Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chuối tiêu hồng tại Phú Thọ - Pdf 24

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ TÚ OANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT SẢN XUẤT CHUỐI TIÊU HỒNG
TẠI PHÚ THỌ Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 60. 62. 01. 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Tôi xin chân thành cảm ơn và tỏ
lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo: PGS.TS. Đào Thanh Vân đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và
tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn. Khoa
Nông học, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên; Bộ môn Cây ăn quả, Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm
nghiệp Miền núi phía Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập và nghiên cứu.
UBND xã Hương Nộn, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện
thuận lợi trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Cuối cùng Tôi xin cảm ơn sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp trong suốt thời gian làm luận văn khoa học này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Tú Oanh
iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 2

3.1.1. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến sinh trưởng thân lá của
chuối Tiêu hồng khi trỗ buồng 32
3.1.2. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến thời gian sinh trưởng
của giống chuối Tiêu hồng 33
3.1.3. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến năng suất và các yếu tố
cấu thành năng suất giống chuối Tiêu hồng 34
3.1.4. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến chất lượng quả giống
chuối Tiêu hồng 35
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón cho chuối Tiêu hồng
trồng bằng cây nuôi cấy mô 36
3.2.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng thân lá của
chuố ỗ buồng 37
3.2.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến các giai đoạn sinh trưởng
phát triển của giống chuối Tiêu hồng 38
3.2.3. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng
suất giống chuối Tiêu hồng 40
3.2.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến kích thước quả giống chuối
Tiêu hồng 41
3.2.5. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất giống chuối Tiêu
hồng 42
3.2.6. Hiệu quả kinh tế của các liều lượng phân bón đối với 1 ha giống
chuối Tiêu hồng 43
3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của tủ gốc và sử dụng chất dưỡng lá, dưỡng
quả đối với chuối Tiêu hồng tại Phú Thọ 45 v
3.3.1. Ảnh hưởng của tủ gốc và sử dụng chất dưỡng lá, dưỡng quả đối với
chuối Tiêu hồng khi trỗ buồng 46
3.3.2. Ảnh hưởng của tủ gốc và sử dụng chất dưỡng lá, dưỡng quả đến các

cm :
Centimét
m :
Mét
m
2
:
Mét vuông
CT :
Công thức
CV :
Hệ số biến động (Coefficients of variation)
Đ/c :
Đối chứng
ĐVT :
Đơn vị tính
mg :
Miligam
g :
Gam
kg :
Kilogam
LSD
0,05
:
Sự sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 0,05 (Least
significant difference)
FAO :
Tổ chức Nông Lương liên hợp quốc (Food and Agriculture
Organization of the United Nations)

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến kích thước quả giống
chuối Tiêu hồng 41
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất giống chuối
Tiêu hồng 42
Bảng 3.11. Hiệu quả kinh tế của các liều lượng phân bón cho 1 ha giống
chuối Tiêu hồng 43
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến chất lượng quả giống
chuối Tiêu hồng 44 viii
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của tủ gốc và sử dụng chất dưỡng lá, dưỡng quả
đối với sinh trưởng thân lá chuối Tiêu hồng khi trỗ buồng 46
Bảng 3.14: Ảnh hưởng tủ gốc và sử dụng chất dưỡng lá, dưỡng quả
47
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của tủ gốc và sử dụng chất dưỡng lá, dưỡng quả
đến các yếu tố cấu thành năng suất giống chuối Tiêu hồng 48
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của tủ gốc và sử dụng chất dưỡng lá, dưỡng quả
đến kích thước quả giống chuối Tiêu hồng 49
Bảng 3.17: Ảnh hưởng của tủ gốc và sử dụng chất dưỡng lá, dưỡng quả
đến năng suất giống chuối Tiêu hồng 50
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của tủ gốc và sử dụng chất dưỡng lá, dưỡng quả
đến chất lượng quả giống chuối Tiêu hồng 52
Bảng 3.19: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng thân lá của giống
chuối Tiêu hồng khi trỗ buồng 54
Bảng 3.20: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng
phát triển của giống chuối Tiêu hồng 55
Bảng 3.21: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng
suất giống chuối Tiêu hồng 56
Bảng 3.22: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến kích thước quả giống chuối

