Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MINH KHÔI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT THÂM CANH GIỐNG LÚA J02 VÀ ĐS1
TẠI PHÚ LƢƠNG - THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn Nguyễn Minh Khôi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng, hình trong luận văn vi
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
1.2.1. Mục tiêu tổng thể 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới 5
2.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 5
2.2.2. Tình hình nghiên cứu phân bón trên thế giới 12
2.2.3. Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới 14
2.3. Tình hình sản xuất nghiên cứu lúa ở Việt Nam 15
2.3.1. Tình hình nghiên cứu phân bón ở Việt Nam 20
5.1.3. Chiều cao cây của các giống lúa trong thí nghiệm 84
5.1.4. Đối với khả năng chống chịu sâu, bệnh hại 85
5.1.5. Năng suất thực thu của các giống lúa trong thí nghiệm 85
5.1.6. Chất lƣợng gạo của các giống lúa thí nghiệm 85
5.1.7. Hiệu quả kinh tế 85
5.2. Kiến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ NN và PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CCCC : Chiều cao cuối cùng
CV : Hệ số biến thiên - Coefficient of Variation
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
FAO : Food and Agricuture Organization
IRRI : Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế
(International Rice Research Institute)
KL
1000
hạt : Khối lƣợng 1000 hạt
NHH : Nhánh hữu hiệu
NTĐ : Nhánh tối đa
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
TGST : Thời gian sinh trƣởng
chống chịu sâu bệnh của các giống lúa trong thí nghiệm 2 68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vii
Bảng 4.12. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa
trong thí nghiệm 1 71
Bảng 4.13. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa
trong thí nghiệm 2 75
Bảng 4.14. Chất lƣợng gạo của các giống lúa thí nghiệm 79
Bảng 4.15. Hoạch toán kinh tế cho 1 ha trong thí nghiệm 1 81
Bảng 4.16. Hoạch toán kinh tế cho 1 ha trong thí nghiệm 2 83
Hình 4.1. Thời tiết vụ mùa năm 2010 tại Thái Nguyên 43
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
bản nhất đó là số bông/m
2
. Giống mới cũng chỉ phát huy đƣợc tiềm năng của mình
cho năng suất cao khi đƣợc bón đủ phân và bón phân hợp lý [21].
Ôn Lƣơng là một xã phía tây của huyện Phú Lƣơng - tỉnh Thái Nguyên
có trên 300 ha diện tích lúa/năm. Việc khai thác sử dụng đất 2 vụ trong vụ
xuân và vụ mùa hiện nay ở Ôn Lƣơng đang đƣợc thúc đẩy theo hƣớng chuyển
dịch cơ cấu sản xuất, nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế
góp phần không nhỏ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của xã, giải quyết
vấn đề lƣơng thực nhất là gạo có chất lƣợng cao cho ngƣời dân đô thị, tận
dụng nguồn lao động nông nhàn sẵn có, ngoài ra khai thác đất 2 vụ gieo trồng
bằng các giống lúa chất lƣợng cũng góp phần làm thay đổi tập quán, phƣơng thức
sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất hàng hoá của một bộ phận nông
dân nông thôn, đó là những mặt tích cực mà việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhất
là chuyển dịch cơ cấu giống lúa trong nông nghiệp đem lại cho nông dân.
Mục tiêu phấn đấu trong thời gian tới là góp phần nâng cao thu nhập
cho nông dân trên một đơn vị diện tích, thực hiện thành công chủ trƣơng
chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong vụ mùa, vụ xuân tiến tới khai thác cây trồng
vụ đông, xây dựng thành công mô hình những cánh đồng đạt và vƣợt 50 triệu
đồng trên một ha theo phong trào thi thi đua mà ngành nông nghiệp phát động.
Muốn làm đƣợc điều đó, trƣớc hết cần phải có những nghiên cứu thử
nghiệm ban đầu để làm mô hình khuyến cáo mở rộng.
