Bộ giáo dục v đo tạo Học viện chính trị - hnh chính
quốc gia
hồ chí minh
Phan văn Tân
Xung đột x hội về đất đai
ở nông thôn thời kỳ đổi mới
(Nghiên cứu trờng hợp tỉnh Hà Tây)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 62 31 30 01
Tóm tắt Luận án tiến sĩ xã hội học
Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia và Th viện Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Danh mục các công trình của tác giả
có liên quan đến luận án
1. Lê Tiêu La - Phan Tân (2001), "Xung đột xã hội qua lăng kính của Xã
hội học", Tạp chí Công an nhân dân, (02), tr.25-28.
2. Phan Tân (2003), "Xung quanh kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu
kiện đất đai của đồng bào dân tộc Khơmer ở huyện Tri Tôn, tỉnh An
Giang", Tạp chí Công an nhân dân, (11), tr.73-76.
3. Phan Tân (2005), "Nhận thức về xung đột xã hội ở Việt Nam hiện nay
- một số vấn đề đặt ra", Tạp chí Công an nhân dân, (9), tr.113-116.
4. Phan Tân (2006), "Hậu quả sau những xung đột xã hội ở xã Trung Tú
và một số bài học rút ra qua công tác giải quyết ổn định tình hình ở
địa phơng", Tạp chí Công an nhân dân, (8), tr.85-88.
5. Phan Tân (2007), "Một số giải pháp ngăn ngừa, xử lý đối với số ngời
cầm đầu trong các vụ xung đột, khiếu - tố ở Hà Tây", Tạp chí
Công an nhân dân, Số (01), tr.111-114.
6. Phan Tân (2007), "Những biện pháp bảo đảm ổn định xã hội trong
công tác giải phóng mặt bằng", Tạp chí Công an nhân dân, (9),
tr.93-96.
7. Phan Tân (2007), "Mất ổn định an ninh, trật tự tại các khu công nghiệp
ở Việt Nam đa đến hậu quả gì? Những biện pháp nào có tính khả thi để
giải quyết xung đột trong tình hình hiện nay và giải pháp phòng ngừa thời
gian tới?
Về mặt lý luận, đối với xung đột xã hội cần vận dụng phơng pháp
luận nào, lý thuyết nào để nghiên cứu, giải quyết xung đột? Trong thời kỳ
đổi mới ở nớc ta, những mâu thuẫn, xung đột cần giải quyết bằng bạo lực
hay đối thoại hoà bình?
Đây là những câu hỏi mà đề tài của Luận án sẽ góp phần giải đáp.
-2-
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu xung đột x hội về đất đai trên thế giới
Vấn đề đất đai và xung đột xã hội về đất đai đợc các nhà khoa học
chú trọng nghiên cứu từ rất sớm, nhất là hớng đến giá trị của đất đai trong
việc quyết định đến mỗi chính thể xã hội, nh các nghiên cứu của
Montesquieu (1689-1755), Karx Marx (1818-1883), Friedrich Engels
(1820-1895). Sau này là nghiên cứu của Robert L.Sansom (1968), Anita
R.Desai (1937 ), Thomas L.Friedman (2005).v.v về vai trò của đất đai ở
nông thôn trong xã hội truyền thống và hiện đại
Các nhà khoa học cố gắng tiếp cận từ quan hệ lợi ích, cách phân phối
các tài nguyên không công bằng, đã nhìn nhận xung đột xã hội về đất đai có
một vị trí hết sức quan trọng cho sự tồn tại, phát triển hay kìm hãm xã hội.
2.2. Tình hình nghiên cứu xung đột x hội ở Việt Nam
Trớc thời kỳ đổi mới, khái niệm mâu thuẫn đợc đề cập nhiều hơn là
khái niệm xung đột. Trong bớc chuyển đổi sang kinh tế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa, nhiều mâu thuẫn xã hội đơn lẻ tích tụ cả quá trình
dài bùng phát tạo nên những điểm nóng, mất ổn định an ninh, trật tự khiến
các nhà chính trị, nhà quản lý, nhà khoa học thấy cần thiết phải nghiên cứu
vấn đề xung đột xã hội theo đúng nh bản thân sự tồn tại của nó.
