1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực
phẩm, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao, có khả năng cải tạo đất tốt. Cây lạc
chiếm vị trí hàng đầu trong các cây có hạt lấy dầu và chiếm một vị trí quan
trọng trong nền kinh tế nông nghiệp, không chỉ do được gieo trồng trên diện
tích lớn ở nhiều quốc gia mà còn vì lạc được sử dụng rộng rãi để làm thực
phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp. Một giá trị vô cùng quan trọng của cây
lạc về mặt sinh học là có khả năng cố định đạm khi cộng sinh với vi khuẩn
(Rhizobium) Chính vì vậy, cây lạc không đòi hỏi bón nhiều phân đạm, trồng ở
đất nghèo dinh dưỡng vẫn có thể cho năng suất, đồng thời cải tạo đất tốt.
Ở Việt Nam sản xuất lạc được phân bố trên tất cả các vùng sinh thái
nông nghiệp của nước ta, diện tích lạc chiếm khoảng 28% tổng diện tích gieo
trồng các cây công nghiệp hàng năm (Nguyễn Thị Chinh, 2005) [7] và có xu
hướng tăng trong giai đoạn từ 2001 - 2011. Theo số liệu thống kê năm 2012
diện tích lạc toàn quốc là (223.700 ha) sản lượng (465.900 tấn), năng suất trung
bình (20,8 tạ/ha).
Tổng cục thống kê năm 2010 [25], lạc có ý nghĩa lớn trong xuất khẩu và
sản xuất dầu ăn, hiện nay chúng ta vẫn còn phải nhập. Hơn nữa, cây lạc lại
thích ứng tốt với vùng đất nhiệt đới bán khô hạn như ở Việt Nam nơi mà khí
hậu biến động và canh tác gặp nhiều khó khăn. Trong những năm gần đây, nhờ
sự chuyển dịch theo hướng nền kinh tế thị trường, sản xuất nông nghiệp của
nước ta đã thu được những thành tựu đáng kể.
Đối với cây lạc, các nhà khoa học đã và đang tập trung nghiên cứu, khảo
nghiệm tìm ra những bộ giống thích hợp nhất cho từng vùng lãnh thổ. Sản xuất
lạc Việt Nam đang tiếp cận dần đối với tiến bộ khoa học trên thế giới, góp phần
đẩy mạnh sản xuất, tăng năng suất và sản lượng lạc, dần đáp ứng được nhu cầu
về lạc cho tiêu dùng và công nghiệp chế biến trong nước và xuất khẩu. Hiện
nay cây lạc đã được trồng nhiều phổ biến ở các tỉnh như là vùng đồng bằng
2
- Nghiên cứu xác định tổ hợp phân bón vô cơ, (N,P,K) và mật độ, thời vụ
trồng thích hợp đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc giống L14
trên đất rẫy của huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1.Ý nghĩa khoa học
- Đề tài góp phần bổ xung cơ sở lý luận cho việc phát triển các giống lạc
mới vụ hè thu ở tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Qua trên kết quả nghiên cứu
về khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc mới vụ
hè thu trên đất rẫy.
- Xác định được một giống lạc có năng suất cao, chất lượng hạt tốt và
một số biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất lạc trên đất rẫy của
huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng.
3.2 .Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua kết quả đề tài, khuyến cáo cho người nông dân trong vùng sử
dụng giống lạc mới, áp dụng một số biện pháp kỹ thuật phù hợp như mật độ,
thời vụ, liều lượng phân bón (N,P,K) cho cây lạc, để góp phần nâng cao năng
suất, sản lượng và hiệu quả sản xuất lạc trên đất rẫy ở huyện Quảng Uyên tỉnh
Cao Bằng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trong vụ hè thu năm 2012 và vụ hè thu năm
2013 tại huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng.
- Vật liệu nghiên cứu một số giống lạc do viện nghiên cứu nông nghiệp
cung cấp.
- Mật độ, thời vụ và lượng phân bón cho lạc trong thí nghiệm sử dụng
quy phạm khảo nghiệm giống cây trồng QCVN 01-57 : 2011/BNNPTNT do Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 2011 làm cơ sở khoa học
để thực hiện.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
0
C thay đổi tuỳ theo giống.
Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lạc. Tuy
lạc được coi là cây trồng chịu hạn, song thực ra lạc chỉ chịu hạn ở một giai
đoạn nhất định. Độ ẩm đất trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc yêu cầu
khoảng 70 - 80% độ ẩm giới hạn đồng ruộng. Yêu cầu này có cao hơn một chút
ở thời kỳ ra hoa, kết quả (80 - 85%) và giảm ở thời kỳ chín của hạt.
5
Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của cây lạc từ khi
mọc đến thu hoạch (không kể thời kỳ nảy mầm) là 450 – 700 mm. Lạc là cây
ngắn ngày song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với nhiều
trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ. Số giờ nắng/ngày có ảnh
hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc. Quá trình nở hoa thuận lợi
khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng.
Để thâm canh tăng năng suất cây lạc, cũng như thâm canh bất kỳ một
loại cây trồng nào khác, người ta phải áp dụng một hệ thống biện pháp kỹ
thuật, trong đó có những biện pháp tác động lên đất, có những biện pháp nhằm
chủ yếu vào cây lạc, có những biện pháp nhằm vào những loài sinh vật khác
trong hệ sinh thái đồng ruộng…nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho cây
lạc phát triển và tạo ra năng suất hạt lạc cao nhất.
Hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng xuất lạc bao gồm:
- Gieo trồng các giống lạc tốt.
- Chọn đất thích hợp, làm đất kỹ.
- Gieo đúng thời vụ, đúng kỹ thuật.
- Bón phân đầy đủ, cân đối, hợp lý.
- Chăm sóc chu đáo kịp thời.
- Thu hoạch đúng thời vụ, kỹ thuật, bảo quản lạc tốt.
- Phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại đúng kỹ thuật.
- Thực hiện luân canh, xen canh, tăng vụ có cơ sở khoa học và thực tế.
Điều đầu tiên cần lưu ý là tính hệ thống của các biện pháp. Trong một hệ
1.2.1. Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt
Cây lạc thuộc họ đậu, bộ rễ có vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) sống cộng
sinh, có khả năng cố định nitơ phân tử ở ngoài không khí để cung cấp dinh
dưỡng cho cây. Nhờ khả năng đặc biệt này mà trồng lạc không cần bón nhiều
đạm như các loại cây trồng khác nhưng vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời còn
cung cấp trở lại cho đất một lượng đạm đáng kể.
7
Lạc là cây trồng được sử dụng nhiều trong các công thức luân canh trồng
trọt, việc luân canh cây họ đậu với cây trồng khác đã góp phần cải thiện chế độ
dinh dưỡng khoáng với các loại cây trồng, có khả năng làm giảm mức độ sói
mòn của đất, nâng cao độ phì của đất đặc biệt trong mùa mưa [14].
Theo kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, đặc biệt là
việc thử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn đã rút ra được những
kết luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: đưa các cây họ đậu vào luân canh
với ngô, sắn giúp cải thiện tính chất lý, hoá của đất một cách rõ rệt, làm thay
đổi pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng
lượng lân, kali dễ tiêu trong đất.
Ngô Đức Dương (1984) [12] khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùng
chuyên canh lạc phía Bắc nước ta đã kết luận: Cây lạc luân canh tốt nhất với
cây trồng họ hoà thảo đặc biệt là với lúa nước, ở thời điểm một năm sau khi
luân canh với cây lúa chế độ dinh dưỡng đất được cải thiện rõ rệt, pH đất tăng,
lượng chất hữu cơ tăng, hàm lượng đạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trong
đất đều tăng.
Theo tác giả Lê Văn Diễn và cộng sự (1991) [13] khi so sánh hiệu quả
kinh tế của các công thức luân canh trên các chân đất khác nhau ở một số vùng
chuyên canh lạc vùng đồng bằng Bắc Bộ đã chỉ ra rằng: ở tất cả các công thức
luân canh có lạc Xuân đều cho tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả đồng vốn
đầu tư cao hơn so với các công thức luân canh khác trên cùng một loại đất.
