1,11 ha/người cao hơn mức
bình quân chung của cả nước (0,15 ha/người). Theo nguồn gốc phát sinh
có thể phân đất của tỉnh thành 4 nhóm chính với 21 loại đất, được xuất
phát từ 2 nguồn gốc: Đất địa thành và đất thủy thành, địa hình khá phức tạp
và khá đặc biệt, độ cao, độ dốc lớn, lại là đầu nguồn.
Việc khai thác chặt phá rừng, khai thác khoáng sản bừa bãi, do một bộ
phận dân cư sống du canh, du cư. Thảm thực vật bị phá huỷ kéo dài để lại
hơn 8,7 vạn ha đất đồi núi đất không có rừng cây ở các huyện Ngân Sơn,
Pác Nặm, Ba Bể, Na Rì, Bạch Thông… Đất bị thoái hoá, xói mòn, nghèo
dinh dưỡng, khô cằn không dễ khắc phục trong một thời gian ngắn. Khai
thác không theo quy hoạch các nguồn tài nguyên đã làm giảm diện tích đất
có rừng, tăng diện tích đất bị bỏ hoang hoá.
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Kim Lư: Xã Kim Lư là một xã
Nằm ở phía Đông Bắc Huyện Na Rì phía tây giáp Thị trấn Yến Lạc, phía
Nam giáp Cư Lễ, phía Đông Giáp xã Vĩnh Yên, huyện Bình Gia và xã Tân
Yên, huyện Trành Định tỉnh Lạng Sơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn6

Tổng số nhân khẩu: 2.479 khẩu; có 568 hộ; gồm có 5 dân tộc Nùng, Tày,
Dao, Kinh, H Mông. Tỷ lệ hộ nghèo hiện còn: 28,7%. Bình quân lương thực:

18,62
12,15
226,30
2008
18,77
12,44
233,50
2009
18,75
12,50
234,55
2010
18,41
12,40
228,55
(Nguồn: FAOSTAT, 2011 [26])
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7

Hiện nay cây sắn được trồng tại 105 quốc gia, trong đó có 64,8%
diện tích sắn được trồng ở Châu Phi, Châu Á chiếm 21,2% và Châu Mỹ
là 14%. ( Bảng 1.2).
Năm 2010 tổng diện tích sắn trồng ở Châu Mỹ là 2,678 triệu ha,
năng suất củ tươi bình quân 12,395 tấn/ha, sản lượng 33,197 triệu tấn.
Năng suất trung bình ở Châu Mỹ cao hơn năng suất trung bình của Châu
Phi là 0,395 tấn/ha. Brazil là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất châu
Mỹ với 1,773 triệu ha – sản lượng 23,354 triệu tấn.
Tồn tại chính trong sản xuất và tiêu thụ sắn ở Châu Mỹ là trình độ

Châu Phi
11,870
10,224
121,361
Nigeria
3,125
12,0
37,504
Cộng hòa Congo
1,855
9,173
15,050
Angola
1,047
13,241
13,859
Ghana
0,875
15,433
13,504
Mozambique
0,950
6,0
5,700
Châu M
2,678
12,395
33,197
Brazil
1,773

Việt Nam
0,496
17,179
8,522
Ấn Độ
0,232
34,755
8,060
Trung Quốc
0,278
16,822
4,684
Nguồn: FAOSTAT, 2011 [26]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn9

Qua phân tích tình hình sản xuất sắn trên thế giới ta thấy rằng, sắn sẽ
đóng vai trò kinh tế quan trọng và ngày càng đa dạng trong việc phát triển
hệ thống lương thực quốc gia trong hai thập kỷ tiếp theo. Cây sắn có hệ
thống cố định Cacbon cho phép cây tiếp tục quang hợp có hiệu quả trong
thời gian thiếu nước kéo dài.
Vì vậy, sắn hiện nay đang được sử dụng như một nguyên liệu phù hợp
để sản xuất ethanol trên toàn Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh. Nhiên liệu
sinh học hiện có tầm quan trọng trong cuộc sống hiện đại kể từ khi giá
nhiên liệu hóa thạch đã bắt đầu tăng vọt do các vấn đề chính trị và cũng là
mối quan tâm ngày càng tăng trên tất cả các vấn đề về ô nhiễm môi trường.
Xem xét những vấn đề này, các nước phát triển và đang phát triển đã xây
dựng chính sách để bắt buộc pha ethanol và diesel sinh học (sản xuất từ các

hơn giống địa phương 2 đến 3 lần.
Ở Braxin quê hương của cây sắn sau 12 năm hoạt động cho mục đích
của ngân hàng gen sắn của Braxin đã thu thập được 1.100 mẫu giống. Từ
năm 1976 đến 1990 họ đã chọn lọc được một số giống sắn phổ biến trong
sản xuất là giống 77, BGM 141, GMP 135, BGM 118 và PGM 187.
Việc nghiên cứu cây có củ của Ấn Độ đã thu thập và bảo quản đánh
giá được 1.354 mẫu giống sắn và lai tạo được hàng chục nghìn hạt sắn lai
phục vụ cho chương trình chọn tạo các giống sắn mới. Năm 1984 đã lai 158
cặp lai để tạo ra hàng nghìn hạt lai phục vụ cho công tác tuyển chọn giống.
Đặc biệt là giống sắn Sree Prekash được chọn lọc trực tiếp dòng nhập nội,
giống này không những có khả năng cho năng suất cao từ 35 - 40 tấn/ha mà
còn có ưu điểm là khả năng thu hoạch sớm (7 tháng sau trồng) lại chống
được bệnh sản do virus gây ra [31].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn11

