Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học s phạm h nội
Phạm tuấn anh
Sự đa dạng thẩm mĩ
của văn xuôi việt nam sau 1975Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số : 62.22.32.01
Tóm tắt Luận án tiến sĩ ngữ văn H Nội - 2009
Luận án đợc hon thnh tại:
Khoa Ngữ văn Trờng Đại học S phạm Hà Nội
1. Phạm Tuấn Anh (2005), Văn xuôi Việt Nam sau 1975 dới cái nhìn mĩ
học, Việt Nam 1954 2005, 21 năm kháng chiến chống Mĩ cứu nớc và
30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, NXB Giáo dục
2. Phạm Tuấn Anh (2006), Bớc đầu tìm hiểu lời văn nửa trực tiếp trong văn
xuôi Việt Nam hiện đại, Ngữ học trẻ diễn đàn nghiên cứu và học tập,
NXB Đại học S phạm
3. Phạm Tuấn Anh (2008), Nhận thức mới về cái đẹp trong văn xuôi Việt
Nam sau 1975 qua Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa, Tạp chí Giáo dục
(194, kì 2)
4. Phạm Tuấn Anh (2008), Vài nét về cái cao cả trong văn xuôi Việt Nam
sau 1975, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (689)
5. Phạm Tuấn Anh (2008), Cái hài trong văn xuôi Việt Nam, Tạp chí Văn
hoá Nghệ thuật (291, tháng 09)
6. Phạm Tuấn Anh (2008), Cái bi trong văn xuôi Việt Nam sau 1975, Tạp
chí Khoa học Trờng Đại học S phạm Hà Nội, Vol 53, N
o
6 1
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề ti
Văn học Việt Nam kể từ sau 1975 đã bớc sang một thời kì mới, đặc biệt
là từ giữa thập kỉ 80, khi ý thức văn hoá mới hình thành, hệ thống giá trị
biến đổi thì văn học đã thực sự chuyển sang một hình thái khác trớc đánh
dấu một bớc phát triển quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Văn xuôi
tài nghiên cứu mới. Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã đợc nghiên cứu ở
2
những phơng diện tổng quan. Những nghiên cứu ở cấp độ cụ thể chủ yếu
về thi pháp tác giả, tác phẩm. Có một số chuyên luận, luận văn, bài nghiên
cứu trực tiếp bàn đến đặc trng thẩm mĩ của văn xuôi giai đoạn này nhng
chỉ ở phạm vi từng vấn đề cục bộ.
Trên phơng diện tổng quát, những đổi mới của hệ thống giá trị thẩm
mĩ và sự đa dạng của văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã bớc đầu đợc đề
cập đến. Tiêu biểu là các ý kiến của Diệp Minh Tuyền, Nguyễn Văn Long,
Trần Đình Sử, Nguyễn Thị Bình, Nguyên Ngọc Tuy nhiên, hầu nh cha
có ý kiến trực tiếp bàn đến đặc trng đa dạng hoá, với những phẩm chất
thẩm mĩ cụ thể.
Hớng nghiên cứu thẩm mĩ, sự chuyển đổi các phạm trù thẩm mĩ, đã
xuất hiện trong những phân tích về vị thế, tính chất của cái bi và cái hài.
Trong cái nhìn so sánh lịch sử, La Khắc Hoà, Phong Lê, Nguyễn Thị
Bình đã bàn đến cái bi và cái hài nh một cặp giá trị đóng vai trò quan
trọng trong vận động đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975.
Nhận định về cái bi, các ý kiến đánh giá chủ yếu gắn với mảng sáng tác
về đề tài chiến tranh. Tiêu biểu là các ý kiến của Trần Đình Sử, Hồ Phơng,
Tôn Phơng Lan, Nguyễn Tri Nguyên Cái bi đợc xem nh một biểu hiện
thẩm mĩ nổi bật của xu hớng đổi mới quan niệm, cách nhìn về hiện thực
đời sống trong tơng quan với văn học cách mạng trớc 1975.
Nhận định về cái hài, tiêu biểu là các ý kiến của Lã Nguyên, Đào
Tuấn ảnh Tuy nhiên, cái hài tiếng cời đã không đợc tiếp cận trong
quan điểm đa dạng hoá thẩm mĩ, vì thế những sắc thái và ý vị sâu sắc
của cái hài trong tơng tác với các phẩm chất thẩm mĩ khác cha đợc
chú ý làm rõ.