Xuất phát từ tình hình trên chúng tôi thực hiện đề tài:
“ Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lúa JO2
và ĐS1 tại Phú Lƣơng Thái Nguyên.”
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng thể
Nâng cao năng suất, chất lƣợng lúa cho vùng sản xuất lúa cao sản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Các giống lúa khác nhau có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái,
thổ nhƣỡng ở mỗi vùng khác nhau. Để xác định đƣợc giống tốt cho một vùng
sản xuất nào đó cần phải tiến hành khảo nghiệm, gieo cấy thử nghiệm qua
một vài vụ sản xuất để đánh giá khả năng thích ứng của giống đó. Do đó việc
xác định tính thích nghi của giống nào đó trƣớc khi đƣa ra sản xuất trên diện
rộng phải tiến hành bố trí gieo trồng tại nhiều vùng có đặc điểm sinh thái khác
nhau nhằm đánh giá khả năng thích ứng, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng
chống chịu sâu, bệnh, mức độ chịu đất chua mặn, khả năng cho năng suất,
hiệu quả kinh tế của giống đó so với các giống đang gieo trồng đại trà hiện có
tại một khu vực hoặc một địa phƣơng nào đó.
Hoạt động chính của ngƣời nông dân là sản xuất nông nghiệp. Trong
lĩnh vực trồng trọt đối tƣợng cần nghiên cứu là giống cây trồng và các yếu tố
ảnh hƣởng đến chất lƣợng của nó nhƣ nƣớc, phân bón, thời tiết, khí hậu…
Năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng chịu tác động của
các yếu tố tự nhiên nhƣ đất, nƣớc, dinh dƣỡng, khí hậu, thời tiết đồng thời nó
cũng chịu tác động trực tiếp của các yếu tố kinh tế - xã hội nhƣ trình độ canh
tác, biện pháp kỹ thuật, khả năng đầu tƣ, thâm canh…việc bón phân và bố trí
mật độ hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất,
tận dụng nguồn năng lƣợng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh hại, tạo tiền
đề cho năng suất cao. Ngoài ra, việc bố trí mật độ hợp lý còn tiết kiệm đƣợc
hạt giống công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh
tế trong sản xuất lúa hiện nay. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về phân bón
và phƣơng pháp cấy chƣa nhiều và thiếu các nghiên cứu hệ thống vấn đề này.
Thực tế đây là một biện pháp kỹ thuật quan trọng trong thâm canh lúa. Với
1990
146.961
35,29
518.556
2000
154.056
38,91
599.355
2001
152.043
39,35
598.316
2002
147.953
38,49
569.451
2003
148.532
39,36
584.630
2004
150.549
40,37
607.795
2005
155.026
40,92
634.390
2006
155.741
Châu Á gồm 8 nƣớc có sản lƣợng cao nhất đó là Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản. Hiện nay
châu Á có diện tích lúa cao nhất với 143,4 triệu ha, sản lƣợng 611,7 triệu tấn [54].
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo của 10 nƣớc đứng đầu thế giới
năm 2009
Tên nƣớc
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(tấn)
Thế giới
161.420.743
42,044
678.688.289
Ấn Độ
44.100.000
29,767
131.274.000
Trung Quốc
29.932.292
65,901
197.257.175
Indonesia
12.883.576
49,985
64.698.890
Bangladesh
11.500.000
7
Qua Bảng 2.2 cho thấy: Nƣớc có diện tích trồng lúa lớn nhất là Ấn Độ
với diện tích 44,1 triệu ha, sản lƣợng lúa của Ấn Độ là 131,3 triệu tấn, chiếm
19,3% tổng sản lƣợng của thế giới.
Trung Quốc là một nƣớc có dân số đông nhất thế giới, trong vài thập
niên gần đây Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong đó
đặc biệt quan tâm đến sử dụng ƣu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân đạt
65,9 tạ/ha, sản lƣợng đạt 197,26 triệu tấn (đứng đầu về sản lƣợng lúa trên thế
giới). Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích canh tác lúa của Trung
Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó
nguồn nƣớc ngọt không đủ và phân bố không đều. Đây cũng là trở ngại lớn
trong việc nâng cao năng suất và sản lƣợng lúa của Trung Quốc.