Đồng thời, khi so sánh hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính ở vụ Xuân
như: lúa, lạc, đậu tương, ngô, các tác giả cũng ghi nhận việc trồng lạc trong vụ
Senegal 1,05 1,19 0,86 0,97 1,07 0,60 1,03 1,28 0,52
Châu Mỹ 0,98 1,01 0,99 2,95 3,09 3,06 2,90 3,13 3,04
Indonesia 0,62 0,62 0,54 1,25 1,25 1,28 0,77 0,78 0,70
Việt Nam 0,24 0,23 0,22 2,08 2,10 2,08 0,51 0,49 0,46
Nguồn: Faostat, [38]
Qua bảng 2.1 cho thấy: Diện tích trồng lạc của các nước trên trên thế giới
đều có xu hướng giảm dần. Chỉ riêng Trung Quốc là nước có diện tích trồng lạc
tăng liên tục năm 2011 tăng (0,27 triệu ha) so với năm 2009. Ấn Độ có diện
tích trồng lạc năm 2011 chiếm (4,19 triệu ha) giảm (1,28 triệu ha) so với 2009.
Nigeria diện tích tăng năm 2009 và 2010 tuy nhiên tốc độ tăng chậm, nhưng
đến năm 2011 lại giảm (0,3triệu ha) so với 2009. Senegal diện tích năm 2011
(0,86 triệu ha) giảm so với 2010 (0,33 triệu ha) và (0,19 triệu ha) so với năm
2009. Với Châu Mỹ có diện tích trồng lạc nhỏ, năm 2009 (0,98 triệu ha) năm
2010 có sự tăng diện tích (0,02 triệu ha) so với năm 2011. Indonesia là nước có
diện tích trồng lạc giảm liên tục qua các năm từ 2009 đến 2011 tính đến năm
2011 đã giảm (0,08 triệu ha) so với 2009. Điều đó chứng tỏ cây lạc không được
9
chú trọng đầu tư mở rộng diện tích ở đây. Ở Việt Nam diện tích cây lạc cũng
giảm liên tục, năm 2009 diện tích chiếm 1,0% tổng diện tích trồng lạc thế giới.
Đến năm 2010 diện tích lại giảm (0,01 triệu ha) so với năm 2009. Năm 2011
lúc này diện tích của Việt Nam chiếm 1,01% tổng diện tích trồng lạc thế giới.
Giai đoạn từ 2009 - 2011, năng suất lạc thế giới hầu như không tăng, chỉ
diao động từ (1,52 tấn/ha đến 1,77 tấn/ha). Chứng tỏ trong giai đoạn gần đây
không có biến động nào lớn trong sản xuất làm thay đổi năng suất. Các nước có
năng suất lạc tăng đó là: Ấn Độ, Indonesia. Trong đó năng suất tăng nhiều nhất
là Ấn Độ năm 2011 tăng (0,65 tấn/ha) so với năm 2009. Các nước có năng suất
tăng, giảm không ổn định là: Nigeria, Senegal, Châu Mỹ. Trong đó Nigeria
năm 2011 giảm (0,1 tấn/ha) so với năm 2010. Về Senegal năm 2011 giảm (0,37
tấn/ha) so với năm 2009. Còn Châu Mỹ năng suất lạc năm 2011 cũng giảm
(0,11 tấn/ha) so với năm 2009. Ở các nước này, sản xuất lạc sớm được đầu tư
Achentina là nước đứng thứ 3 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu
(36,2 nghìn tấn), chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới. Hà Lan là nước
nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới từ năm 1991 - 2000, trung bình hàng năm nhập
khẩu (39,8 nghìn tấn), chiếm 13,9% tổng lượng lạc nhập khẩu của thế giới.
Đứng thứ 2 là Indonesia, bình quân hàng năm nhập khẩu (34,3 nghìn tấn). Từ
năm 2000 - 2005, châu Âu là thị trường nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới, chiếm
60% tổng lượng nhập khẩu lạc của thế giới với khoảng (460 nghìn tấn) mỗi
năm, tiếp theo là thị trường Nhật Bản, nhập khẩu (130 nghìn tấn) lạc mỗi năm
[48].