Tóm lại, các phạm trù thẩm mĩ cơ bản tạo nên phẩm chất thẩm mĩ mới
của văn xuôi Việt Nam sau 1975 bớc đầu đã đợc đề cập. Có một số công
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu từ
sau 1975 đến 2006, phân tích, khái quát các phẩm chất thẩm mĩ nổi bật;
xác định các khái niệm công cụ: đa dạng thẩm mĩ, cái đẹp, cái cao cả, cái
bi, cái cảm thơng, cái hài, cái phi lí; trình bày các luận điểm về sự đa
dạng hoá thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Ngoài các ph
ơng pháp đợc sử dụng nh những thao tác thờng xuyên
trong nghiên cứu văn học nh so sánh, phân loại, phân tích, tổng hợp luận
án sử dụng các phơng pháp chủ yếu sau: Phơng pháp phân tích thẩm mĩ,
Phơng pháp tiếp cận thi pháp học, Phơng pháp tiếp cận hệ thống.
6. Những đóng góp mới của luận án
(1) Lần đầu tiên phân tích trực tiếp sự đa dạng thẩm mĩ ở cả cấp độ hệ
thống và cấp độ từng phạm trù thẩm mĩ, qua đó nhận định về đặc trng và xu
hớng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam kể từ sau 1975.
(2) Bớc đầu hệ thống hoá các khái niệm lí thuyết về thẩm mĩ và góp
phần làm rõ hơn các khái niệm đó trong quá trình vận dụng vào phân tích
một đối tợng cụ thể.
4
(3) Góp phần khẳng định thêm tính hữu dụng, hiệu quả của hớng nghiên
cứu văn học từ góc độ thẩm mĩ, trên cơ sở phân tích hệ thống giá trị thẩm mĩ.
7. Giới thiệu bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ
lục tác phẩm, nội dung của luận án đợc cấu trúc thành 4 chơng: Chơng 1
(Từ trang 19 đến trang 47): Sự thay đổi hệ thống giá trị thẩm mĩ trong văn
xuôi Việt Nam sau 1975; Chơng 2 (Từ trang 48 đến trang 96): Các sắc điệu
của cái đẹp và cái cao cả trong văn xuôi Việt Nam sau 1975; Chơng 3 (Từ
trang 97 đến trang 138): Các hình thái của cái bi và cái cảm thơng trong
văn xuôi Việt Nam sau 1975; Chơng 4 (Từ trang 139 đến trang 186): Những
thẩm mĩ mới
1.2.1. Vận động đổi mới
Sau 1975, văn học đã làm một cuộc đổi mới trọng đại, cái mốc 1986 đã
trở thành một điểm khởi đầu mới cha từng có cho một dòng chảy sâu rộng
đến hết thế kỉ XX và tiếp diễn đơng đại sang đầu thế kỉ XXI. Mỗi cuộc đổi
mới nh thế cũng đồng thời với sự thay đổi của hệ thống giá trị thẩm mĩ.
Cuộc đổi mới cha thực sự vợt ngỡng ở khoảng mơi năm đầu sau
tháng 4/1975. Có thể xem đây là một cuộc giao thời mới, để sau đó, khi đã
hội tụ đủ các điều kiện cần thiết, văn học thực sự bớc sang một thời kì đổi
mới mạnh mẽ toàn diện.
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, với Nghị quyết 05 về văn hoá
văn nghệ, đã tạo ra một động lực mạnh mẽ mang ý nghĩa quyết định đến
bớc ngoặt của dòng chảy lịch sử văn học Việt Nam. Văn học đổi mới trên
cơ sở một hệ thống giá trị thẩm mĩ đã khác trớc.
1.2.2. Sự hình thành hệ thống giá trị thẩm mĩ mới
1.2.2.1. Quan niệm về giá trị thẩm mĩ
Cái đẹp là phạm trù chi phối quy luật, hớng mọi sáng tạo nghệ thuật
tới giá trị đích thực của cuộc sống con ngời, cho cuộc sống con ngời.
Tuy nhiên, phạm trù cái đẹp không trùng với khái niệm giá trị thẩm mĩ.
Khái niệm giá trị thẩm mĩ chỉ tơng đồng với phạm trù cái đẹp ở nghĩa
rộng, khái quát. Trên thực tế, ngời ta thờng xuyên phải đối mặt với vấn
đề hết sức phức tạp là khác với các phạm trù nh cái cao cả, cái bi hay cái
hài, cái đẹp luôn tồn tại nhiều tầng bậc, phạm vi ý nghĩa.
Hệ thống giá trị thẩm mĩ là hệ thống các phẩm chất thẩm mĩ cao nhất
cần có cho cuộc sống mà khát vọng ngời nghệ sĩ hớng tới, nó vừa bộc lộ
cá tính, vừa đại diện cho nhu cầu của thời đại, vừa có tính dân tộc đồng
thời mang ý nghĩa nhân loại. Cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái cảm thơng,
cái hài, cái phi lí là những dạng phẩm chất thẩm mĩ khác nhau. Hệ thống
thẩm mĩ của mỗi thời kì nghệ thuật chịu sự chi phối của hệ thống giá trị
thẩm mĩ đợc hình thành trong bối cảnh lịch sử xã hội của thời kì đó.