Thái Lan là nƣớc xuất khẩu gạo hàng đầu Thế giới. Nƣớc này cũng
đƣợc thiên nhiên ƣu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, diện
tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết
thuận lợi, mƣa thuận gió hòa thích hợp cho phát triển cây lúa nƣớc. Vì vậy,
cây lúa là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan với diện
tích 10,96 triệu ha, năng suất bình quân 28,7 tạ/ha, sản lƣợng 31,5 triệu tấn và
là nƣớc xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới Các trung tâm nghiên cứu giống
lúa đƣợc thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực. Nhiệm vụ của các cơ sở này là
tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giống lúa tốt phục vụ cho nội
tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ. Tiêu chí chọn giống lúa của
các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trƣởng trung
bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng đƣợc 1 vụ/năm) hạt
gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hƣơng thơm, coi trọng chất lƣợng
hơn là năng suất. . . điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của
Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam. Theo hƣớng này Thái Lan đã tạo ra các
giống lúa chất lƣợng nổi tiếng Thế giới, trong đó phải kể đến các giống nhƣ:
Khao đomali, Jasmin (Hƣơng nhài) [54].
Hoa Kỳ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
Ở Pakistan hiện nay là nƣớc xuất khẩu gạo lớn thứ năm thế giới, và có
ít khả năng mở rộng diện tích lúa gạo. Ngoài ra, Pakistan còn đang đối mặt
với vấn đề thiếu nƣớc, các vấn đề môi trƣờng liên quan đến nông nghiệp. Nhƣ
vậy, xuất khẩu gạo Pakistan dự kiến tƣơng đối ổn định, ở mức 3 triệu tấn một
năm trong cả giai đoạn.
Trung Quốc xuất khẩu trung bình 2,6 triệu tấn gạo trong giai đoạn
1998- 2003, từ đó xuất khẩu gạo của Trung Quốc tiếp tục giữ ổn định ở mức 1
triệu tấn gạo. Khối lƣợng gạo xuất khẩu của Trung Quốc giảm từ năm 2004
do diện tích lúa thu hẹp lại dẫn đến nguồn cung trong nƣớc hạn chế. Diện tích
sản xuất lúa đƣợc dự báo là giảm nhẹ, bù lại năng suất tăng lên. Mức tiêu
dùng giảm nhẹ bù cho dân số tăng. Trung Quốc xuất khẩu gạo chất lƣợng cao,
gạo hạt ngắn và trung bình tới thị trƣờng bắc Á và gạo chất lƣợng thấp, hạt
dài tới thị trƣờng Sahara Châu Phi và mọt số thị trƣòng có thu nhập thấp của
Châu Á [3]
Năm 2011, sản xuất lúa gạo trên thế giới nhìn chung không có thay đổi
lớn so với năm 2010 nhƣng nhóm các nƣớc tiêu dùng lớn nhƣ: Trung Quốc,
Pakistan, Indonesia, Philippines đang đẩy mạnh chiến lƣợc tự cân đối nhu cầu
trong nƣớc, do đó thị trƣờng thế giới sẽ chỉ có đột biến khi bất ổn về thiên tai
xảy ra.
Đầu năm 2011, lƣợng cung thƣơng mại gạo toàn cầu vẫn khá dồi dào,
trong khi đó, nhu cầu thế giới chƣa có dấu hiệu khan hiếm; do đó, thị trƣờng
gạo toàn cầu chỉ chịu tác động trong hai trƣờng hợp: Nếu các nƣớc vừa chịu
ảnh hƣởng nặng nề về hạn hán và lũ lụt nhƣ Trung Quốc, Pakistan, ấn Độ,
Philippines tăng lƣợng dự trữ thông qua nguồn cung trong nƣớc hoặc mua bổ
sung vào lƣợng dự trữ; hoặc thiên tai bất ngờ xảy ra tại các nƣớc sản xuất và
tăng, song tăng trƣởng sản lƣợng dự kiến thấp hơn so với mức đạt đƣợc trong
những năm cuối thập kỷ 1960 cho đến 1980.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
11
Tăng trƣởng năng suất bằng sự phát triển và ứng dụng các công nghệ cải
tiến sẽ là giải pháp trong dài hạn để giúp giảm thiểu tình trạng tăng giá gạo.
