Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC HOÀNG THỊ THUÝ HÀ
THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH
THƢỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở CÔNG NHÂN CÔNG TY MAY THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
THÁI NGUYÊN - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC
nhiệm Bộ môn Sức khoẻ nghề nghiệp - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên.
Người Thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ, công nhân Công ty may Thái Nguyên, đặc biệt
là Ban Giám đốc và trạm Y tế Công ty, Trung tâm Y tế Thành phố Thái Nguyên đã
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên, đặc biệt là
Lãnh đạo Sở, Lãnh đạo Phòng, Lãnh đạo đơn vị trực thuộc Sở đã tạo điều kiện, thời
gian cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn anh em, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2009
Tác giả
Hoàng Thị Thuý Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
CÁC CHỮ VIẾT TẮT ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
CSSK Chăm sóc sức khoẻ
CBCNV Cán bộ công nhân viên
Cs Cộng sự
RHM Răng hàm mặt
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 53
KHUYẾN NGHỊ ............................................................................................. 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT Tên bảng Trang
Bảng 3.1 Đối tượng nghiên cứu phân theo nghề nghiệp 22
Bảng 3.2 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo độ tuổi (giới) 22
Bảng 3.3 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo tuổi nghề 23
Bảng 3.4 Cơ cấu bệnh, chứng bệnh chung của công nhân may 24
Bảng 3.5 Tỷ lệ mắc các bệnh mũi họng mạn tính theo tuổi đời 25
Bảng 3.6 Tỷ lệ mắc các bệnh mũi họng mạn tính theo tuổi nghề 26
Bảng 3.7 Tỷ lệ mắc các bệnh ở phổi theo tuổi đời 27
Bảng 3.8 Tỷ lệ mắc các bệnh ở phổi theo tuổi nghề 27
Bảng 3.9 Tỷ lệ mắc các bệnh ở phổi ở nữ 28
Bảng 3.10 Tỷ lệ mắc bệnh tiêu hoá theo tuổi nghề 28
Bảng 3.11 Tỷ lệ mắc bệnh tuần hoàn theo tuổi nghề 29
Bảng 3.12 Tỷ lệ mắc bệnh mắt theo tuổi đời 30
Bảng 3.13 Tỷ lệ mắc bệnh mắt theo tuổi nghề 30
Bảng 3.14 Tỷ lệ mắc các bệnh ngoài da theo tuổi giới 31
Bảng 3.15 Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da theo tuổi nghề 31
Bảng 3.16 Tỷ lệ mắc các bệnh Viêm phế quản mạn tính theo tuổi nghề 32
Bảng 3.17 Tỷ lệ mắc bệnh Viêm phế quản mạn tính theo giới 32
Bảng 3.18 Tỷ lệ khó thở của bệnh nhân Viêm phế quản mạn tính
theo mùa và hoạt động của bệnh nhân
33
Bảng 3.19 Tỷ lệ bệnh nhân có các triệu chứng ho, khạc đờm 34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TT Tên bảng Trang
Biểu đồ 1 Tỷ lệ công nhân phân theo độ tuổi 23
Biểu đồ 2 Tỷ lệ mắc bệnh mũi họng mạn tính và viêm phế quản 25
Biểu đồ 3 Tỷ lệ mắc bệnh mũi họng mạn tính ở công nhân may dây
chuyền theo nhóm tuổi < 30 và ≥ 40 tuổi
26
Biểu đồ 4 Tỷ lệ mắc các bệnh tiêu hóa theo tuổi nghề 28
Biểu đồ 5 Tỷ lệ công nhân mắc bệnh tuần hoàn theo tuổi nghề 29
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành may chiếm
một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân bởi vừa góp phần tăng thu ngân
sách vừa giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 2 triệu lao động (80% là nữ) cho
đất nước. May là một trong những ngành mũi nhọn về chiến lược hàng hoá trong
nước cũng như xuất khẩu của Việt Nam. Đặc thù của ngành may là sử dụng dây
chuyền công nghệ giản đơn, mức độ lao động tuy không quá nặng nhọc nhưng gò
bó, đòi hỏi nhịp độ công việc nhanh… Tỷ lệ lao động nữ rất cao, chiếm khoảng 80-