Các sắc điệu của
cái đẹp
v
cái cao cả
trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
2.1. Cái đẹp
2.1.1. Những tiền đề truyền thống
Sự đổi mới nào cũng dựa trên cơ sở của một truyền thống. Sự đa dạng của
cái đẹp trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng có tiền đề từ trong dòng
mạch vận động của kinh nghiệm thẩm mĩ, từ truyền thống đến hiện đại, qua
các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử văn học, văn hoá Việt Nam.
2.1.2. Tơng tác mới và sự phô diễn đối cực
Cha bao giờ, một cách trực tiếp, những đối cực đẹp lại phô diễn mạnh
mẽ, hồn nhiên nh trong văn xuôi Việt Nam sau 1975. Điều đó có lí do cơ
bản từ sự tơng tác giữa cái đẹp và cái bi trong hệ thống thẩm mĩ mới.
2.1.2.1. Gần gũi, trần tục và xa vời, mộng ảo
Những đối cực đẹp đã sớm đợc Nguyễn Minh Châu thể nghiệm qua
Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa nh một cặp biểu tợng cho sự thức
7
nhận mới về vẻ đẹp của cuộc đời.
Đẹp đa dạng trong tính đối cực gần xa, trần tục mộng ảo đợc thể
hiện ở nhiều tác phẩm. Có cái đẹp mộng ảo, h huyễn, đa ngời ta đến với
hành trình kiếm tìm cái tuyệt đối ngay trong cái thờng nhật, một hành trình
phi lí mà làm thành ý nghĩa của sự sống nhân văn nh ở Con gái thuỷ thần
(Nguyễn Huy Thiệp), ánh trăng (Nguyễn Bản). Có khi đối cực đẹp kiểu này
đợc đẩy thành sự đối đầu giữa những thành kiến, tị hiềm về giá trị nh
trong Những phiên bản của đời (Hồ Thị Hải Âu) hay Bầy hơu nhảy múa
8
2.1.3.2. Thân thể phồn thực
Trong lịch sử văn học Việt Nam, cha bao giờ vẻ đẹp thân thể con
ngời, đặc biệt là thân thể ngời phụ nữ lại đợc miêu tả trực tiếp, táo bạo
nh trong văn xuôi đổi mới sau 1975. Cái đẹp nhân vật đẹp, không chỉ
đợc đo bằng tiêu chí đạo đức, và vẻ đẹp của con ngời trần tục tràn trề
trên các trang viết, có khi là vẻ đẹp lõa thể đợc tô đậm với nhiều sắc thái.
Vẻ đẹp lõa thể trong văn xuôi đổi mới thấm đẫm chất phồn thực, kí thác
và thoả mãn khát khao về hồi sinh, hằng tồn của sự sống ở một sứ xở liên
tiếp phải đối mặt với sự huỷ diệt của bom đạn chiến tranh: Seo Ly trong
Seo Ly kẻ khuấy động tình trờng, những ngời đàn bà trong Những
ngời đàn bà, Quý trong Chọn chồng, Thiên trong Chị Thiên của tôi,
Bớm trong Cánh bớm tung tăng của Ma Văn Kháng, Đào trong Mảnh
đất lắm ngời nhiều ma của Nguyễn Khắc Trờng, Hai Hợi trong Ăn mày
dĩ vãng của Chu Lai, Túc trong Xa kia chị đẹp nhất làng của Tạ Duy Anh,
chị trong ánh trăng của Nguyễn Bản, Thịnh trong Đàn đom đóm bay lên
trời của Tô Đức Chiêu, ngời dì trong Hoa bởi đầu mùa của Thuỳ Dơng,
Loan trong Đùa của tạo hoá của Phạm Hoa
Thân thể ngời phụ nữ là thân thể của ngời mẹ, ngời sinh sản, ngời
mang nguyên lí phồn thực. Không phải ngẫu nhiên mà trong sự mô tả vẻ đẹp
thân thể của ng
ời phụ nữ, các hình ảnh nh vú (ngực), eo, hông, mông
thờng đợc tô đậm với những đờng nét vừa tả thực, vừa giàu tính tợng
trng. Những hình ảnh đó đẹp trong tính thiêng của những bộ phận gắn với
chức năng sinh sản và gợi dục. Phồn thực gắn với ý niệm về sự sống nảy nở,
sinh sôi có cơ sở để bộc lộ mạnh mẽ trong văn xuôi Việt Nam thời hậu chiến,
thể hiện bản năng, khát vọng sống mạnh mẽ, nhu cầu tái sinh, hồi sinh.