1.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ những năm 1980, sản xuất lạc có chiều hướng phát triển
ngày càng tăng. Tuy nhiên, do trước đây cây lạc chưa được chú ý nhiều nên
năng suất còn thấp. Trong 10 năm từ năm 1981 đến năm 1990, diện tích lạc
tăng bình quân (7%/năm), sản lượng tăng (9%/năm). Từ năm 1990 - 1995, sản
xuất lạc tăng cả về diện tích và sản lượng, song năng suất còn thấp, chỉ đạt
11
khoảng (1 tấn/ha). Những năm từ 1996 - 1998 diện tích và sản lượng lạc tăng
rõ rệt, năng suất đạt gần (1,5 tấn/ha).
Theo Ngô Thế Dân và CS, (2000) [5], sự biến động về diện tích, năng
suất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 đến 1998 chia làm 4 giai đoạn:
Từ năm 1975 - 1979: Giai đoạn này diện tích gieo trồng có xu thế giảm từ (97,1
ngàn ha) năm 1976, xuống còn (91,8 ngàn ha) năm 1979, giảm bình quân
(2,0%/năm). Năng suất và sản lượng giai đoạn này cũng giảm, năm 1976 năng
suất đạt (10,3 tạ/ha), đến năm 1979 chỉ còn (8,8 tạ/ha), giảm 5,0%. Nguyên
nhân chính là thực trạng phong trào hợp tác xã hoá bị sa sút, yêu cầu giải quyết
đủ lương thực cần thiết đặt lên hàng đầu, sản xuất lạc lúc này chủ yếu mang
tính tự cung, tự cấp nên cây lạc không được đầu tư phát triển.
Từ năm 1980 - 1987: Thời kỳ này diện tích trồng lạc tăng nhanh từ (91,8
ngàn ha) năm 1979 lên (237,8 ngàn ha) năm 1987. Tốc độ tăng trưởng hàng
năm từ (5,6%/ năm đến 24,8%/ năm). Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so với
2010 231,4 21,1 487,2
2011 223,7 20,8 465,9
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam 2012 [322]
Qua số liệu bảng 2.2: Trong giai đoạn từ 2001 - 2011, sản xuất lạc ở Việt
Nam đã có những chuyển biến tích cực, năng suất và sản lượng có chiều hướng
tăng. Trong năm 2011 diện tích (223,7 nghìn ha) có chiều hướng giảm (20,9
nghìn ha) so với năm 2001. Vế năng suất tăng (4,9 tạ/ha) so với 2001, sản
lượng (465,9 nghìn tấn), tăng (102,8 nghìn tấn) so với 2001. Năm 2011 so với
2010 thì diện tích giảm (7,7 nghìn ha) và năng suất giảm (1,4 tạ/ha), sản lượng
giảm (21,3 nghìn tấn).
Sản suất lạc được phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp
Việt Nam ở nước ta đã hình thành 6 vùng sản xuất lạc chính như sau:
Vùng 1: Đồng bằng sông Hồng
Vùng 2: Trung du và miền núi phía Bắc
Vùng 3: Bắc trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Vùng 4: Tây Nguyên
Vùng 5: Đông Nam Bộ
Vùng 6: Đồng bằng sông cửu Long
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở 6 vùng sản xuất lạc của Việt
Nam giai đoạn 2001 - 2011
-Diện tích Nghìn ha
Vùng 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
1 33,5 33,2 34,1 36,5 37,6 33,0 34,7 34,5 31,4 30,2 29,4
2 36,9 36,2 36,3 39,3 42,8 41,6 44,2 50,5 50,5 37,6 37,1
3 109,1 105,8 105,1 111,3 116,0 107,1 111,2 108,3 108,9 103,1 99,3
4 23,0 25,4 24,3 25,3 24,5 23,1 21,0 19,5 17,5 17,4 16,9
13
5 34,0 35,9 33,8 38,4 34,8 29,9 29,8 29,6 24,9 20,1 15,4
6 8,1 10,2 10,2 12,9 13,8 12,1 13,4 13,7 12,6 11,1 12,6
Nguồn: Web, [2]
tạ/ha) so với năm 2001. Như vậy cây lạc từ năm 2004 đến 2011 có biến động
về năng suất không ngừng tăng, điều đó cho thấy cây lạc được chú trọng và đầu
tư.