Vấn đề sở hữu và sử dụng đất đai, các quan hệ xung quanh sở hữu, sử
xã mà còn xảy ra trên phạm vi liên xã và liên huyện, với tính chất nghiêm
trọng và mức độ gay gắt, phức tạp.
- Sự không đồng bộ, không theo kịp tiến trình đổi mới của hệ thống
chính sách, luật pháp về đất đai; sự phân chia bất hợp lý lợi ích, giá trị liên
quan đến đất đai đã góp phần dẫn đến xung đột xã hội ở nông thôn.
- Nhận thức, thái độ, hành vi cha phù hợp của cán bộ quản lý cấp
cơ sở trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai có ảnh hởng
tiêu cực đến việc giải quyết xung đột về đất đai và có thể làm tăng thêm
mức độ gay gắt của các cuộc xung đột đó.
- Trong các đối tợng ngời dân tham gia xung đột về đất đai, những
ngời cao tuổi, phụ nữ, ngời có trình độ học vấn thấp thờng là những ngời
bị lợi dụng kích động tham gia đã đẩy xung đột có lúc lên đến cực điểm.
-4-
- Trong thời gian tới, xung đột về đất đai chủ yếu diễn ra giữa một bộ
phận nhân dân với các doanh nghiệp và giữa nhân dân với chính quyền địa
phơng trong thực hiện quản lý, giải quyết quan hệ đất đai.
4.2. Khung phân tích
Để đạt đợc mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, trên cơ sở giả thuyết
nêu ra, khung phân tích của đề tài đợc xây dựng nh sau:
Đặc điểm nhóm xã hội
- Cán bộ chính quyền quản
lý, giải quyết đất đai
- Cộng đồng thôn, xóm
- Hộ gia đình
Đặc điểm cá nhân
(giới tính, độ tuổi, trình độ
học vấn, nghề nghiệp, việc
làm, dân tộc, tôn giáo, vị trí
trong xung đột)
Thực trạng
và xu hớng
biến đổi
xung đột xã
hội về đất đai
-Loại hình XĐ
-Quy mô XĐ
-Tính chất XĐ
-Mức độ, tần
suất XĐ
-Mục đích,
động cơ XĐ
Chính sách, luật pháp về đất đai
- Phơng thức thực hiện
- Thực tiễn xử lý
Chính
sách
đổi
mới
- Phơng pháp nghiên cứu Định lợng đợc sử dụng là phơng pháp
phỏng vấn Bảng hỏi cấu trúc, với 308 mẫu phỏng vấn các cá nhân tham gia
xung đột.
- Phơng pháp nghiên cứu Định tính đợc tiến hành chủ yếu từ
phơng pháp phỏng vấn sâu cá nhân với 66 mẫu, gồm nhóm cán bộ cấp
tỉnh, huyện, xã tham gia giải quyết xung đột đất đai và ngời dân tham gia
xung đột trên địa bàn 7 xã nghiên cứu.
- Thời điểm khảo sát thực địa đợc thực hiện từ tháng 10/2005 -
5/2006.
-6-
8. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Xung đột xã hội về đất đai ở Việt Nam đợc áp dụng các lý thuyết
xã hội học về xung đột, đặc biệt là lý thuyết Xung đột và phơng pháp điều
tra Xã hội học để nghiên cứu một cách hệ thống.
- Ngoài khía cạnh tiêu cực của xung đột xã hội, luận án đi tìm những
khía cạnh tích cực của nó, xem xung đột là hiện tợng xã hội tất yếu khách
quan trong xã hội đang phát triển.
9. ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
- Hiện tợng xung đột xã hội về đất đai ở Việt Nam đợc áp dụng lý
thuyết xung đột xã hội, phơng pháp điều tra Xã hội học nghiên cứu nhằm
xây dựng những căn cứ khoa học từ thực tiễn, giúp cho việc kiểm soát
những xung đột về đất đai vốn đang là vấn đề nóng hiện nay ở nông thôn.
- Hy vọng luận án sẽ là tài liệu bổ ích cho những ngời quan tâm đến
những bất ổn định xã hội ở Việt Nam trong thời gian gần đây, có cái nhìn
khách quan về xung đột xã hội nh là một hiện tợng xã hội cần đợc công
khai nghiên cứu một cách khoa học.
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp cho nhà quản lý nhìn
nhận vấn đề xung đột là một hiện tợng "bình thờng", tất yếu trong mỗi
xã hội, từ đó có căn cứ khoa học để đa ra các quyết sách giải quyết xung
- Xung đột xã hội là một trong những động lực cơ bản của sự biến đổi
xã hội.
- Xung đột là tình trạng mâu thuẫn đối kháng.
- Xung đột lợi ích và xung đột giá trị là hai hình thức cơ bản của xung
đột xã hội.
- Bên cạnh tính tự giác của chủ thể xung đột, các xung đột vô thức
cũng xảy ra khi mâu thuẫn bị đẩy lên cao do không khí đám đông, các
hành vi đã vợt quá mong muốn và tầm kiểm soát.
-8-
1.2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của xung đột x hội
- Xung đột bắt nguồn từ mâu thuẫn lợi ích, bất bình đẳng trong việc
chia sẽ các nguồn lực giữa các cá nhân, nhóm, cộng đồng với nhau.
- Xung đột bắt nguồn từ sự phân hoá, sự bất đồng về lối sống, hệ giá
trị, niềm tin.
- Xung đột là quá trình tập trung hoá quyền lực trong mỗi nhóm.
- Sự đoàn kết, phản kháng trong xung đột hớng đến chia một xã hội
thành hai phái, hoặc hai hệ quả có thể xảy ra: sự thống trị từ một phía đánh
bại bên kia, hoặc một sự cân bằng mới về lực lợng đợc thiết lập.
Xã hội Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, điều kiện
kinh tế - xã hội đang có những chuyển đổi cơ chế cha thống nhất thì xung
đột xã hội xảy ra là không tránh khỏi.
1.2.2. Các loại hình xung đột xã hội
1.2.2.1. Loại hình theo cấp độ chủ thể xung đột
Trên cơ sở hình thức biểu hiện, quy mô số lợng ngời tham gia có
xung đột đối ứng ngang cấp cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội; có xung đột
xảy ra đan xen liên cấp.
Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay, vấn đề mâu thuẫn, xung
đột giữa các cá nhân, các nhóm nhỏ trong xã hội hoặc nhóm nhỏ với ngời
đại diện tổ chức nhất định là phổ biến hơn cả.
chính sách xã hội thay đổi kịp thời hợp lý hơn, nó có thể tạo ra những biến
đổi riêng lẽ hoặc bộ phận trong chế độ xã hội hiện tại.
Tóm lại, bất kỳ một cuộc xung đột nào cũng chứa đựng cả hai khía
cạnh tích cực và tiêu cực.
1.2.3.3. Xuất hiện thủ lĩnh và những ngời đại diện
Nhóm này xuất hiện để dẫn dắt, chỉ huy ngời khác trong nhóm cùng
thống nhất, tập hợp sức mạnh của nhóm theo một định hớng nhất định để
đạt mục đích, mục tiêu.
1.2.4. Phơng pháp giải quyết xung đột
Qua nghiên cứu, tổng kết lý luận, luận án rút ra một số phơng pháp
cụ thể giải quyết xung đột xã hội nh: phơng pháp trấn áp; phơng pháp
-10-
điều hoà; phơng pháp ngời trung gian; phơng pháp cách ly; phơng
pháp đàm phán - thơng lợng; phơng pháp thông tin làm dịu xung đột.