2.1.3.3. Thân thể tính dục
Vẻ đẹp thân thể trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 còn là vẻ đẹp đậm
màu tính dục. Vẻ đẹp tính dục không trực tiếp gắn với nhu cầu sinh nở,
tri nhận của con ngời đối với đặc tính đó của thế giới.
2.2.2. Vị trí của cái cao cả trong hệ thống thẩm mĩ mới
Cái cao cả sử thi đã không còn chiếm vị trí chủ đạo trong những tác phẩm
văn xuôi thấm đẫm chất tiểu thuyết hiện đại.
Trong văn học sử thi, con ngời đã tự nâng mình lên, đồng nhất mình
với những phạm trù lớn lao. Chiều kích của con ngời cá nhân đã đợc
thay thế bằng chiều kích lí tởng của Tổ quốc, nhân dân, giai cấp, lí tởng
cách mạng Trong văn xuôi đổi mới sau 1975 cũng không hiếm những
hình tợng cao cả nh thế. Cánh đồng phía Tây của Hồ Phơng, Lõm của
Sơn Tùng, Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai, truyện lịch sử của Ngô
Văn Phú, kí của Hoàng Phủ Ngọc Tờng vẫn âm vang chất cao cả sử thi
nh những giá trị bất diệt, trờng tồn. Tuy nhiên, chỉ thấy cái cao cả của
Tổ quốc, của sự nghiệp cách mạng, của giai cấp văn học sẽ dễ lãng quên
những giá trị cá nhân, cái cao cả từ những giá trị sống của cá thể.
Trớc cái cao cả, con ngời luôn thấy mình bé nhỏ, bị lấn át. Khi đó, con
ngời phải tự nâng mình lên để chiếm lĩnh. Quá trình tự nâng mình lên ấy
có thể diễn ra ở nhân vật nh Dũng (Cánh đồng phía tây), Lân (Đỉnh lũ),
ngời con gái (Gánh xơng trâu) Nhiều khi, quá trình tự nâng mình lên
10
ấy không diễn ra trực tiếp trong tác phẩm mà đợc thực hiện ở hình tợng
tác giả hay chính ngời đọc: Mùa lá rụng trong vờn, Khi hoàng hôn bình
yên, Ngời thổi kèn trom-pet; khi đó, cái cao cả thờng đợc thể hiện
trong những tình huống trớ trêu của số phận, những nghịch lí của cuộc đời.
Tất nhiên, giá trị cao cả đích thực cuối cùng bao giờ cũng đợc nhân lên
trong thế giới tinh thần của ngời tiếp nhận, dù tác phẩm có sử dụng theo
phơng thức nào đi chăng nữa.
2.2.3. Cái hùng trong hoà phối mới
Cái hùng trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 thể hiện mối liên hệ bản
chất đối với cái bi. Đó là tính cao cả của hành động và quá trình khắc phục
Cái bi chiếm vị thế u trội, cùng với cái hài làm thành chủ âm của hệ
thống thẩm mĩ mới. Có thể từ nhiều góc độ để lí giải về vị thế u trội của
11
cái bi trong hệ thống thẩm mĩ của văn xuôi đổi mới, nhng vấn đề chính
nằm ở chỗ: sự hội tụ giữa nhu cầu đối thoại của ý thức thẩm mĩ mới đối
với lí tởng thẩm mĩ cũ, cái chủ động tạo nên vận động đổi mới toàn cục,
và mạch chảy hiện đại của bản thân t duy văn xuôi trên hành trình hoà
vào biển cả văn chơng thế giới. Trớc đây, ngời ta cho rằng chỉ có xã hội
phong kiến và t bản mới có bi kịch. Bởi vì chỉ ở những hình thái xã hội ấy
mới có sự tha hoá. Điều kiện văn hoá mới sau 1975 đã đem đến một nhận
thức mới rằng tha hoá có thể diễn ra ở bất kì hình thái xã hội nào. Có tha
hoá, có sự huỷ diệt giá trị tất yếu sẽ có bi kịch. Thêm nữa, cái bi chỉ có thể
đợc phát hiện và biểu hiện khi có sự quan tâm đến đời sống cá thể, con
ngời cá nhân nh những giá trị độc lập. Trớc năm 1975, văn học cách
mạng đề cao giá trị cộng đồng, tập thể nên cái bi vắng bóng. Cộng đồng,
tập thể nh những giá trị tự thân, là bất diệt, không thể bị huỷ diệt hay chết
đi. Chỉ có quan niệm về giá trị cộng đồng, tập thể là có thể bị huỷ diệt hay
chết đi. Khi đó, cái bi cũng đã gắn với ý thức cá nhân, cá thể.