cũng là một trong số những mặt hàng chủ lực của nhiều nước đang phát triển.
Ở Việt Nam cây chuối đã đuợc trồng phổ biến từ lâu đời, rải rác trong
các vườn gia đình khắp cả nước từ đồng bằng, trung du, đến miền núi và có
vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân. Quả chuối được sử dụng làm
lương thực, ăn tươi, làm bánh, kẹo, nước giải khát, bột dinh dưỡng cho trẻ
em… Ngoài sản phẩm quả, các bộ phận khác của cây chuối đều có thể sử
dụng vào các mục đích khác nhau như thân giả dùng để chăn nuôi, lá dùng để
gói, cây non và hoa dùng làm rau, các phần khác có thể làm phân bón… hoặc
phơi khô làm chất đốt. Chuối là cây xuất khẩu có giá trị với nhiều loại mặt
hàng như quả tươi, chuối sấy khô… Những năm gần đây, sản xuất chuối ở
nước ta có xu hướng tăng với tổng diện tích 105-110 ngàn ha và tổng sản
lượng hàng năm 1,4-1,6 triệu tấn. Chuối còn là một trong số ít cây ăn quả có
khả năng phát triển sản xuất thành những vùng tập trung quy mô 400-500 ha.
Phú Thọ là một trong những địa phương có sản lượng chuối lớn nhất
của vùng Trung du miền núi phía Bắc nhưng trong sản xuất còn gặp một số
khó khăn do chuối trồng phân tán, thu hoạch không đồng đều, giống chuối
quá đa dạng. Diện tích chuối ở địa phương được trồng bằng cây giống tách 2
chồi vẫn rất lớn. Vì thế, độ đồng đều và phẩm cấp quả hàng hoá không cao
nên chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường. Kết quả là sản xuất chuối còn chưa
tương xứng với tiềm năng của địa phương và hiệu quả kinh tế chưa cao.
Trong khi đó, cây chuối nhân bằng nuôi cấy mô đạt hệ số nhân giống cao,
sạch bệnh, đồng đều và sinh trưởng khỏe nên thích hợp với quy mô sản xuất
hàng hóa. Trong bối cảnh đó, việc tiến hành đề tài “Nghiên cứu một số biện
pháp kỹ thuật sản xuất chuối Tiêu hồng tại Phú Thọ” là rất cần thiết, góp
phần khắc phục những tồn tại nêu trên, thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu
quả sản xuất chuối của địa phương.
2. Mục tiêu của đề tài

hình thành ở ngọn từ thân khí sinh. Trục mang hoa và thân thật được mọc lên
từ củ dưới lòng đất. Lá bắc lớn, trong chứa từ 1 - 3 hàng hoa. Những hoa ở
gốc của cụm hoa là hoa cái, hoa ở giữa là hoa lưỡng tính, hoa trên cùng là hoa
đực. Bao hoa gồm 2 hoặc 3 vòng nhưng tạo thành 2 cánh, cánh ngoài cùng
được tạo bởi 3 đài đính liền với 2 cánh hoa và thường có mầu vàng ươm hay
mầu vàng nhạt, cánh hoa trong nằm đối diện với mảnh ngoài thường ngắn,
màu trong suốt và được hai mép của cánh ngoài bao phủ. Có 5 nhị, bộ nhụy,
lá noãn hợp bầu dưới, quả mọng, chứa nhiều hạt tuy nhiên ở loài chuối trồng,
hạt thui đi rất sớm.
1.1.2. Yêu cầu sinh thái của cây chuối
* Yêu cầu về nhiệt độ
Chuối là cây nhiệt đới, ưa khí hậu nóng, ẩm và nhiều mưa. Nhiệt độ
thích hợp 25
0
C - 30
0
C. Ở miền Bắc nước ta mùa Đông nếu nhiệt độ xuống dưới
15
0
C nhiều ngày, đã có biểu hiện ngọn chuối bị rụt lại, lá nhạt màu, thân bị nứt,
hoa trổ không thoát. Xuống 5
0
C - 6
0
C cây chuối bị vàng lá hoặc chết, nhất là
chuối mới trồng. Chuối chịu được nhiệt độ cao tới 40
0
. Giống chuối tiêu khi quả chín nếu gặp nhiệt độ cao quả
to nhưng vỏ dày, không chín vàng, ruột nhão và hơi chua, ít thơm. Nếu chín
vào mùa Thu, Đông nhiệt độ thấp, màu quả vàng và chất lượng tốt hơn.