Các phơng pháp, biện pháp giải quyết xung đột xã hội cần đợc vận
dụng một cách khôn khéo, cơng quyết nhng mềm dẻo, linh hoạt tuỳ vào
tình huống xã hội cụ thể để đảm bảo an ninh, ổn định và trật tự xã hội.
1.3. Tiếp cận xã hội học nông thôn nghiên cứu về đất đai, con ngời ở
nông thôn Việt Nam
1.3.1. Vấn đề đất đai và con ngời nông thôn trong quan hệ với
xung đột
Nông thôn, đất đai là đối tợng sản xuất chủ yếu, là yếu tố sống còn
của ngời nông dân. Những nhóm xã hội nông thôn khác nhau chủ yếu
xuất phát từ vấn đề sở hữu đất đai.
1.3.2. Sơ lợc lịch sử xung đột về đất đai ở Việt Nam trớc thời kỳ
đổi mới
Cả thời kỳ dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, mọi chính sách về đất đai
của các triều đại đều đã đụng đến tầng bản chất nhất cuộc sống của ngời
nông dân. Các phong trào nông dân nổi lên đều đánh dấu bởi những thay
Vấn đề phân bố diện tích đất cho các khu, cụm, điểm công nghiệp, khu
đô thị, làng nghề phát triển trở thành đòi hỏi gay gắt và bức xúc, tạo nên một
sức ép lớn về đất đai đối với toàn tỉnh cũng nh mỗi địa bàn cơ sở.
2.2.2. Tình hình xung đột xã hội về đất đai
Từ năm 1995 - 2005, toàn tỉnh Hà Tây có 190 vụ xung đột, tranh chấp
ảnh hởng đến tình hình an ninh, trật tự mà cơ quan công an phải tham gia
giải quyết.
Tuy nhiên, do số vụ có thời gian kéo dài nhiều năm nên có những năm
trên địa bàn Hà Tây tồn tại và diễn ra đến 130 vụ (năm 1999). Trong tổng
số các vụ xung đột về đất đai chiếm đến 59,2%, còn lại là các xung đột
khác nh: xung đột do vi phạm chính sách, tham nhũng, xung đột sắc tộc,
tôn giáo Trên thực tế, một số vụ xung đột về việc vi phạm chính sách,
-12-
tham nhũng, quan hệ tôn giáo phần nhiều đều có liên quan đến đất đai,
nhng do mang nặng mục đích, nội dung khác nên yếu tố đất đai không
đợc đề cập nhiều.
Số ngời tham gia xung đột từ một vài ngời đến vài chục ngời thậm
chí hàng trăm ngời đều đã xuất hiện ở Hà Tây. Qua phân tích Hồ sơ chỉ
có 0,5% vụ việc có quy mô giữa hai gia đình với nhau, còn lại có sự tham
gia từ 3 gia đình trở lên; 77,9% số vụ có dới 50 ngời tham gia, trên 50
ngời có 21,6%.
2.2.3. Các loại hình xung đột về đất đai ở Hà Tây
Từ cơ sở lý luận về loại hình xung đột, nghiên cứu thực tiễn xung đột
về đất đai ở Hà Tây, luận án cho thấy một số kết quả sau:
2.2.3.1. Phân loại theo chủ thể tham gia xung đột
Về các loại hình xung đột giữa các chủ thể với nhau (chủ thể chủ động
tạo ra xung đột và chủ thể bị động đối phó xung đột), chiếm tỷ lệ cao nhất
là xung đột giữa ngời dân với chính quyền địa phơng về việc quản lý,
giải quyết đất đai ở cơ sở; tiếp đến là xung đột giữa nhân dân với các cơ
-Giữa nhân dân địa phơng với chính quyền 80
54,8
130
42,2
-Giữa nhân dân với cơ quan, xí nghiệp 26
17,8
104
33,8
-Giữa nhân dân với một số đơn vị quân đội 12
8,2 Tổng 146
100,0
308
100,0
Qua phân tích Hồ sơ và phỏng vấn Bảng hỏi, các loại xung đột mà hai
bên chủ thể chủ động và bị động tham gia thể hiện ở 6 loại hình sau:
-13-
- Xung đột giữa các gia đình trong cộng đồng dân c về quyền sử
dụng đất.