Vùng 2: Trung du miền núi phía Bắc, năng suất (25,0 tạ/ha) tăng hơn so
với năm 2001 (12,8 tạ/ha). Năm 2011 chỉ thấp hơn vùng 1 là (0,5tạ/ha).
Vùng 3: Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung, năng suất (19,2 tạ/ha),
tăng (5,8 tạ/ha) so với năm 2001, năng suất đứng thứ 5 trong cả nước.
Vùng 4: Tây Nguyên, là vùng có năng suất thấp nhất trong cả nước (17,7
tạ/ha) nhưng cũng đã tăng (5,2 tạ/ha) so với năm 2011, chính tỏ vùng này cây
lạc chưa được quan tâm chăm sóc đúng kỹ thuật.
Vùng 5: Đông Nam Bộ, có năng suất (25,2 tạ/ha) gần tương đương với
năng suất vùng 1, trong năm 2011cũng tăng (6,1 tạ/ha) so với năm 2001,
Vùng 6: Đồng bằng sông Cửu Long, năng suất cao nhất cả nước (32,1
tạ/ha), tăng (11,6 tạ/ha) so với năm 2001, cũng là vùng được chú trọng nhất về
kỹ thuật xản suất lạc.
-Sản lượng Nghìn tấn
Vùng 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
1 59,0 61,0 67,9 79,9 79,7 73,7 78,0 82,4 72,8 73,0 74,9
2 45,2 44,0 46,6 62,3 64,0 60,1 70,2 85,3 86,7 88,9 92,5
3 146,0 162,4 162,2 183,8 186,0 184,8 204,0 204,0 210,7 203,1 191,0
4 28,8 27,8 33,8 17,3 33,8 33,1 32,9 30,9 30,3 30.4 29,9
5 67,5 81,5 71,9 91,5 85,4 75,0 82,0 84,2 68,7 51,4 38,9
6 16,6 23,7 23,8 34,2 40,4 35,8 42,9 43,4 41,7 40,4 41,5
Sản lượng của vùng 3: Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung là vùng
có sản lượng lớn nhất cả nước (191000 tấn), tăng hơn (45000 tấn) so với 2001.
Đứng thứ 2 về sản lượng trong cả nước là vùng 2: Trung du miền núi phía Bắc,
sản lượng (92500 tấn) tăng (47,3 tấn) so với năm 2001. Tiếp theo là vùng 1:
Đồng bằng sông Hồng, sản lượng (74900 tấn), tăng (15,9 tấn) so với năm 2001,
15
đứng thứ 3 trong nước. Vùng đứng thứ 4 trong nước: Đồng bằng sông Cửu
2007 1,4 12,8 1,8
2008 1,6 13,7 2,2
2009 1,3 13,1 1,7
2010 1,4 13,6 1,9
2011 1,7 13,5 2,3
Nguồn: Thống kê tỉnh Cao Bằng 2012 [90]
16
Do diện tích và năng suất lạc có xu hướng tăng nên sản lượng cũng tăng
dần từ năm 2001 đến nay. Tính đến năm 2011, sản lượng lạc của tỉnh đạt (2300
tấn), tăng (1,900 tấn) so với năm 2001.
1.3.4.Tình hình sản xuất lạc ở Quảng Uyên
Qua số liệu bảng 2.5: Từ năm 2001 trở lại đây, diện tích trồng lạc của
huyện có tăng nhưng tốc độ chậm và không đều, thậm chí có năm diện tích còn
giảm mạnh (năm 2004 và 2005). Năng suất lạc của huyện nhìn chung còn thấp,
cao nhất là (11,5 tạ/ha) vào năm 2012. Sản lượng tăng từ năm (2007 đến 2009).
Sau đó, năm 2010 lại giảm mạnh. Từ năm 2011 đến nay, cả năng suất và sản
lượng đều tăng.
Qua điều tra tình hình sản xuất lạc ở một số xã điển hình của huyện, sau
khi tổng hợp kết qủa điều tra cho thấy, nguyên nhân hạn chế sản xuất lạc ở
huyện Quảng Uyên.