Cái bi đợc thể hiện nh một mối bức xúc tranh biện, đối thoại, có khi
là công phá đối với hệ thống thẩm mĩ của giai đoạn văn học trớc đã tỏ
ra quá xơ cứng, không bắt đợc nhịp sống, nhu cầu thẩm mĩ của xã hội
mới. Các truyện trong tập Chiếc thuyền ngoài xa và Cỏ lau (Nguyễn Minh
Châu), các tác phẩm Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Chim én bay (Nguyễn Trí
Huân), Bến không chồng (Dơng Hớng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo
Ninh), Không phải trò đùa (Khuất Quang Thuỵ), Chuyện tình kể trớc lúc
rạng đông (D
ơng Thu Hơng), Biển cứu rỗi, Ngời sót lại của rừng cời
(Võ Thị Hảo), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh) đều là thế. Những mảng
tối, mặt trái, phía sau xa hiện thực đời sống đợc lật xới, nghiền ngẫm tạo
cái tôi, với sự lựa chọn tự do của những quan niệm, cái chết của những
giá trị mới thực sự hiện hình. Chiều sâu, sự bất tận của ý thức và sự bất
tuyệt của những xung đột bi kịch đó là điểm gặp gỡ mới mẻ có thể thấy ở
văn xuôi Việt Nam thời đổi mới.
3.1.2.2. Những chủ thể tự do
Phẩm chất cao cả, vẻ đẹp của chủ thể bi kịch thể hiện đầy đủ ở năng lực tự
ý thức. Đây là điểm quan trọng tạo nên chất bi kịch hiện đại. Cho nên, không
thể lấy cái đẹp, cái cao cả, cái hùng là căn cứ khu biệt rạch ròi văn học Việt
Nam 1945 1975 với văn học Việt Nam sau 1975. Bởi vì, khi nhà văn đào
sâu vào thế giới bên trong để lên tiếng về khả năng tự ý thức của con ngời
với cảm hứng bi kịch thì đồng thời đã cho thấy những biểu hiện khác của cái
đẹp, cái cao cả, cái hùng. Trong cảm hứng thẩm mĩ mới, những vẻ đẹp truyền
thống không mất đi mà chúng tự bứt phá ra khỏi khuôn thớc cũ để gia nhập
vào một cấu trúc mới trong sức hút đáng kể của thẩm mĩ bi kịch.
Những cái chết nh là kết quả của tự do và tất yếu, hiện thân cho
những giá trị cao nhất mà cuộc sống cần phải có. Đối với các tác phẩm
không thuộc thể loại bi kịch mà mang tính bi kịch thì cái chết của nhân
vật cần đợc hiểu theo nghĩa rộng. Đó là sự huỷ diệt của các giá trị. Những
giá trị sống đã đợc nhận thức cùng với những số phận bi kịch trớc hết là
sự cảnh tỉnh của nhà văn về chân lí muôn thủa của đời sống hồn nhiên.
13
3.1.2.3. Một tinh thần lạc quan mới
Phải từ khoảng 1986, văn học mới xác lập đợc phần nào mối quan hệ
máu thịt với đời sống, văn xuôi đợc mùa đồng thời với sự nảy nở của
cái bi. Sự xác lập lại vị trí của văn học trong đời sống tinh thần xã hội đã có
vai trò quan trọng của thẩm mĩ bi kịch. Tác động thẩm mĩ đặc thù của cái
bi đã góp phần xua đi cái lạnh lẽo của mối quan hệ giữa văn chơng và
công chúng. Cái bi đã đem lại niềm tin vào tính chân thật của văn chơng ở
ý nghĩa nó đã thức nhận quy luật nghiệt ngã của cuộc sống trong sự trải
14
Châu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đặc biệt là môtip nhân vật nhà
văn trong truyện Nguyễn Huy Thiệp.
3.1.3.2. Bi kịch bản thể
Những giá trị bị huỷ diệt trong những xung đột vĩnh cửu của tồn tại con
ngời, đó là đặc trng của bi kịch bản thể. Đồng thời với cái nhìn bản thể về
con ngời và cuộc đời, cái bi đã đợc phát hiện nh một thuộc tính tất yếu:
Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Thân phận
của tình yêu (Bảo Ninh), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân) Bản thể và thời
gian, ý thức và thân xác trong thời gian sống, nghĩa là trong quá khứ hiện
tại và cả tơng lai đang dự phóng trực tiếp và tiềm tàng trong bản thể ấy cũng
là nỗi đau không thể hoá giải, là cái đợc mất không thể phân định sòng
phẳng. Trong xã hội Việt Nam hiện đại, bi kịch bản thể là một dấu mốc của
quá trình tự ý thức, cho thấy một trình độ nhận thức mới về con ngời cá
nhân trong tính nhân loại của nó.