90% và phần lớn là ở độ tuổi 20-35 tuổi. Thời gian làm việc trung bình là trên 8giờ/
ngày. Nhiều khi công nhân phải làm việc tăng ca, có khi tới 10-12 giờ/ngày. Lực
lượng lao động của ngành may chủ yếu xuất thân từ nông thôn… nên ít nhiều cũng
bị ảnh hưởng bởi lối sống, tập quán của nông dân, ý thức tổ chức kỷ luật và nhận
thức xã hội chưa cao. Dẫn từ [10], [32].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Tình hình phát triển ngành may ở nƣớc ta
Ngành may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công
nghiệp nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngành dệt
may Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực
phát triển khá mạnh. Hàng dệt may của chúng ta đã chiếm lĩnh nhiều thị trường may
mặc trên thế giới do nhiều ưu thế về nhân lực, có sự tham gia của nhiều thành phần
kinh tế khác nhau và kỹ thuật phù hợp. Với những lợi thế riêng, phù hợp với điều
kiện thực tiễn nước ta như vốn đầu tư không cần lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh,
thu hút nhiều lao động và cã điều kiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Tuy
vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngành dệt may đang phải đối
mặt với nhiều thách thức lớn, phải cạnh tranh ngang bằng với các cường quốc xuất
khẩu lớn như Trung Quốc, Inđônêxia, Pakixtan.... Đặc biệt, từ 01/01/2006, thuế
trầm của ngành dệt may nên công tác chăm lo sức khoẻ công nhân cũng phần nào bị
chậm lại so với các ngành khác.
1.2. Các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe và bệnh tật của ngƣời lao động
1.2.1. Tác hại nghề nghiệp trong lao động công nghiệp
Vào đầu thế kỷ XX, khi nền công nghiệp phát triển mạnh, các vấn đề sức khỏe
của người lao động đã được quan tâm nhiều hơn. Trong các mối quan tâm đặc biệt
thì các tác hại nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp đã được nhiều người nghiên cứu.
Dẫn từ [11], [12]. Tuy nhiên với sự phát triển, thay đổi nhiều loại hình công nghệ
thì vấn đề sức khỏe trong lao động cũng nảy sinh thêm nhiều vấn đề. Thời kỳ này
các môn khoa học tự nhiên và xã hội của loài người cũng đạt đến đỉnh cao, nên
người ta không những hiểu biết về bản chất các tác hại nghề nghiệp cụ thể, có thể
nắm bắt, dễ quan sát được trong lao động mà thực tế con người cũng hiểu biết
tương đối xa và nhiều hơn về các rối loạn bệnh lý cũng như các bệnh nghề nghiệp
xảy ra do lao động kỹ thuật cao. Song mặc dù về mặt khoa học, con người đã biết
rất nhiều nhưng vẫn chưa làm được bao nhiêu trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
sức khỏe người lao động mới. Bởi lẽ hàng trăm nghìn các hoá chất và dung môi độc
hại được đưa vào sản xuất và phục vụ đời sống cũng như hàng trăm các yếu tố tác
hại vật lý, sinh học tồn tại trong các môi trường sống và lao động, hàng ngày tác
động đơn lẻ hoặc đa chiều lên sức khoẻ con người, có khả năng gây nên những rối
loạn bệnh lý hoặc làm mất cân bằng các phản ứng sinh lý, sinh hoá của cơ thể trong
thời kỳ mới tiếp xúc là những trở ngại đáng kể. Các tác giả Rammazzini, Letavet,
Izmerop, Aptamonova, Satalop, Zekin, Paracelus, Policard… là những người có nhiều
nghiên cứu đóng góp về những vấn đề này từ giữa thế kỷ XX. Trên thực tế cũng còn
nhiều điều về mặt khoa học và thực tiễn của y học lao động, người ta vẫn chưa giải
thích được và cần phải tiếp tục nghiên cứu. Trong thực tế do những bí mật về nghề
nghiệp, kinh doanh hoặc người ta chưa đủ khả năng nghiên cứu nên còn nhiều tác hại
nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp chưa được nghiên cứu và giải quyết một cách thỏa
đáng. Dẫn từ [3], [36].