- Thiếu giống có năng suất cao phù hợp cho các vùng sinh thái khác
nhau. Thực tế điều tra, chúng tôi thấy các giống lạc mới đưa vào sản xuất ở
Quảng Uyên còn ít, hầu hết các xã chỉ trồng bằng giống lạc đỏ địa phương.
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc huyện Quảng Uyên năm
2003 - 2012
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
suất trên đơn vị diện tích.
1.4. Tình hình nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và trong nước
1.4.1. Tình hình nghiên cứu về cây lạc trên thế giới
1.4.1.1.Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới
Việc cải tiến giống lạc, tạo ra các giống mới có năng suất cao, phẩm chất
tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng được sâu bệnh, thích ứng rộng với điều
kiện ngoại cảnh đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản lượng lạc
trên thế giới. Do đó, việc nghiên cứu về chọn tạo giống lạc đang ngày càng
được chú trọng.
Viện nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) là cơ
sở lớn nhất nghiên cứu về cây lạc. Tính đến năm 1993, Viện đã thu thập được
(13.915) lượt mẫu giống lạc từ 99 nước trên thế giới, trong đó châu Phi (4.078);
châu Á (4.609); châu Âu (53); châu Mỹ (3.905); châu Úc và châu Đại Dương
(59); còn (1.245) mẫu giống chưa rõ nguồn gốc [43].
Trong số (13.915) lượt mẫu giống đã thu thập, bằng các đặc tính hình
thái - nông học, sinh lý - sinh hoá và khả năng chống chịu sâu bệnh (ICRISAT)
đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọn
tạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu
cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm… Trong đó, các
giống chín sớm điển hình là Chico, 91176, 91776, ICGS (E) 71 [47].
18
Hiện nay, công tác chọn tạo giống lạc của Trung Quốc được tập trung
vào các mũi nhọn như: năng suất cao, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, mốc
vàng, chịu hạn. Con đường tạo giống chủ yếu vẫn là lai hữu tính. Nhưng gần
đây, Trung Quốc quan tâm nhiều đến việc lai xa, lai khác loài để tạo ra các
giống mới có khả năng chống chịu cao, 4 giống lạc mới ra đời có tiềm năng
năng suất 14 tấn/ha (Huayu 19, Huayu 16, Huayu 17, Huayu 14) (Li Jianping
(1992) [46].
Ấn Độ cũng là một nước đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong công
tác chọn tạo giống lạc nói chung và giống lạc chín sớm nói riêng bằng nhiều
Virginia được gieo trồng trong vụ Xuân như Luhua 4, Hua 17 trên đất có độ phì
trung bình thì mật độ khoảng (220.000 - 270.000 cây/ha), còn đối với đất giàu
dinh dưỡng mật độ là (200.000 - 240.000 cây/ha). Các giống lạc thuộc loại hình
Spanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là (360.000 -
420.000 cây/ha). Trong điều kiện trồng phụ thuộc vào nước trời mật độ là
(300.000 - 380.000 cây/ha) [5].
Miền Nam Trung Quốc, với giống đứng cây trồng trong vụ Xuân trên đất
đồi hoặc trong vụ lạc Thu ở đất lúa, mật độ trồng thích hợp là (270.000 -
300.000 cây/ha) [40].
Ở Mỹ, lạc có năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách (45 - 68 cm x
10 - 15 cm). Trong điều kiện có tưới thì khoảng cách trồng là (22,5 cm x 10
cm) tương đương mật độ (44 cây/m
2
) đạt năng suất cao nhất [50].
1.4.1.3. Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân cho cây lạc trên thế
giới.
a, Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng của cây lạc
Hầu hết đất trồng lạc có thành phần cơ giới nhẹ nên nghèo dinh dưỡng,
vì vậy sự sinh trưởng của cây lạc phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡng mà
cây được cung cấp trong một vụ canh tác. Cũng như các loại cây trồng khác,
20
cây lạc cần dưỡng chất khoáng đa lượng lẫn vi lượng, đặc biệt là P, Ca, Mo. Vì
thế trong dân gian có câu "không lân không vôi thì thôi trồng lạc".