ở các tác phẩm khai thác đề tài lịch sử, cái bi bản thể đem lại d ba
mới, khiến quá khứ sống dậy với đầy đủ da thịt trong cảm quan nhân sinh,
thế sự của ngời nghệ sĩ. Cho dù sự sống dậy đó luôn đánh thức cả những
nỗi đau, mất mát, thảm bại không sao bù lấp đợc. Quá khứ, với gơng mặt
thực mà văn chơng giả định, luôn tồn tại trong tính bản thể.
Bi kịch bản thể nhiều khi biểu hiện ở những trăn trở về giá trị văn hoá
gắn với cảm thức mới về thời gian trôi chảy, vạn vật chuyển dời, đổi thay
trong một thời cuộc đầy biến động: Mùa lá rụng trong vờn (Ma Văn
Kháng), Cây lộc vừng nở hoa vông vang (Trần Thị Trờng), Mẫu thợng
ngàn (Nguyễn Xuân Khánh)
3.2. Cái cảm thơng
3.2.1. Quan niệm về đặc trng thẩm mĩ của
cái cảm thơng
Sự xuất hiện của con ngời với địa vị xã hội thấp kém, chịu nhiều thiệt thòi,
khổ cực, bất hạnh cùng những trạng thái xúc cảm thơng thân, xót mình trong
Văn xuôi Việt Nam kể từ thời kì đổi mới chuyển từ cảm hứng đối với cái
chung sang cảm hứng đối với cái riêng, cảm hứng cảm thơng cao cả trong văn
học cách mạng đã không còn là âm hởng bao trùm. Truyền thống thơng
thân, xót mình lại sống dậy trong những chuyển hoá, tơng tác đa dạng.
3.2.3. Mối quan hoài về thân phận và số phận
Cha bao giờ, vấn đề thân phận của con ngời trong cuộc đời thu hút
nhiều sự quan tâm của các nhà văn đến thế. Các cây bút văn xuôi tỏ ra hết
sức nhạy cảm tr
ớc những thân phận bèo bọt, nhỏ nhoi của con ngời, bất kể
đó là những ngời có địa vị cao hay thấp, sang trọng hay hèn kém trong xã
hội. Những nhân vật có địa vị cao trong xã hội nh là Đặng Phú Lân (Kiếm
sắc), Vinh Hoa (Phẩm tiết), Đề Thám (Ma Nhã Nam) của Nguyễn Huy
Thiệp; Nghệ Tông, Thuận Tông, Thánh Ngẫu, Hồ Quý Ly trong Hồ Quý Ly
của Nguyễn Xuân Khánh; Mỵ Nơng trong Sự tích những ngày đẹp trời của
Hoà Vang Điều đáng lu ý là, những tác phẩm thể hiện chủ đề này thờng
là giả lịch sử, giả cổ tích hoặc tiểu thuyết lịch sử. Và thân phận bèo bọt của
những con ngời có địa vị cao trong xã hội thờng đợc thể hiện gắn với chủ
đề cô đơn, cảm thơng trớc những thân phận ấy cũng là nỗi xót xa cho sự cô
đơn của những kiếp ngời, những nạn nhân trong dòng chảy xiết của lịch sử.
16
Nớc mắt, niềm cảm thơng đã kéo gần lại quá khứ, để con ngời hiện
ra chân thực, gần gũi và vì thế đúng với thân phận cá nhân của nó hơn
trong ý niệm về tính phù du, hữu hạn của hiện tồn. Thơng thân, xót mình
ở những con ngời thấp kém về địa vị xã hội, những hồng nhan bạc
mệnh thì văn chơng xa đã nói nhiều, nhng thơng thân, xót mình đối
với các vĩ nhân, bậc anh hùng thì có lẽ phải trong sự táo bạo, trình độ ý
thức cá nhân bùng nổ nh ở văn xuôi đổi mới sau 1975 mới rõ nét nh thế.
Song rút nấp vào lịch sử, cái cảm thơng cũng đã bộc lộ những giới hạn
nhất định cần vợt qua trong thiết chế thẩm mĩ.
Cái hài (hay cái hài kịch) phản ánh một kiểu hiện tợng phổ biến của
thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cời mang ý nghĩa xã hội
thẩm mĩ. Tiếng cời đợc tạo ra từ sự mâu thuẫn, tơng phản hay không tơng
17
xứng mà ngời ta có thể cảm nhận đợc về phơng diện xã hội thẩm mĩ.
M. Bakhtin đã lí giải tiếng cời nh một tiền đề đặc thù của sự hình
thành thể loại tiểu thuyết trong khu biệt với sử thi. Khái niệm tiếng cời
mà Bakhtin nói đến gắn với hài hớc (trào tiếu) dân gian và không hoàn
toàn trùng khít với quan niệm cái hài. Bakhtin đã phân tích sâu sắc về tính
lỡng trị của tiếng cời. Đó là ngời cời không tách mình khỏi thế giới
đáng cời, vừa vui nhộn, hoan hỉ, vừa nhạo báng, chế giễu, nó vừa phủ
định vừa khẳng định, vừa khai tử vừa tái sinh..