Trong những năm gần đây, ở nước ta những nghiên cứu về môi trường lao
động có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và khả năng lao động, gây nên những rối loạn
bệnh lý hoặc các bệnh nghề nghiệp đối với những người tiếp xúc. Tác hại nghề
nghiệp trong lao động công nghiệp tương đối phức tạp và đa dạng song ta có thể
phân ra các loại như sau:
1.2.2. Các tác hại nghề nghiệp liên quan đến việc tổ chức lao động không hợp lý
Tổ chức lao động không hợp lý có thể gây rất nhiều tác hại lên sự cân bằng trạng
thái sinh lý, sinh hoá của cơ thể người lao động, từ đó sinh ra các rối loạn bệnh lý.
Thời gian lao động quá lâu dài có thể gây nên sự căng thẳng về thần kinh, thể
chất bởi sự đáp ứng quá ngưỡng. Ví dụ: Quá trình hoạt động thần kinh là quá trình
hưng phấn liên tục, thời gian dài hoạt động sẽ làm cho sự hưng phấn quá mức, giảm
Acetylcholin, Cathecholamin... dẫn đến tình trạng ức chế thần kinh gây mệt mỏi.
Lao động lâu, năng lượng bị cạn dần, ô xy giảm cung cấp, các sản phẩm trung gian
tăng lên ở các khối cơ, gây đau mỏi, thậm chí co cứng cơ, mất khả năng hoạt động
(ví dụ: axit lactic tăng lên, cơ bị co cứng). Dẫn từ [5], [8], [26], [37], [38], [39].
Các yếu tố nguy cơ môi trƣờng
(Tự nhiên hoặc xã hội)
Sức khoẻ ngƣời lao động
Các tác hại nghề nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Cường độ lao động quá nặng nhọc và khẩn trương sẽ huy động khối lượng cơ
bắp, thần kinh lớn tham gia nhiều trong một thời gian ngắn, điều này sẽ làm tăng
nhanh sự tiêu hao năng lượng và hoạt động của các cơ quan. Khi sự đáp ứng vượt
quá ngưỡng bình thường như: khối lượng cơ hoạt động quá lớn, nhu cầu đáp ứng
năng lượng cao, cơ thể có thể không đáp ứng kịp. Lao động nặng, tim phải cung cấp
các chất dinh dưỡng, tăng năng lượng và trao đổi khí, có thể gây nên tình trạng giãn
tim đột ngột và tử vong ở những vận động viên. Do lao động với nhịp độ quá khẩn
trương, sự phối hợp giữa các nhóm cơ, các bộ phận không hợp lý dễ gây nên tai nạn
một số lao động đặc biệt như vi tính, lái xe... người lao động dễ mệt mỏi thị giác và
thần kinh, nếu không lưu ý sẽ dẫn đến tai nạn lao động.
1.2.3. Những tác hại nghề nghiệp liên quan đến quy trình sản xuất
Mỗi một quy trình sản xuất sẽ có những đặc thù riêng có thể tác động lên sức
khỏe người lao động ở các mức dộ khác nhau. Ví dụ công nghệ luyện kim gây
nhiều tác hại lên sức khỏe người lao động do nóng, bụi, hơi khí độc, lao động nặng
nhọc. Ngành xây dựng lại có đặc trưng là lao động nặng nhọc, ngoài trời...Tuy
nhiên do có nhiều yếu tố giống nhau, cùng tác động lên cơ thể như nhau, ví dụ nóng
và bụi của lao động khai thác mỏ và luyện kim có nhiều điểm giống nhau nên người
ta thường phân theo các yếu tố tác nhân, tác hại nghề nghiệp. Trong quá trình sản
xuất các yếu tố tác tại nghề nghiệp mang đặc trưng vật lý, lý hoá, vi sinh vật, dẫn từ
[35] có thể phát sinh hoặc tăng tác dụng xấu lên cơ thể người lao động. Ngày nay
người ta đã thống kê được hơn 200.000 các hoá chất và dung môi độc hại, gần 400
tác nhân vật lý có hại và hàng ngàn tác nhân sinh học có thể gây hại cho người lao
động. Ở nước ta cũng đang sử dụng hàng nghìn các tác nhân độc hại. Dẫn từ [2],
[16], [17], [18], [20], [22], [36].
Các yếu tố vật lý như vi khí hậu, bức xạ, áp lực không khí không bình thường,
ồn, rung chuyển... Thường xuyên tác động lên cơ thể, ảnh hưởng đến sự cân bằng
các phản ứng sinh lý, sinh hoá... Vi khí hậu xấu có thể là quá nóng hoặc quá lạnh.