- Xung đột đòi quyền sử dụng đất giữa các thôn, xóm với nhau.
- Xung đột giữa ngời dân với các tổ chức kinh tế - xã hội (các tổ
chức, các công ty, doanh nghiệp).
- Xung đột giữa ngời dân với chính quyền trong quản lý, giải quyết
quan hệ đất đai.
- Xung đột giữa ngời dân với một số đơn vị quân đội.
- Xung đột đất đai đợc chuyển hoá chủ thể từ xung đột trong nội bộ
Bảng 2.5: Các mức độ xung đột đã từng xảy ra
Mức độ
theo Hồ sơ
Mức độ theo
Phỏng vấn
Các mức độ xung đột
TS % TS %
Phân
nhóm
-Vụ việc có gửi đơn khiếu - tố 112
76,7
253
82,1
-Tán phát tài liệu kích động 30
20,5
77
25,0
-Cản trở sản xuất, xây dựng 62
42,5
238
77,3
-Mang biểu ngữ, khẩu hiệu phản đối 32
21,9
125
40,6
-Tụ tập đông ngời, ngồi lỳ 66
45,2
166
53,9
-Chặn xe lãnh đạo đa đơn 16
Về tiếp cận mức độ hành vi xung đột theo quan hệ cặp Bạo lực và Phi
bạo lực (trong các vụ xung đột có bạo lực có thể bao gồm cả các hành vi đã
trải qua ở xung đột Phi bạo lực). Có đến 43,2% từ phân tích Hồ sơ và 62,0%
qua phỏng vấn Bảng hỏi số trờng hợp tham gia xung đột có bạo lực.
Ngoài các loại hình xung đột đợc phân loại theo nhóm ở trên, xung
đột về đất đai ở Hà Tây còn biểu hiện nội dung tính phức tạp của xung
đột ở 2 khía cạnh:
- Xung đột về đất đai có ngời đứng đầu chỉ đạo, kích động, lôi kéo;
- Xung đột về đất đai liên quan đến tôn giáo, tín ngỡng.
2.2.4. Hệ quả của xung đột xã hội về đất đai
2.2.4.1. Hệ quả tiêu cực
Xung đột về đất đai đã gây ra nhiều hệ quả tiêu cực đến quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế - xã hội Xung đột không chỉ ảnh hởng trực
-15-
tiếp đến lợi ích của các bên tham gia mà còn ảnh hởng đến lợi ích Nhà
nớc. Mỗi xung đột đều mang trong nó quan điểm thắng - thua và cả 2 bên
đều cố gắng đạt đợc mục tiêu ta phải thắng nên đã không thể tránh khỏi
nhiều hậu quả đáng tiếc; cụ thể:
- Xã hội mất đoàn kết, lòng tin của dân đối với Đảng, chính quyền bị
xói mòn nghiêm trọng; an ninh nông thôn mất ổn định.
- Sản xuất bị đình trệ
2.2.4.2. Hệ quả tích cực
Các vụ xung đột thời gian qua xảy ra ở nông thôn đã đem lại bài học
đắt giá cho các cơ sở đảng, chính quyền từ Trung ơng đến địa phơng về
công tác lãnh đạo và quản lý xã hội. Xung đột đã thức tỉnh các tổ chức, cá
nhân những cán bộ, đảng viên có biểu hiện quan liêu, xa dân, thiếu trách
nhiệm trớc dân cần có sự sửa đổi, điều chỉnh trong việc thực thi chức
năng, nhiệm vụ của mình trớc nhân dân.