Đạm (N): Thời kỳ lạc hấp thu đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa, làm quả
và hạt, thời kỳ này chỉ chiếm 25% tổng thời gian sinh trưởng của cây lạc,
nhưng hấp thụ từ 40 - 45% nhu cầu đạm của cả chu kì sinh trưởng [1]. Nguồn
đạm do vi khuẩn cộng sinh cố định đạm cung cấp có thể đáp ứng được 50 -
70% nhu cầu đạm của cây và sau khi thu hoạch nó để lại trong đất một lượng
đạm đáng kể [14].
Tuy nhiên các nốt sần chỉ xuất hiện khi lạc có cành nhánh và phát triển
sẽ làm cho cây sinh trưởng chậm lại, các lá bị chết khô và chuyển màu [27]. Ở
những lá già, khi bị thiếu kali thì phần mép lá xuất hiện các đốm vàng nhạt,
phần còn lại vẫn có màu xanh đặc trưng. Còn trên các lá non thì hiện tượng
chuyển màu lại tương đối đều hơn, có khi còn có những chấm nhỏ màu nâu
hoặc vàng, lá chét sẽ uốn cong như hình thìa.
Bón kali cho lạc trên đất có độ phì trung bình đã làm tăng khả năng hấp
thu N và P. Nếu thừa K sẽ cản trở sự hấp thụ Ca, Mg, đặc biệt ở vùng quả, làm
thối quả, quả không mẩy [4].
Can xi: Là nguyên tố không thể thiếu khi trồng lạc. Việc bón vôi cho lạc
đã được nông dân ta sử dụng từ thập kỷ 60 lại đây và đã được đưa vào quy
trình kỹ thuật từ nhiều năm nay. Bón vôi cho lạc không chỉ có ý nghĩa là để làm
tăng trị số pH của đất mà còn là chất dinh dưỡng cần thiết cho lạc, đồng thời
tạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn cố đinh đạm phát triển dễ dàng [27]. Ca
là một trong những yếu tố quan trọng nhất để sản xuất lạc hạt to. Nhu cầu Ca
của lạc cao nhất là thời kỳ hình thành quả và hạt [4]. Kết quả nghiên cứu thử
nghiệm (1991 - 1993) của Viện KHKTNNVN tại Nghệ An và Hà Bắc cho thấy:
Bón vôi cho lạc ở hầu hết các điểm đều cho năng suất tăng lên đáng kể, từ (8,5
- 36%) ở Nghệ An và (13 - 19,5%) ở Hà Bắc.
22
Magiê, lưu huỳnh và các nguyên tố vi lượng: Có liên quan trực tiếp đến
quang hợp của cây. Tuy nhiên, ít thấy có biểu hiện thiếu magiê trên đồng
ruộng, tuy rằng lượng magiê cây hấp thu là tương đương hoặc cao hơn chút ít
so với lượng lân hấp thu.
Lưu huỳnh (S): Là thành phần của nhiều loại axitamin quan trọng trong
cây, vì vậy, nó có mặt trong thành phần prôtêin của lạc. Thiếu lưu huỳnh, sự
sinh trưởng của lạc bị cản trở, lá có biểu hiện vàng nhạt, cây chậm phát triển
[2].
Các nguyên tố vi lượng có vai trò điều chỉnh các hoạt động sống của
cây. Đối với lạc, có hai nguyên tố vi lượng quan trọng nhất là molipđen và bo.
Molipđen có tác dụng tăng hoạt tính vi khuẩn nốt sần, tăng khả năng đồng hóa
O
5
, 20 - 40kg K
2
O cho 1 ha là
mức bón tối ưu cho lạc ở Ấn Độ [40].
Ở Trung Quốc, bón Gypsun (hợp chất có hàm lượng Canxi cao) với
lượng 375kg/ha cho đất nâu ở Wubei đã làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha,
tăng 11,8% so với đối chứng không bón. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng,
so với bón riêng lẻ N, P, K thì bón kết hợp đã làm tăng khả năng hấp thu đạm
của cây lên 77,33%, của lân lên 3,75%. Tỷ lệ bón phối hợp (N,P,K) thích hợp
nhất đối với lạc là 1:1, 5:2 [36].