Trong các lò nung vật liệu, nhiệt độ tăng lên tới hàng nghìn độ, có thể phát sinh ra
nhiều loại bức xạ tử ngoại hoặc hồng ngoại... làm nóng nhiệt độ không khí hơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nhiệt độ da cơ thể người lao động gây trạng thái tích nhiệt, có thể làm cho quá trình
thoát nhiệt của cơ thể bị ngừng trệ gây say nóng. Thông thường gió làm tăng quá
trình đối lưu, giảm độ nóng của môi trường, song nếu gió nóng sẽ làm rối loạn quá
trình điều hoà nhiệt độ của cơ thể. Độ ẩm trong môi trường tuỳ mức độ khác nhau
có thể tạo điều kiện tốt cho cơ thể tăng nhanh quá trình bay hơi của hồ môi, giúp
cho cơ thể điều nhiệt hoặc ngược lại. Các loại bức xạ có vai trò khác nhau đối với
cơ thể người lao động. Các tia hồng ngoại chủ yếu gây tích nhiệt song cũng có thể
gây đục nhân mắt. Bức xạ tử ngoại có khả năng đâm xuyên lớn, có thể gây tổn
bạch hầu dễ gây bệnh cho những người công nhân vệ sinh, các thầy thuốc. Trong
công nghiệp dệt may thì bụi hữu cơ là vấn đề sức khỏe đã được quan tâm nhiều.
1.2.4. Những tác hại nghề nghiệp liên quan tới an toàn vệ sinh lao động và
điều kiện vệ sinh kém
Điều kiện vệ sinh kém trong môi trường lao động là tập hợp bởi nhiều yếu tố tạo
nên cảm giác hoặc trực giác đối với người lao động. Ví dụ như độ thông thoáng trong
môi trường, các thiết bị vệ sinh và an toàn lao động, nhằm ngăn cản sự phát sinh các yếu
tố độc hại từ nguồn hoặc bảo vệ thụ động như: khẩu trang, các loại máy hút bụi đôi khi
trở nên bất lợi cho sức khoẻ. Ánh sáng thiếu làm giảm khả năng hoạt động của thị giác.
Môi trường thiếu thông thoáng làm giảm khả năng trao đổi nhiệt, khí...
1.2.5. Các tác hại nghề nghiệp, rối loạn bệnh lý nghề nghiệp thường gặp
trong công nghệ dệt may
Các tác hại nghề nghiệp thường gặp trong công nghệ dệt may bao gồm: lao
động nặng nhọc, bụi các loại, ồn, hóa chất độc và vi khí hậu bất lợi.
Lao động của ngành dệt may nhìn chung là loại lao động nặng nhọc hoặc ở
những tư thế gò bó không thuận lợi. Công nghệ sợi đòi hỏi người lao động phải tiêu
tốn sức lực rất nhiều trong thu hoạch và sơ chế nguyên liệu. Các loại sợi bông, sợi
đay thường được thu hoạch theo mùa. Người lao động thường phải gấp rút thu hái
các loại quả bông và các nguyên liệu khác nhằm tránh những ảnh hưởng bất lợi thời
tiết làm hỏng hoặc làm giảm những giá trị của nguyên liệu. Ở các nước nghèo các
nước đang phát triển đa số thu hoạch nguyên liệu là lao động thủ công, lao động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ngoài trời, các yếu tố khí hậu và thời tiết như nóng, mưa ẩm, gió bụi thường gây tác
động xấu nên sức khỏe của họ. Thông thường trong sản xuất các nguyên liệu người
ta thường phải sử dụng nhiều loại hóa chất như phân bón, hóa chất trừ sâu, hóa chất
làm trắng nên cũng có thể bị hóa chất độc hóa học này gây tác động xấu đến sức
khỏe. Nghiên cứu sức khỏe người trồng bông ở Keenya (Parkmyad.V-2002) cho
thấy có tới 19,3% số người lao động trồng bông bị giảm hoạt tính của men
Cholinesterase, 24,6% người nông dân bị các rối loạn do thời tiết ở mũi họng. Công
nghệ sản xuất sợi từ các nguyên liệu thô phục vụ cho dây chuyền dệt may, cũng là
cao (70-90 db) song tác động thường xuyên liên tục nên thường gây nên khá nhiều
các rối loạn sinh lý cấp hoặc mạn tính đối với người tiếp xúc. Nghiên cứu của
Polycard, Raymond.D Park, Satalop (1960-1990)... cho thấy có tới 1/3 số công nhân
phải chịu áp lực của tiếng ồn trong môi trường lao động dệt may và trong số đó có
tới 50% bị các rối loạn sinh lý cấp và mãn tính. Bụi hữu cơ thậm chí nhiều khi là
bụi tổng hợp, là một đặc trưng đối với công nghệ may. Hầu hết các công đoạn của