đích xung đột cụ thể, thực tế nh đòi tiền, đòi đất.
3.2.2. Nhận thức, thái độ, hành vi của cán bộ quản lý đất đai
Nhận thức, thái độ của một bộ phận cán bộ trong tham gia quản lý,
giải quyết quan hệ đất đai làm ảnh hởng tiêu cực đến xung đột đợc
nghiên cứu, phân tích dới ba khía cạnh:
- Tình trạng tiêu cực, tham nhũng của cán bộ liên quan đến đất đai
- Những sai phạm của cán bộ trong quản lý và giải quyết tranh chấp,
khiếu - tố đất đai
- Cán bộ tham gia hậu thuẫn tranh chấp, khiếu - tố đất đai
3.2.3. Nhóm "thủ lĩnh" trong các xung đột
"Thủ lĩnh" trong xung đột ở Hà Tây rất đa dạng, tuỳ theo từng loại nội
dung vấn đề mà thành phần của nhóm đứng đầu chỉ đạo mang tính đặc thù
riêng. Họ là những nhân vật nhạy cảm với thời cuộc, có hiểu biết pháp luật,
có kế hoạch, có mục đích rõ ràng, có tham mu chỉ đạo tuần tự từng bớc.
Đặc biệt, phức tạp gay gắt nhất là những vụ họ lợi dụng danh nghĩa tập thể
đòi quyền lợi cho tập thể, kích động ngời dân chống đối chính quyền.
-17-
3.2.4. Đất đai do các cơ sở tôn giáo sử dụng quản lý
Xung đột xã hội liên quan đến đất đai của tôn giáo thờng là phức tạp
vì có sự chỉ đạo nhất định của hệ thống thần quyền.
3.2.5. Đặc điểm hộ gia đình của cá nhân xung đột
Nghiên cứu cho thấy, yếu tố nghề nghiệp tác động không nhiều đến
các mục đích xung đột, nhng ảnh hởng tiêu cực của một số chính sách
trong đổi mới và kết quả của việc chính quyền giải quyết quan hệ đất đai
liên quan đến gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột.
3.3. Đặc điểm cá nhân
Phân tích đặc điểm của cá nhân tham gia xung đột nh: tuổi, giới tính,
học vấn, tôn giáo cũng nh qua thử nghiệm hệ số P.Chi-Square đều thể
hiện có mối liên hệ đáng kể đến mức độ, hành vi tham gia xung đột.
ngời nông dân.
4.1.2.2. Xu hớng các loại hình, quy mô, tính chất, mức độ của
xung đột x hội về đất đai
- Về quy mô, tính chất xung đột. Thời gian tới, xung đột về đất đai
trên quy mô lớn liên thôn, liên xã ít có khả năng xảy ra. Nhng các vụ việc
phức tạp cục bộ ở phạm vi cụm dân c vẫn tiếp diễn, đặc biệt là xung đột
liên quan đến địa bàn có đền bù, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ
tầng khu công nghiệp, hệ thống giao thông, công trình công cộng. Việc lợi
dụng quyền tự do, dân chủ để khiếu - tố vợt cấp và kéo đông ngời tụ tập
tại các cơ quan Trung ơng tiếp tục diễn biến phức tạp.
- Về mục đích xung đột. Trong xu thế đầu t phát triển dịch vụ, đa
ngành, nghề thì mục đích xung đột đòi đất là không nhiều mà nó ẩn dấu
đằng sau của xung đột này chính là đòi tiền đền bù cao hơn.