Chương trình cải tiến giống sắn của Trung Quốc đã được thực hiện tại
các viện nghiên cứu cây trồng của Trung Quốc. Từ những năm 1980, học
viện cây trồng Nam Trung Quốc đã giới thiệu giống sắn có hàm lượng tinh
bột cao và giống sắn chịu lạnh, chịu đất xấu (SC124). Hiện nay giống sắn
SC124 đã được trồng trên 10.000 ha. Những giống sắn mới gần đây của
Trung Quốc có SC201, SC205, SC124, Nanzi 188, GR911, [32].
Ở Malayxia, trong 5.526 hạt lại nhập nội từ CIAT (giai đoạn 1990 -
1993) đã chọn được một dòng chín sớm, năng suất củ tươi cao là MM92
song hàm lượng tinh bột thấp chỉ đạt 20% (S.L Tan và S.K Chon 1995) [6].
Thái Lan là nước xuất khẩu sắn nhiều nhất thế giới nên cũng là nước
có chương trình chọn tạo giống sắn mạnh nhất khu vực châu Á. Tại trung
tâm nghiên cứu cây trồng Rayong mỗi năm có 15.000 - 20.000 hạt lai F1

dinh dưỡng hoặc được bón đầy đủ và hợp lý các loại phân vô cơ, hữu cơ
thì sức sinh trưởng tốt dẫn đến năng suất củ, năng suất sinh học, tỷ lệ tinh
bột đạt cao. Nếu sắn trồng trên đất nghèo dinh dưỡng có sức sinh trưởng
yếu, năng suất củ, năng suất sinh học và tỷ lệ tinh bột trong củ thấp; bón
quá nhiều phân đặc biệt là đạm đối với một số giống sắn có tốc độ sinh
trưởng nhanh sẽ dẫn đến thân lá phát triển nhiều, năng suất sinh vật cao,
năng suất củ tươi giảm, chỉ số thu hoạch thấp. Cũng theo tác giả Howeler
[38] nếu cung cấp P, K vượt mức giới hạn cho phép sẽ ức chế đến sự hấp
thụ các chất dinh dưỡng khác như Fe và Zn hoặc Ca, Mg làm cho sắn sinh
trưởng và phát triển kém, năng suất củ giảm. Việc cung cấp dư thừa đạm
dẫn đến cây sắn phát triển rất mạnh về thân lá, ẩm độ không khí của bộ lá
cao, không bào lá lớn, lá non hơn dẫn đến cây sắn dễ bị sâu bệnh phá
hoại. Bón phân dư thừa sẽ làm tăng giá thành sản xuất và đôi khi làm
giảm năng suất dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Chính vì vậy duy trì việc
cung cấp dinh dưỡng cân đối cho cây sắn là rất cần thiết để đạt năng suất,
chất lượng cao.
Tác giả Duangpatra(1987), [27], cho biết đạm là nguyên tố rất cần
thiết đối với sinh trưởng và phát triển của cây sắn. Cây sắn hấp thu một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn13

lượng N rất lớn từ đất, nên bón đạm làm tăng số lá trên thân, số đốt, số rễ
củ và năng suất củ. Tuy nhiên, theo các tác giả khác thì bón đạm làm giảm
tỷ lệ tinh bột chứa trong củ. Ở các thí nghiệm dài hạn và ngắn hạn cho
thấy sắn phản ứng với đạm rất mạnh, nhất là trên các loại đất nghèo dinh
dưỡng. Phản ứng của sắn đối với các liều lượng N khác nhau đã thể hiện
rõ ngay từ năm thí nghiệm đầu tiên. Ngoài ra có mối quan hệ khá rõ giữa
lượng N bón vào đất và hàm lượng N chứa trong thân lá sắn. Hàm lượng

2
O
5
rất thấp, nhưng P
2
O
5

có thể làm tăng tỷ lệ tinh bột và giảm axit cyanhydric (HCN) trong củ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn14