4.1.2. Vị thế chủ âm của cái hài trong hệ thống thẩm mĩ mới
Trong dòng đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975, cái hài cùng với
phẩm chất đặc trng đậm màu tiểu thuyết, nổi lên nh một trong những
phạm trù chủ đạo của hệ thống thẩm mĩ mới. Vị thế mới của cái hài là hệ
quả của sự đổi mới quan niệm về nhà văn và hiện thực. Cùng với sự đổi
mới quan niệm về các phơng diện của văn học, cái hài biểu hiện cho ý
thức giải thiêng, giải huyền thoại. Cùng với cái bi, cái hài tạo nên một
sự hài hoà chiều sâu cho hệ thống thẩm mĩ đa dạng.
Vị thế mới của cái hài là hệ quả nhu cầu cời trở lại của văn học và
công chúng. Tiếng cời hài hớc phồn thực trong truyền thống văn học sẽ
xuất hiện trở lại trong văn học đổi mới, tất nhiên là với những biến thái hết
sức đa dạng. Bởi vì, suốt mấy chục năm văn học chiến tranh, cái hài sống
ẩn ức trong thời của cái nhìn sử thi, văn học đã phải nhịn cời. Bối cảnh
đời sống văn hoá - xã hội giai đoạn đổi mới sau 1975 đã tạo ra những động
lực mạnh mẽ từ bên trong để cái hài đợc phát huy. Sự có mặt của cái hài
nh một trong những phạm trù thẩm mĩ chủ đạo của văn xuôi đổi mới phản
ánh tính chất bớc ngoặt của một giai đoạn phát triển mới của văn hoá tinh
Anh), hay nhiều truyện của Hồ Anh Thái mà tiêu biểu là các truyện trong
Tự sự 265 ngày và Bốn lối vào nhà cời. ở sắc thái thẩm mĩ của biếm hoạ,
chúng ta đã thấy có sự đan cài với cái nhìn hài hớc không hoàn toàn ác ý.
4.1.3.2. Hài hớc (humor)
4.1.3.2.1. Những dấu hiệu của tính nhập nhằng nớc đôi
Phải ở tiếng cời hài hớc này, tiếng cời mà cả M. Bakhtin và Octavio
Paz đều đều quan niệm nó gắn với sự ra đời của tiểu thuyết, tiếng c
ời
khiến bất cứ cái gì nó chạm đến đều trở thành nhập nhằng nớc đôi,
tiếng cời thể hiện tính toàn vẹn của bình diện trào tiếu của thế giới, cái
chỉnh thể luôn biến đổi, mà con ngời cời cũng là một bộ phận trong
đó, văn xuôi Việt Nam sau 1975 mới bộc lộ một sự thay đổi sâu sắc.
Thực chất, tiếng cời hài hớc chỉ có thể xuất hiện trên cơ sở một hệ giá
trị đã thay đổi căn bản. Không có cơ sở này không thể có quan niệm, cái nhìn
mới về thế giới. Cái châm biếm (satire) hoàn toàn có thể sinh sôi trên cơ sở
một quan niệm đơn trị về thế giới. Nhng cái hài hớc (humor) thì chỉ có thể
đợc phát hiện và biểu hiện trong quan niệm về một thế giới với tính đa trị,
nhập nhằng cố hữu của nó. Mảnh đất lắm ngời nhiều ma của Nguyễn
Khắc Trờng, Thợng đế thì cời của Nguyễn Khải là những ví dụ tiêu biểu
cho sự thay đổi quan niệm về tiếng cời nh thế.
4.1.3.2.2. Hài hớc phồn thực
Nếu nh trong thơ Hồ Xuân Hơng tiếng cời phồn thực gắn với nhu cầu
tự khẳng định, ý thức bứt phá của ngời phụ nữ khỏi ràng buộc lễ giáo
19
phong kiến; trong văn xuôi hiện hiện thực phê phán đầu thế kỉ XX, cái hài
hớc phồn thực chủ yếu nhằm tô đậm bi kịch nhân sinh, thì đến văn xuôi
đổi mới sau 1975, hài hớc phồn thực đã trở nên đậm chất và đa nghĩa hơn
khi ngời ta thả sức cời trớc lòng đắm dục, ái dục của con ngời, bất kể là
ai. Phê phán và hả hê khoái hoạt, nhục dục tối tăm và sinh sôi cao cả, truyền
thế giới vô minh, đó là quan niệm bao trùm những sáng tác của Nguyễn
Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phơng, Hồ Anh Thái. Vô minh
20
ở đây bao hàm hai bình diện ý nghĩa: cái vô minh nh bản chất tồn tại của
thế giới hỗn độn, phi trật tự, phi trung tâm và cái vô minh của nhận thức
con ngời trong thế giới đó, cái hữu hạn của tri thức, kinh nghiệm.