Cần phải có một cuộc Cách mạng xanh lần II, tăng đầu tƣ cho nghiên cứu kết
hợp với cải cách chính sách để tăng hiệu quả kinh tế từ thị trƣờng gạo sẽ giúp
bình ổn giá lúa gạo và giảm nghèo.
Châu Á đƣợc coi là cái nôi của lúa gạo do sản xuất cũng nhƣ tiêu thụ
chiếm tới trên 90% tổng sản lƣợng lúa gạo của Thế giới, nơi đã diễn ra cuộc
“Cách mạng xanh” giữa thế kỷ XX, ở đây đã lai tạo ra nhiều giống lúa nƣớc
ngắn ngày, năng suất cao, nhờ vậy đã góp phần thành công trong việc chuyển
đổi cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ theo hƣớng sản xuất lúa hàng hóa ở
nhiều quốc gia. Sự nổi bật của khu vực này có ảnh hƣởng quyết định vào
tƣơng lai cũng nhƣ quá khứ của tình hình sản xuất lúa gạo trên Thế giới.
Theo dự báo của Ban nghiên cứu Kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ,
trong giai đoạn 2007 - 2017, các nƣớc sản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục là
nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới, bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn
Độ. Riêng xuất khẩu gạo của hai nƣớc Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm
khoảng nửa tổng lƣợng gạo xuất khẩu của thế giới. Một số nƣớc khác cũng sẽ
đóng góp giúp tăng sản lƣợng gạo thế giới nhƣ: Ấn Độ, các tiểu vùng Sahara
châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil [3].
Nhật Bản là một trong mƣời nƣớc có diện tích trồng lúa nhiều nhất thế
giới. Nhật Bản cũng là nƣớc đạt năng suất cao đứng hàng đầu thế giới, tuy có
diện tích không lớn song sản lƣợng năm 2005 đạt trên 11,4 triệu tấn. Để đáp
ứng thị hiếu ngƣời tiêu dung. Nhật Bản tập trung vào công tác nghiên cứu
giống lúa ở các viện. Các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo và đƣa vào sản
ngƣời ta dựa vào hàm lƣợng lân tổng số, phân lân bón cho lúa có hiệu quả
đứng thứ 2 sau đạm, nhƣng trong một vài trƣờng hợp, ở những đất nghèo màu
thì phân lân lại làm tăng năng suất nhiều hơn đạm. Tuy nhiên bón phân lân
cùng với đạm là điều kiện tốt để phát huy hiệu quả cao của phân lân. Khi cây
bị thiếu lân cây non có bộ lá hẹp, thƣờng bị cuộn lại, sức đẻ nhánh giảm và đẻ
muộn, giai đoạn đẻ nhánh kéo dài. Ở thời kỳ lúa đẻ nhánh và tròn mình phân
lân có ảnh hƣởng tốt đối với cây lúa, nó làm cho trọng lƣợng của phần trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13
mặt đất của cây lúa tăng khá lớn, sau đó đến thời kỳ chín mức tăng của trọng
lƣợng thân cây giảm. Ở những chân đất tƣơng đối phì nhiêu, hiệu quả của
phân lân đối với năng suất lúa không lớn. Bón lân làm cho lúa cứng cây và
tăng khả năng chống đổ.