-19-
- Về chủ thể xung đột. Chủ thể xung đột chủ yếu là nhóm cộng đồng nhỏ
có lợi ích liên quan đến các khu vực đất có đền bù, giải toả. Đặc biệt là xung
đột giữa một bộ phận nhân dân với các doanh nghiệp. Đồng thời, cùng với loại
quan hệ xung đột trên là xung đột giữa nhân dân với chính quyền và cán bộ
thực hiện quản lý, giải quyết quan hệ đất đai. Một trong những loại hình xung
đột sẽ xuất hiện thời gian tới là xung đột giữa cơ quan quản lý nhà nớc với
doanh nghiệp t nhân thuê đất tại địa phơng về quyền "sở hữu" và "sử dụng"
đất đai, do giải quyết hậu quả của sự không minh bạch trong quan hệ đền bù,
thu hồi đất của ngời nông dân giữa chính quyền cơ sở và doanh nghiệp.
- Về mức độ, tần suất xung đột. Cấp độ các hành vi xung đột mang
tính bạo lực ít xảy ra. Các xung đột để lại hậu quả thiệt hại về ngời sẽ
giảm đi, nhng những thiệt hại về vật chất, môi trờng đầu t bị ảnh hởng
không ít do ngời nông dân cản trở sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó là các thiệt hại vô hình nh, niềm tin của ngời dân đối
với chính quyền, cán bộ cơ sở suy giảm; tâm lý quan hệ cộng đồng trong
cày có việc".
4.2.4. Nâng cao vai trò của các cấp chính quyền, đoàn thể quần chúng
NCS kiến nghị:
Các cơ quan quản lý Nhà nớc trong mọi trờng hợp không nên là một
chủ thể của xung đột mà phải thoát ra, đóng vai trò là trung gian hoà giải,
hoặc đứng trên để giải quyết xung đột.
Bên cạnh đó là phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
quần chúng, tổ hoà giải; nâng cao chất lợng công tác tiếp dân giải quyết
khiếu nại, tố cáo; công tác thanh tra, kiểm tra
4.2.5. Tăng cờng công tác tuyên truyền pháp luật cho quần
chúng nhân dân
Để khắc phục tình trạng ách tắc thông tin, dẫn đến dân thì hiểu sai,
cán bộ thì lợi dụng để làm sai lệch, chính quyền cần nghiên cứu các loại
hình tuyên truyền cho phù hợp với chức năng của mình và dễ đi vào lòng
ngời theo từng loại đối tợng, có định hớng.
4.2.6. Lực lợng công an trong ngăn ngừa và xử lý xung đột
Về mặt nghiệp vụ chuyên sâu, lực lợng công an đã có quy trình giải
quyết "điểm nóng" đợc xây dựng thành hệ thống từ cuối những năm 90
-21-
của Thế kỷ XX. Trong đề tài Luận án, chỉ nêu một số nhận thức xung
quanh những vấn đề xã hội, từ chính căn nguyên xung đột mà lực lợng
công an cần nắm bắt, vận dụng.
Trong phòng ngừa và xử lý tranh chấp, xung đột, cơ quan công an có
hai chức năng chính: chức năng tham mu và chức năng trực tiếp tham gia
ngăn ngừa và xử lý xung đột. Trong đó, phải đảm bảo hài hoà hai mục tiêu:
đảm bảo ổn định chính trị và đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đồng thời,
tổ chức phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ không để xung đột bùng
nổ, lây lan, hạn chế các hoạt động manh động, quá khích.
Từ nhận thức trên, NCS đề xuất một số nội dung giải quyết xung đột
sách công; từ đó hoạt động của cơ quan công quyền ngày càng đợc công
khai, minh bạch.