Theo Cornejo (1961), người Tây Ban Nha trồng lạc sau khoai tây và tập
trung phân bón cho cây khoai tây với lượng: 60 tấn phân chuồng, 600kg Supe
lân, 200 - 300kg KCl cho 1 ha thì vẫn có thể đạt năng suất của lạc (trồng sau
khoai tây) là 2,5 - 3,5 tấn/ha.
Ở Mỹ, nhiều vùng trồng lạc cũng cho thấy bón P, K cho cây bông là cây
trồng trước của lạc có hiệu quả hơn bón trực tiếp cho lạc.
Qua phân tích các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy:
Công tác nghiên cứu chọn tạo giống lạc và các biện pháp kỹ thuật canh
tác đã được các Quốc gia, các tổ chức và các nhà khoa học trên thế giới quan
tâm nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ. Các kết quả nghiên cứu đã được
ứng dụng thành công và mang lại hiệu quả sản xuất to lớn tại nhiều nước như
Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ
Bên cạnh việc nghiên cứu chọn tạo ra giống có năng suất cao, chất lượng
tốt, có tính chống chịu các nhà khoa học còn đầu tư nghiên cứu nhiều về các
biện pháp kỹ thuật canh tác gồm: Bón phân khoáng, bón vôi, gieo trồng với
mật độ thích hợp.
1.4.2. Tình hình nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam
1.4.2.1. Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống ở việt nam
màu hồng, năng suất cao ổn định [10]. Từ 1986 đến 1990, Viện KHNN Miền
Nam đã xử lí đột biến 3 giống: Lì, Bạch Sa 77, Trạm Xuyên đã chọn được các
25
dòng triển vọng là: L15-2-1, L25-4-1, TX15-1-2, TX 10-7-2BS 1-1-1. Giống
4329 được chọn tạo từ xử lý đột biến giống Hoa 17, giống có nguồn gốc Trung
Quốc, có thời gian sinh trưởng 130 - 140 ngày, năng suất đạt trên 20 tạ/ha, tỷ lệ
hạt cao [22].
Các giống được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính: Giống lạc Sen
Lai 75/23 được chọn tạo từ việc lai hữu tính 2 giống Mộc Châu Trắng và Trạm
Xuyên, có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tương đối chịu rét, vỏ lạc màu
hồng, hạt to phù hợp xuất khẩu [10]. Giống L12 được chọn tạo từ tổ hợp lai
giữa V79 và ICGV 87157, có năng suất trung bình là 30 tạ/ha, chịu hạn khá,
nhiễm trung bình một số bệnh như đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt, khối lượng 100
hạt 50 - 60g [27].
Giai đoạn 1996 - 2004 chương trình giống Quốc gia đã chọn tạo được 16
giống lạc, trong đó các giống lạc có năng suất vượt trội là L18, L14; giống có
khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn năng suất khá MD7, giống chất lượng
cao L08, giống chịu hạn L12 hiện đang phát triển mạnh ở các tỉnh Phía Bắc.
Các giống lạc VD1, VD2 năng suất cao hơn Lỳ địa phương, phù hợp cho các
tỉnh phía Nam [24].
Một số giống tiến bộ kỹ thuật điển hình đang trồng phổ biến ngoài sản
xuất trên cả nước:
Giống L02: Năng suất trung bình đạt (35 tạ/ha), trong điều kiện thâm
canh tốt, năng suất có thể đạt tới 50 tạ/ha, kháng khá với bệnh đốm lá, gỉ sắt,
héo xanh vi khuẩn [3].
Giống L08: Năng suất trung bình đạt (30 tạ/ha), kháng sâu chích hút,
bệnh hại lá và bệnh héo xanh vi khuẩn ở mức trung bình [21].
Giống MD7: Là giống có tính thích ứng rộng, trồng thuần hay trồng xen
đều có năng suất, trung bình đạt (35 tạ/ha), kháng bệnh héo xanh rất cao hiện
được trồng phổ biến ở nhiều vùng sinh thái của nước ta [22].