Theo Yang (1999) ở nhiều nƣớc trên thế giới thƣờng hay bón phân
chuồng và phân ủ cho lúa để làm tăng độ phì nhiêu cho đất nhƣ Trung Quốc,
Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và các nƣớc vùng Đông Nam Á. Trong thời gian
gần đây phân khoáng đã đƣợc dùng phổ biến và phân chuồng đƣợc dùng bón
lót làm tăng năng suất lúa và tăng hiệu quả của phân khoáng [52]. Thí nghiệm
của Ying (1998) cho thấy sự tích luỹ đạm, lân và kali ở các cơ quan trên mặt
đất của cây lúa không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà còn đƣợc tích luỹ tiếp ở các
giai đoạn tiếp theo của cây [53].
Theo Sarker (2002) khi nghiên cứu ảnh hƣởng lâu dài của lân đối
với lúa đƣợc đánh giá: “Hiệu suất của lân đối với hạt ở giai đoạn đầu cao
hơn giai đoạn cuối và lƣợng lân hút ở giai đoạn đầu chủ yếu phân phối ở
các cơ quan sinh trƣởng. Do đó, phải bón lót để đáp ứng nhu cầu dinh
dƣỡng cho cây lúa” [46].
Phân bón có tác dụng rất lớn đến năng suất lúa. Muốn đạt năng suất,
sản lƣợng cao cần bón phân đúng liều lƣợng đúng cách. Ngay những thập kỷ
5
bằng lúa thuần [53].
2.2.3. Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới
Mật độ cấy là số khóm cấy/m
2
. Lúa cấy đƣợc tính bằng khóm, lúa gieo
đƣợc tính bằng hạt mọc. Về nguyên tắc thì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì
số bông càng nhiều. Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không
làm giảm số hạt trên bông, nhƣng nếu vƣợt qua giới hạn đó thì số hạt trên
bông bắt đầu giảm đi do lƣợng dinh dƣỡng phải chia sẻ cho nhiều bông. Theo
tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của
mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so
với lúa thƣờng. Tuy nhiên, nếu cấy quá thƣa đối với giống có thời gian sinh
trƣởng ngắn thì khó đạt đƣợc số bông tối ƣu cần thiết theo dự định.
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nó phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên, dinh dƣỡng, đặc điểm của giống…Khi nghiên cứu về vấn đề
này S. Yoshida (1978) đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt
thì nên cấy mật độ thƣa, ngƣợc lại phải cấy dày. Giống lúa cho nhiều bông thì
cấy dày không có lợi bằng giống bông to. Vùng lạnh nên cấy dày hơn vùng
nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thƣa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy
dày hơn so với lúa gieo sớm.
Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh S. Yoshida (1978) đã khẳng định:
Trong ruộng lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm
thay đổi từ 20 x 20 cm đến 30 x 30 cm. Theo ông việc đẻ nhánh chỉ xẩy ra
đến mật độ 300 cây/m
2
, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh
chính cho bông. Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182 - 242
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2.3. Tình hình sản xuất nghiên cứu lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một nƣớc có nền nông nghiệp với khoảng 80% dân số làm
nghề nông, chính vì vậy mà trải qua 4000 năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền
với sự phát triển của dân tộc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
16
Nƣớc ta thuộc vùng nhiệt đới nằm ở toạ độ 8
0
30
‟
- 23
0
22
‟
vĩ tuyến Bắc,
102
0
10
‟
- 109
0
29
‟
kinh tuyến Đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới. Với đặc
điểm khí hậu này đã phần nào khẳng định thêm Việt Nam là cái nôi hình
thành cây lúa.
Địa hình nƣớc ta trải dài từ Bắc vào Nam hình thành nên những vùng đồng
bằng rộng lớn tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của cây lúa nƣớc.
42,852
32.108.400
2002
7.504.300
45,903
34.447.200
2003
7.452.200
46,387
34.568.800
2004
7.445.300
48,552
36.148.900
2005
7.329.200
48,890
35.832.900
2006
7.324.800
48,942
35.849.500
2007
7.207.400
49,869
35.942.700
2008
7.414.300
52,230
38.725.100