dây chuyền trong công nghệ may, bụi đều vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP). Mặc
dù bụi hữu cơ có thể ngăn được bằng khẩu trang tới trên 80% song chỉ cần một
lượng nhỏ hít phải ở những người dễ cảm nhiễm cũng có thể gây nên những rối
loạn bệnh lý. Trong giai đoạn phát triển kinh tế kỹ thuật hiện nay, các loại sợi
nguyên liệu dùng trong ngành dệt may đã có sự pha trộn của nhiều tác nhân hóa học
khác do vậy tính độc hại cũng có những thay đổi. Theo nghiên cứu của các tác giả ở
Ấn độ, Pakistan thì hiện tượng co thắt khí, phế quản có tỷ lệ cao hơn ở những công
nhân tiếp xúc với bụi tổng hợp. Dẫn từ [24], [41], [48].
Thông thường người lao động trong ngành dệt may có thể bị một số rối loạn
bệnh lý nghề nghiệp đặc thù hoặc gia tăng một số bệnh thông thường so với các
cộng đồng khác. Theo Artamonova (1975-1995), công nhân may thường bị các
bệnh mũi họng và hô hấp nhiều hơn 2 đến 3 lần so với các đối tượng khác đặc biệt
là các bệnh dị ứng ở mũi họng. Kết quả kiểm tra sức khỏe định kỳ của công nhân
dệt may thuộc liên hiệp dệt may Sinpeterbug các năm 1980-1990 cho thấy tỷ lệ
bệnh mòi họng ở đối tượng này thường xung quanh 75-85% trong khi các ngành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
khác thường chỉ từ 30-50%. Người công nhân dệt may có thể bị bệnh viêm phế
quản với tỷ lệ cao hơn bình thường từ 1,2 -1,5 lần. Theo Megg (2004) tỷ lệ viêm
phế quản trong công nhân may ở Israel trong những năm 90 của thế kỷ 20 là 28 đến
40%. Thông thường có tỷ lệ xung quanh 10% những người tiếp xúc với bụi bông
mắc bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp (Bysinose). Bệnh Bysinose là một bệnh nghề
nghiệp thường gặp với các biểu hiện chính là khó thở, suy giảm chức năng hô hấp.
Bệnh Bysinose được Leondrobert, Artamonova, Letavet, Raymond D
ParkV...nghiên cứu trong những năm 1970 đến 2000, mô tả là bệnh có cơn khó thở
LooriJ TP (2001) cho thấy có tới 10-20% người lao động dệt may ở Phần Lan bị
stress nghề nghiệp ngay từ khi mới lao động ở ngành này trong những năm đầu
(dưới 5 năm). Dẫn từ [40], [41], [42].
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trước đây ở nước ta công nghệ kéo sợi còn rất lạc hậu vì vậy điều kiện lao
động rất xấu, tình trạng bụi vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) lên tới
hàng chục, hàng trăm lần, càng ở đầu dây chuyền nồng độ bụi càng cao, nguy cơ
mắc bệnh nghề nghiệp càng lớn. Hiện nay do chính sách mở cửa của nhà nước nên
dây chuyền công nghệ đã được cải thiện và đầu tư nhiều. Qua khảo sát thấy kết quả
nồng độ bụi giảm rất nhiều. Nồng độ bụi trọng lượng tại các vị trí đều thấp hơn
TCVSCP. Nghiên cứu của Bùi Thị Tuyết Mai (1983) cho thấy hàm lượng bụi tổng
hợp đo đạc được là 12mg/m
3
không khí. Dẫn từ [33]. Nghiên cứu của Nguyễn Huy
Đản (1988) cho thấy hàm lượng bụi môi trường lao động thường là dao dộng từ 2,2
đến 56 mg/m
3
. Dẫn từ [12]. Nồng độ bụi cao nên nguy cơ gây bệnh bụi phổi bông,
viêm phế quản cấp, viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp luôn hiện hữu. Nguy cơ dị
ứng với bụi bông là rất cao. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Đản,
Bùi Thị Tuyết Mai tại thời điểm này là 15,9% trong số người tiếp xúc. So với kết
quả nghiên cứu của Tạ Tuyết Bình, Nguyễn Đăng An tại Công ty Dệt 8/3 [5], tỷ lệ
bệnh là 32,8% và Nguyễn Đình Dũng và cộng sự - 1999 [7], số mắc bệnh là 34% thì
có tỷ lệ thấp hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Dũng trên 1139 công nhân của năm loại
hình, công đoạn dệt may khác nhau cho thấy tỷ lệ giảm sức nghe là 35,5 ± 1,42%.