m. Độ pH thích hợp rộng, từ 4,8 - 8,0, tối thích là 6,0 - 7,5. Nói chung, cây
chuối không kén đất, ở nước ta vùng nào cũng trồng được vì khí hậu thích
hợp, chỉ cần đất không bị ngập nước. 5
* Yêu cầu về chế độ dinh dưỡng
Do tốc độ sinh trưởng mạnh, cây chuối cần khá nhiều phân. Nếu muốn
đạt sản lượng 40 tấn quả/ha phải cần 80 kg N + 20 kg P
2
O
5
+ 240 kg K
2
O.
Mặc dù trong phân tích, lượng kali cần nhiều nhất nhưng trong thực tế thì
thiếu đạm là đáng lo ngại hơn cả. Để đáp ứng dinh dưỡng cho cây chuối,
trước hết đất phải nhiều mùn, nếu dưới 1% mùn cần bón thêm phân hữu cơ.
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới
* Sản xuất chuối trên thế giới
Bảng 2.1. trình bày tình hình sản xuất chuối trên thế giới từ 2005-2010
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất chuối trên thế giới từ năm 2005 - 2010
Chỉ
tiêu
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)

(4771944,0 ha) tăng so với năm 2005 (4650174,0 ha) là 121770,0 ha trong
vòng 6 năm, cùng với đó công tác lai tạo và tuyển chọn các giống chuối ngày
càng được chú trọng, cụ thể năng suất chuối năm 2010 (213,990 tạ/ha) tăng
lên 43,14 tạ/ha so với năm 2005. Diện tích và năng suất ngày càng tăng lên đã 6
làm cho sản lượng chuối của thế giới có những bước phát triển nhảy vọt. Sản
lượng chuối năm 2010 (102114819,0 tấn) tăng 28,6% so với năm 2005.
* Tiêu thụ chuối trên thế giới
Theo Nguyễn Văn Nghiêm (2010) [16], hầu hết chuối xuất khẩu trên
thị trường là các giống chuối thuộc nhóm Cavendish, được sản xuất trong
các trang trại nhỏ và các đồn điền lớn. Có tới 26% sản lượng chuối
Cavendish dùng cho xuất khẩu. Các nước xuất khẩu chuối chính ở châu Mỹ
Latin gồm có Ecuado, Costa Rica và Colombia. Châu Á có các nước xuất
khẩu chuối chủ yếu là Philipin, Trung Quốc và Ấn
Độ.
Trong khi đó, xuất
khẩu chuối chính ở châu Phi là các nước Camơrun, Cote d’ivoire và ở
vùng Caribe là Dominic và Windward Islands. Trong những năm gần đây
Pêru được đánh giá là nước có tiềm năng về xuất khẩu chuối với các vùng
chuối an toàn như Tumbes, Piura và Lambayeque. Năm 2010 có tới gần
100% lượng chuối xuất khẩu của Pêru là chuối an toàn. Riêng năm 2006,
kim ngạch xuất khẩu chuối an toàn là 27 tỷ USD. Trong đó có tới 98% là
chuối tươi và 2% là chuối sấy khô. Năm 2007, chuối tươi xuất khẩu của
Pêru chủ yếu sang các thị trường truyền thống là Hà Lan và Mỹ, đạt giá trị
khoảng
26,54 tỷ USD và chiếm trên 85% giá trị kim ngạch xuất khẩu chuối
của Pêru.