Nhóm giả thuyết các nguyên nhân của xung đột xã hội về đất đai,
đợc tìm hiểu cả về vấn đề lịch sử, vấn đề chính sách, đặc điểm nhóm xã hội
và con ngời xã hội. Đó là sự không nhất quán, không theo kịp tiến trình đổi
mới của chính sách, luật pháp về đất đai và giải quyết các mối quan hệ về đất
đai; là sự thực hiện không đồng bộ chiến lợc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông thôn; bên cạnh đó là các yếu tố mang tính truyền thống nh văn hóa
cộng đồng, quần c làng, xã, các yếu tố lịch sử dân tộc, tôn giáo Xung đột
xã hội về đất đai ở nông thôn trong thời kỳ đổi mới không nằm ngoài sự chi
phối chung của quan hệ lợi ích với những bớc chuyển đổi nhận thức và
quyết sách cha đợc thống nhất đồng bộ nh là một tất yếu (một hiện tợng
xã hội không tránh khỏi) gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa phát triển nóng ở nớc ta hiện nay. Bên cạnh đó, lợi ích của mỗi cá nhân
cán bộ, chính quyền cơ sở đều dẫn đến sự phân chia không hợp lý, không
công bằng. Chính quyền sơ sở và một số cán bộ ở Hà Tây, do cố ý hoặc do
trình độ yếu đã làm sai, gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của công dân,
vi phạm quyền dân chủ nghiêm trọng. Các chính sách của Đảng, Nhà nớc
đã bị chính đội ngũ cán bộ này lợi dụng, vi phạm để thu lợi cá nhân; trong
quá trình xử lý các bất bình của ngời dân cũng chậm trễ, thiếu khoa học,
thiếu công bằng; sai lầm lại phạm thêm sai lầm.
-23-
Các tác động của nhóm tuổi, giới tính, học vấn ngời tham gia xung
đột cha đợc khẳng định nhiều qua điều tra, phân tích. Vấn đề ở đây là
vai trò của nhóm cộng đồng thôn, xóm, nhóm thủ lĩnh, nhóm cán bộ cơ sở
qua xử lý mối quan hệ về đất đai có quyết định rất lớn đến xung đột bằng
nhận thức, thái độ, hành vi của nhóm. Xung quanh quan hệ và giá trị của
đất đai (nguồn lực của phát triển - TLSX tối quan trọng cho cả nông nghiệp
và công nghiệp) là một loạt các quan hệ phân phối lợi ích mà các cá nhân,
và hiện đại, của cả sự lạc hậu và tiên tiến từ tính cách của con ngời nông
thôn đến không gian lợi thế phát triển. Xung đột về đất đai ở Hà Tây, có
thể đợc xem là trờng hợp điển hình trong quá trình giao thoa của sự
chậm phát triển và phát triển.
Ngời nông dân đã có vai trò quan trọng trong lịch sử, có giá trị tâm
lý cộng đồng truyền thống tốt đẹp, nhng cũng dễ bị chi phối bởi lợi ích
cục bộ, cũng dễ bị cuốn vào vòng xoáy bạo lực. Khi nông dân nổi lên đòi
quyền lợi, đòi công bằng thì không còn là vấn đề của khu vực, vùng miền
mà là vấn đề của cả quốc gia phải xem xét giải quyết.
Tóm lại, trong xã hội đang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
đất đai là một nguồn lực phát triển, quyền sử dụng đất đai đang thuộc về cá
nhân, gia đình, tổ chức và đất đai đang đa lại nhiều nguồn lợi, giá trị lớn
thì xung đột xã hội về đất đai là cha thể triệt tiêu. Việc nghiên cứu, xung
đột xã hội cần đợc đẩy mạnh để làm rõ nguyên nhân và giải pháp khắc
phục toàn diện. Xung đột là vấn đề lớn, là một mặt của thống nhất và đấu
tranh, của mâu thuẫn và hòa hợp. Vì vậy mỗi xung đột cần đợc nghiên
cứu chuyên biệt và phải đợc giải quyết theo quan điểm chiến lợc phát
triển kinh tế - xã hội bền vững nhằm phát huy chức năng và hạn chế phản
chức năng. Từ nhiều quan điểm khác khau đánh giá về vai trò của xung đột
và đề xuất phơng án giải quyết xung đột, các nghiên cứu ở Việt Nam cần
phải tiếp thu các hạt nhân hợp lý của các lý thuyết Xã hội học về xung đột
xã hội, không khiên cỡng, hay cứng nhắc trong áp dụng./.