K là nguyên tố được cây sắn hấp thụ nhiều nhất và là nguyên tố hạn
chế năng suất củ của cây sắn, triệu chứng thiếu hụt K
2
O được đặc trưng bởi
sự giảm tốc độ sinh trưởng của cây sắn và dễ dàng nhận thấy triệu chứng
thiếu K
2
O xuất hiện ở phiến lá và cuống những lá già, thiếu K
2
O dẫn đến là
những lá này bị rụng sớm.
Theo các kết quả nghiên cứu khác tại Côlombia kết quả bón K
2
O
làm tăng năng suất sắn từ 23,0 lên 43,7 tấn/ha và có sự tương quan thuận
giữa năng suất và hàm lượng K

trồng cho thích hợp, nhưng các giống sắn trồng để lấy tinh bột là chính thì
sau trồng 8 – 12 tháng là thu hoạch, còn các giống sắn trồng để ăn tươi thì
có thể thu hoạch rải rác sau trồng từ 6 – 9 tháng [6].
Ở Thái Lan theo tác giả Tonglum và cộng sự thì trồng sắn vào hai
thời vụ là tháng 5 và tháng 11, thời gian thu hoạch có thể kéo dài từ 8 – 18
tháng sau trồng thì năng suất củ tăng tỉ lệ thuận với thời gian thu hoạch [6].
Viện Nông nghiệp Nhiệt đới Nam Trung Quốc thấy thời gian trồng
sắn thích hợp ở Hoa Nam là từ tháng 2 – 4 và sau trồng 10 – 12 tháng thu
hoạch cho năng suất cao [6].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn15

Tại Ấn Độ kết quả nghiên cứu của MohanKumar và cộng sự trồng
sắn vụ 1: Trồng từ tháng 4 đến tháng 9 và vụ 2: Trồng từ tháng 8 đến tháng
9 thấy thu hoạch sắn sau trồng 9 – 11 tháng cho năng suất củ tươi và tỷ lệ
tinh bột cao hơn so với thu hoạch sớm 6,5 tháng sau trồng [6]
Ở Philippin cho rằng tại vùng có mưa quanh năm có thể trồng sắn
vào bất kỳ thời kỳ nào trong năm cũng được nhưng sau trồng 9 – 12 tháng
đều cho năng suất cao, phẩm chất tốt hơn các thời điểm thu hoạch khác [6].
Qua phân tích trên cho thấy về thời vụ trồng sắn. Tuỳ từng tình hình
khí hậu từng nước mà có khác nhau nhưng thường sau trồng 9 – 12 tháng
thì thu hoạch sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt hơn.
1.4. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu sắn trong nƣớc.
1.4.1. Tình hình sn xut sn trong nước.
Ở Việt Nam cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực thành
cây công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản lượng sắn đã tăng nhanh ở
thập kỉ đầu của thế kỉ XXI. Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các
hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh

237,6
8,35
1.986
2005
425,5
15,78
6.716
2006
475,2
16,38
7.783
2007
495,5
16,53
8.193
2008
555,7
16,91
9.396
2009
508,8
16,82
8.557
2010
496,1
17,18
8.522
(Nguồn: FAOSTAT 2011[26])
Qua số liệu ở bảng 1.3 cho thấy tình hình sản xuất sắn qua các năm so
với năm 2000 tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 2000 có

1995
2000
2005
2010
1995
2000
2005
2010
ĐB sông Hồng
10,9
9,9
8,5
7,3
79,0
87,9
92,4
108,8
Vùng núi trung du phía bắc
80,4
82,1
89,4
104,6
606,3
678,5
986,8
1.260,1
Vùng ven biển Trung bộ
94,0
83,8
133,0

64,0
82,3
Nguồn: http://www.gso.gov.vn [39].
Qua bảng số liệu 1.4 ta thấy sản xuất sắn tại Việt Nam đã được chuyển
dần sang miền Trung và khu vực Đông Nam trong những năm gần đây, đặc
biệt là ở các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Đắk Lắk
(chiếm 26,78%); ở miền Đông Nam bộ như Tây Ninh, Đồng Nai, Bình
Phước, Bình Thuận (chiếm 20,52%); tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (chiếm 30,33%). Ba khu vực đã
tăng tất cả các lĩnh vực sản xuất sắn với các mức độ khác nhau. Nổi bật
trong số ba vùng là Tây Nguyên với một gia tăng đáng kể trong giai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn18

đoạn 2005 - 2010. Sản lượng sắn và diện tích sắn ở nhiều tỉnh đã tăng
lên, điều này được kích thích bởi việc xây dựng các nhà máy chế biến
sắn mới có quy mô lớn.
Sản lượng sắn trong từng khu vực có liên quan chặt chẽ đến diện
tích gieo trồng và năng suất, mà chủ yếu phụ thuộc vào việc áp dụng các
giống sắn mới năng suất cao ở mỗi vùng và thông qua các kỹ thuật thực
hành sản xuất bền vững. Trong khi hai mươi năm trước đây, tại Việt
Nam không có các nhà máy sản xuất tinh bột sắn quy mô lớn, hiện nay
có 60 nhà máy chế biến sắn hoạt động với tổng công suất chế biến từ
3.200.000 - 4.800.000 tấn củ tươi/năm. Tổng sản lượng tinh bột sắn tại
Việt Nam được khoảng 800.000 - 1.200.000 tấn, trong đó 70% được xuất
khẩu và 30% được sử dụng trong nước. [3]
Trong thập niên 1980 và 1990 sản lượng sắn tại Việt Nam đã suy
giảm. Nhưng trong mười năm qua (2000 - 2010), sản lượng sắn tăng từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status