Kể từ đầu những năm 2000 đến nay, thị phần các nhà cung cấp có
nhiều thay đổi, có thêm nhiều quốc gia tham gia xuất khẩu chuối, cũng có
nhiều quốc gia không còn chú trọng mặt hàng này. Tuy nhiên, các nước Mỹ
Latinh vẫn chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường xuất khẩu chuối thế giới.
Thực tế, các nước châu Á mới là nơi sản xuất chuối lớn nhất thế giới, thay vì
Mỹ Latinh. Trong đó, Ấn Độ là nước sản xuất lớn nhất với sản lượng chiếm
20% tổng sản lượng chuối toàn cầu vào năm 2011. Philippines và Trung Quốc
cũng nằm trong tốp các nước sản xuất chuối lớn nhất thế giới.
Tuy vậy Ecuador lại là nhà xuất khẩu chuối lớn nhất thế giới với thị
phần tới 30%. dù chỉ đứng thứ 5 thế giới về sản lượng (khoảng 6% tổng sản
lượng thế giới). Ecuador sở dĩ có thể thành công rực rỡ với sản xuất chuối là
vì đã đáp ứng được rất tốt nhu cầu của thị trường. Ecuador đã cải tạo được 8
giống chuối thu hoạch cao và có thể chuyên chở bằng đường biển với thời
gian rất dài. Nhờ công nghệ sản xuất và marketing hiện đại, chuối Ecuador đã
kết nối thành công với thị trường thế giới.
Đóng góp lớn nhất vào thành công của ngành xuất khẩu chuối Ecuador
phải kể đến chuỗi giá trị chuối mà nước này đã xây dựng được. Chuỗi giá trị
liên hoàn từ nơi sản xuất cho đến khi những nải chuối được đưa đến các kệ
hàng tại những siêu thị châu Âu và đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Ngành
công nghiệp chuối nước này không ngừng mở rộng quy mô và liên tục đóng
góp vào nền kinh tế. Xuất khẩu chuối chiếm đến 61% tổng kim ngạch xuất
khẩu nông sản của nước này vào năm 2009. Lợi nhuận ngành chuối Ecuador
khi nền kinh tế ổn định vào khoảng 20%. Các nhãn hiệu chuối nổi tiếng thế
giới có thể kể đến Dole, Bonita, Golden Force…Các công ty này có cả một quy
trình quản lý chất lượng chuối, từ khâu sản xuất đến đóng gói và xuất khẩu.
Nhập khẩu chuối nhiều nhất là Liên minh châu Âu, Mỹ và Nhật Bản,
chiếm khoảng 67% khối lượng chuối nhập khẩu của thế giới vào năm

1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối tại Việt Nam
2.2:
2006 - 2011
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
/ha)
lƣợng
(1000 tấn)
2006
108,1
142,3
1368,6
2007
109,7
151,0
1485,8
2008
111,7
164,6
1602,5
2009
116,2
159,6
1611,8
2010
119,5
157,4

suất
(tạ/ha)
Tổng
sản lƣợng
(1000 tấn)
1
Đồng bằng sông Hồng
17,8
261,7
430,6
2
Trung du và miền núi phía Bắc
16,7
134,1
188,4
3
Bắc Trung Bộ và duyên hải
miền Trung
33,1
149,1
401,9
4
Tây Nguyên
4,8
187,8
78,9
5
Đông Nam Bộ
10,6
148,2

INIBAP (International Network for the Improvement of Banana and
Plantain) được thành lập năm 1984 tại Montpellier France. Đây là một tổ chức
Quốc tế nghiên cứu về cây chuối lớn nhất nằm trong hệ thống của GGIAR.
INIBAP có quan hệ rộng rãi với tất cả các tổ chức Quốc tế nghiên cứu về
nông nghiệp khác và đặc biệt rất quan tâm đến các chương trình Quốc gia.
Mục tiêu của INIBAP là hợp tác nghiên cứu, cung cấp thông tin và huy động
tài trợ ủng hộ các hoạt động nghiên cứu và phát triển về chuối. Nhận thức đầy
đủ vai trò của Đông Nam Á trong các vấn đề cây chuối, INIBAP đã, đang và
sẽ tập trung nghiên cứu, tài trợ cho các hoạt động thu thập, đánh giá sử dụng
và bảo quản nguồn gen cây chuối trong vùng.
Theo thống kê của INIBAP (1990) tổng số các mẫu chuối trồng của
Philippines là 80 mẫu trong đó các mẫu thuộc loại M.acuminata và
M.balbisiana là 27 mẫu và chỉ duy nhất có 1 mẫu là chưa xác định được kiểu
di truyền. Ở đây còn giữ và duy trì 29 mẫu giống của Malaysia, 35 mẫu giống
của Thailand, 16 mẫu giống của Indonesia, 148 mẫu giống của Papua
Newguinea. Ngoài ra còn có 10 mẫu giống của các loại khác trong chi Musa 12
và các loại họ hàng. Như vậy tính đến nay Philippines có 318 mẫu giống,
được coi là nước có tập đoàn chuối lớn nhất trên thế giới. Mặt khác INIBAP
cũng đang tiếp tục đẩy mạnh việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá và bảo quản
tập đoàn chuối ở khu vực này.
Ở Thái Lan tổng số mẫu là 49 mẫu trong đó 17 mẫu giống thuộc nhóm
AA/AAA, 1 mẫu thuộc nhóm BB/BBB và 21 mẫu giống là con lai của
M.accuminata và M. balbisiana, 10 mẫu giống là các loài hoang dại và loài có
quan hệ họ hàng gần gũi.
Ở Malaysia tổng số có 62 mẫu giống trong đó có 30 mẫu giống thuộc
nhóm AA/AAA, 4 mẫu giống thuộc nhóm BB/BBB, 20 mẫu là con lai của
M.acuminata và M.balbisiana, các loài dại và có quan hệ họ hàng gần gũi.