ở nhiều trờng hợp, Nguyễn Huy Thiệp bộc lộ sự ngờ vực của mình đối
với tri thức và trí thức nh là những chân lí về nhận thức thế giới. Trí thức
cũng là một chủ đề quan trọng trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, và tất
nhiên nó gắn với dụng ý hạ bệ không thơng tiếc. Cuộc đời rời rạc, con
ngời rời rạc, tất cả đã chứng thực cho tính chất vô minh của thế giới.
Nguyễn Bình Phơng với Trí nhớ suy tàn, Ngời đi vắng, Thoạt kì thuỷ
cũng thể hiện quan niệm về một thế giới vô minh qua môtip điên và
mộng. Hồ Anh Thái, ở Tự sự 265 ngày, Cõi ngời rung chuông tận thế,
Bốn lối vào nhà cời, Mời lẻ một đêm với dày đặc những cái méo mó
nghịch dị cũng hàm ý cho một quan niệm về tính h vô của thế giới.
4.2.3. Một số biểu hiện
Cái phi lí biểu hiện ở nhiều cấp độ, nhiều phơng diện của tác phẩm. ở
đây chúng tôi chỉ đi vào những biểu hiện tiêu biểu nhất: phi lí trên phơng
diện kết cấu sự phá vỡ suy lí nhân quả; phi lí trên phơng diện nhân vật
nhân dạng nghịch dị và phi lí trong chuyển hoá, tơng tác với cái bi và cái
hài hớc hài hớc đen.
4.2.3.1. Sự phá vỡ suy lí nhân quả
Trật tự tổ chức mạch truyện theo kiểu liên hệ nhân quả bị phá vỡ trong các
sáng của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phơng, Hồ Anh
Thái. Trong sáng tác của các tác giả này, hoặc rất khó hoặc không thể nắm
bắt diễn biến tuyến tính theo lôgic nhân quả các sự việc. Có thể nói, cái phi lí
thể hiện rõ nhất, dễ thấy nhất trớc hết ở phơng diện tổ chức cốt truyện.
ở phơng diện này, cái phi lí chính là sự chối bỏ cái quan niệm nhân
phú, nhng là nhằm vạch ra cái tính chất buồn cời trong những sự việc
thờng thấy, cời cợt khôi hài một cách chua chát, kể cả tự trào trong một
trạng thái lạnh lùng, bế tắc, tiến thoái lỡng nan..
Sự xuất hiện sắc thái hài hớc đen là một hiện tợng phản ánh bản chất
vận động đa dạng hoá thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975. Cái hài
hớc đã kết giao với cái phi lí trong sự nảy sinh cảm quan hậu hiện đại.
Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài và Hồ Anh Thái cũng chính là các tác
giả tiêu biểu của cái hài hớc đen.
Hài hớc đen thờng đợc thể hiện đồng thời với thủ pháp giễu nhại.
Nhại nh một biểu hiện của tự sự mang đậm chất hậu hiện đại ở sáng tác
của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài chính là trong tơng tác, chuyển
hoá với cái hài hớc đen. Sau này, Hồ Anh Thái cũng thờng thể hiện cái
hài hớc đen trong lời kể giễu nhại nh vậy. Trên cấp độ lời văn, sắc thái hài
hớc đen thờng đợc biểu hiện ở kiểu lời văn nhại. Lời văn nhại, với t
cách lời kể, thấm đẫm khí vị hài hớc đen khi nó mang tính nửa trực tiếp.
Cời trớc cái phi lí, đó là một thái độ của những ngời khao khát sống
có ý nghĩa trong cái vô minh của thế giới, và của chính mình.
22
kết luận
1. Sự thay đổi của hình thái xã hội Việt Nam sau 1975 diễn ra đồng
thời với sự hình thành một hệ thống giá trị mới của đời sống. Hệ thống giá
trị này trở thành nền tảng, vừa đặt ra nhu cầu đổi thay vừa là một hệ quy
chiếu mới cho hệ thống giá trị thẩm mĩ trong nghệ thuật. Đặc biệt kể từ
khoảng 1986, văn học, nhất là văn xuôi đã thực sự bớc vào một lộ trình
đổi mới mạnh mẽ. Với hệ thống thẩm mĩ mới, văn xuôi đã góp phần quan
trọng vào sự phát triển của hệ thống giá trị nói chung, giá trị thẩm mĩ nói
riêng của đời sống văn hoá - xã hội Việt Nam trong tiến trình hoà nhập
với xu hớng thẩm mĩ của thế giới.