Tác giả cũng cho thấy biểu hiện thường gặp sớm do tác hại của tiếng ồn thường
thấy ở hệ thần kinh và tim mạch. Các dấu hiệu ban đầu ở cơ quan thính giác là ù tai,
sau đó sẽ xuất hiện các chứng bệnh kèm theo tại các cơ quan khác như đau đầu,
Qua nghiên cứu của Đan Thị Lan Hương (2002) cho thấy tỉ lệ người mắc
bệnh/triệu chứng cấp tính là 35,2%, những bệnh hay gặp ở công nhân may này là các bệnh
hô hấp và tai mũi họng 18,7%, tiêu hoá 6,9%, các bệnh phụ khoa 4,8%, bệnh mắt 4,5%.
Trong nghiên cứu của Vũ Minh Phượng (2003) 80,8% người lao động bị đau
mỏi sau ngày làm việc, 16,8% mắc bệnh cấp tính, 28,7% mắc bệnh mãn tính và
42,2% tai nạn lao động.
Nghiên cứu của Bùi Quốc Khánh và cộng sự (giai đoạn 2000 - 2006) ở công
nhân ngành Dệt sợi cho thấy sức khoẻ công nhân dây chuyền sợi có tỷ lệ, phân loại
như sau: loại I, II, III chiếm 96,8% (theo bảng phân loại năm 1997). Cũng theo tác
giả này thì sức khỏe của công nhân đã tốt hơn so với giai đoạn 1996 – 2000. Giai
đoạn này tỷ lệ sức khoẻ loại I, II chiếm 50%, sức khoẻ loại V vẫn ở tỷ lệ cao (phân
loại sức khoẻ năm 1995).
Theo kết quả nghiên cứu của Trương Việt Dũng, tỷ lệ công nhân mắc bệnh
bụi phổi bông là tương đối cao (27,6%), cao hơn của Tạ Tuyết Bình và cộng sự là
19%, của Bùi Quốc Khánh, là 18,2%. Dẫn từ [7]. Đối tượng mắc bệnh có tỷ lệ cao
nhất là công nhân Bông chải, ghép thô. Bệnh BPB giai đoạn II: 13,6% gặp nhiều ở
đối tượng công nhân có tuổi nghề cao (trên 20 năm). Làm việc tại bộ phận đầu và
giữa dây chuyền. Bệnh BPB giai đoạn III: Chiếm 5,46% (trong đó 3,23% giai đoạn
III còn hồi phục, 2,23% giai đoạn 3 không hồi phục.
Có thể tổng kết lại kết quả nghiên cứu về sức khoẻ, bệnh tật của công nhân
dệt may vào mấy vấn đề sau:
- Môi trường lao động có nhiều yếu tố bất lợi, đặc biệt là bụi hữu cơ và vi khí
hậu không thuận lợi
- Công việc lao động đơn điệu, tư thế gò bó, căng thẳng kéo dài;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Các bệnh thường gặp ở bộ máy hô hấp, tiêu hoá, mũi họng thường cao hơn
bình thường.
Trong những năm qua tình hình nghiên cứu chăm sóc về sức khoẻ bệnh tật của
người công nhân ngành dệt may nói chung và công ty may Thái Nguyên còn ở mức
thấp. Vì vậy, tổ chức điều tra và nghiên cứu theo hướng này là góp phần đánh giá