thiên đường hoặc quả của các vườn cây [2].
Mặc dù chuối đã được trồng từ lâu nhưng mãi đến thế kỷ 19 mới có
một vài tác giả nói về sự phát triển và dinh dưỡng của nó như Fonrcroy và
Vanquclin (1807)[2].
Thực tế các công trình nghiên cứu có hệ thống về chuối thực sự bắt đầu
vào thế kỷ 20. Thời kỳ đầu người ta cũng sắp xếp vào 2 loại chuẩn theo
Linmaur chuối ăn tươi và chuối ăn luộc vì tinh bột ở những quả này khi chín
không chuyển hóa thành đường dễ tan. Nhưng sau đó các dòng được thu thập
ngày càng nhiều, có những dòng có thể vừa ăn tươi vừa ăn luộc được (khi quả
xanh có thể ăn luộc, khi quả chín tinh bột lại chuyển hóa thành đường dễ
tiêu). Việc xếp loại thật khó khăn và người ta đã nghĩ ra cách đặt tên cho một
dòng là những đuôi latinh chỉ căn cứ vào đặc điểm ngoại hình không cần quan
tâm đến nguồn gốc di truyền. Ví dụ Musa Nanalonr và Musa
Cavendishulamb được đề nghị đặt cho cây Dway cavendish, Musa rubra,
Fiming nonwall đặt cho Morado Red, hoặc Pisang udang, Musa corniculata
lour cho chuối Eahorn, Tindok hay Pisang tamduk… [2] như những cây này
đôi khi chỉ có những biến đổi đơn giản. Việc tăng nhanh các tên khoa học do
số lượng cây giống ngày càng nhiều đã gây nhiều lộn xộn trong phân loại. 14
Trong khi chờ đợi có những hiểu biết mới, nhất là quan hệ gần gũi của
các dòng họ, Giáo sư E .E Cheesman cho rằng tốt nhất là dùng các tên thông
thường của địa phương cùng với sự mô tả tỉ mỉ [9].
Do thấy được vai trò của cây chuối đối với nhu cầu ngày càng tăng của
nhân loại. Các nhà khoa học ngày càng quan tâm chú ý nghiên cứu toàn diện
về nó như phân loại, di truyền, sinh hóa, sinh lý, cũng như ảnh hưởng của
quan hệ sinh thái môi trường (chế độ dinh dưỡng, nước, nhiệt độ, ẩm độ và
sâu bệnh) đến năng suất và phẩm chất của chuối. Chuối là cây trồng sinh sản
chủ yếu bằng con đường vô tinh nên rất phức tạp về chủng loại. Tuy nhiên

quan trọng nhất cho hiệu quả kinh tế cao, việc tạo ra giống mới có thể bằng
nhiều cách như đột biến, chọn lọc trong sản xuất tập đoàn. Đi đầu trong vấn
đề chọn giống chuối phải kể đến Viện Nghiên cứu chuối Đài Loan. Ở đây
phần lớn các giống chuối được chọn lọc để sản xuất chuối thương mại thuộc
về nhóm Cavendish.
phương pháp này bao gồm: Dwarf Cavendish, Giant Cavendish, Pisang
masak hijau, Robusta, Valery …
Việc nhập nội và khảo nghiệm giống cũng được nhiều nước quan tâm,
đặc biệt là thông qua chương trình khảo nghiệm giống chuối quốc tế (ITMP)
do INIBAP chủ trì. Các giống chuối thương mại đang được sản xuất quy mô
lớn tại Malaisia như Pingsan Baragan và Pingsan Mas đều có nguồn gốc từ
Indonesia.
Công tác nghiên cứu tạo giống mới đã và đang được chú trọng thực
hiện ở nhiều nước với mục tiêu tạo ra những giống chuối có thời gian sinh
trưởng ngắn, thấp cây, đạt năng suất, chất lượng cao hơn các giống thuộc
nhóm phụ Cavendish và nhất là kháng một số bệnh hại nguy hiểm như héo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status