Nghiên cứu ảnh hưởng của bài tập quyền dưỡng sinh với sức khoẻ người cao tuổi nữ - Pdf 12




1. Trònh Hữu Lộc, Trònh Trung Hiếu (2002),“ Khái quát quá trình hình
thành và phát triển phong trào thể dục dưỡng sinh thành phố
Hồ Chí Minh ”, tạp chí Khoa học Thể thao, thường kỳ số 2,
tr. 33 – 34.
2. Trònh Hữu Lộc, Ngô Đức Nhuận (2004),“ Nghiên cứu chức năng tim
mạch, hô hấp trước và trong vận động ở người tập Thái cực
trường sinh ”, tạp chí Khoa học Thể thao, thường kỳ số 1,
tr. 22 – 26.
3. Trònh Hữu Lộc, Trònh Trung Hiếu (2006),“ Nghiên cứu ảnh hưởng
của bài tập Thái cực quyền đối với người cao tuổi ”, tạp chí
Khoa học Thể thao, thường kỳ số 1, tr. 22 - 25. Công trình được hoàn thành tại: Viện khoa học TDTT

dụng với: tần số tim giảm, huyết áp ổn đònh và có hiệu quả rõ hơn ở
các chỉ số: tần số thở, thể tích khí lưu thông, thông khí phút; tần số tim
hồi phục, chỉ số oxy mạch; thể tích oxy tiêu thụ tối đa và năng lượng
tiêu thụ tối đa trong 1 phút.
KIẾN NGHỊ:
1. Do tính phù hợp và hiệu quả của bài tập Thái cực quyền và
Thái cực trường sinh với sức khoẻ người cao tuổi nữ, ngành TDTT cần
kết hợp với Hội người cao tuổi phổ cập bài tập rộng rãi trên toàn quốc,
động viên người cao tuổi kiên trì tập luyện và kết hợp với ngành y tế
để tư vấn chế độ dinh dưỡng, chế độ tập luyện phù hợp với thể tạng và
sức khỏe của người cao tuổi nữ.
2. Phổ cập phương pháp tập luyện cải tiến cho người cao tuổi nữ
tập Thái cực quyền và Thái cực trường sinh để người tập kết hợp luyện
động tác với luyện thở khi thực hiện bài tập.
3. Ngành TDTT cần mở rộng các vấn đề nghiên cứu phạm vi
rộng với nhiều nhóm tuổi trung niên, người già, người cao tuổi nam và
tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chương trình, kế hoạch, nội dung,
phương pháp tập luyện cải tiến bài Thái cực quyền và Thái cực trường
sinh.

PHẦN MỞ ĐẦU
Chăm sóc cho người cao tuổi (NCT) là trách nhiệm của toàn
Đảng, toàn dân và của toàn xã hội, là sự thể hiện đạo lý của người Việt
Nam “kính già, yêu trẻ”. Tuy nhiên dưới góc độ TDTT quan tâm đến

nghiên cứu (36 trang), Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
(12 trang), Chương 3: Kết quả nghiên cứu (62 trang), Chương 4: Bàn
luận kết quả nghiên cứu (23 trang); Phần kết luận và kiến nghò (2
trang). Trong đó luận án có 65 bảng và 17 biểu đồ. Ngoài ra, luận án đã
sử dụng 102 tài liệu tham khảo trong đó có 96 tài liệu viết bằng tiếng
Việt, 6 tài liệu tiếng Trung và Phần phụ lục.
Chương 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Phần tổng quan nghiên cứu đã tiếp cận một số vấn đề sau:
- Số lượng người cao tuổi ngày càng tăng, tuổi thọ ngày càng cao.
Hoạt động chăm lo tuổi già, sống trường thọ, sống hữu ích là trách
nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xã hội, là sự thể hiện đạo lý
của người Việt Nam “ kính lão, đắc thọ”.
- Đặc tính chung của sự hóa già là tính không đồng thời và không
đồng tốc, có
người già sớm, có người già muộn, có người già về trí lực,
có người già về thể lực. Tình trạng thiếu oxy là một đặc điểm quan
trọng của tuổi già. Ngoài những biến đổi do sự hoá già, người cao tuổi
nữ còn có những biến đổi tâm sinh lý nặng nề hơn do tác động của hiện
tượng mãn kinh. Để làm chậm quá trình lão hoá có nhiều phương pháp,
nhiều cách; trong đó tập luyện dưỡng sinh là hoạt động tích cực để duy
trì sức khoẻ làm cho cuộc sống vui tươi hạnh phúc. Ở người cao tuổi cần
có sự kiên trì, vận động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ
và đảm bảo các nguyên tắc TDTT là quyết đònh cho sự kéo dài tuổi thọ,
phòng chống bệnh tật.
- Qua nghiên cứu lý luận phương pháp dưỡng sinh cổ xưa và hiện
đại, có rất nhiều phương tiện tập luyện, nhưng được ưa thích và có hiệu
quả thực tiễn trong dân gian là các bài tập có tính chất nhu quyền như
bài TCQ, TCTS vì bài tập có những đặc điểm mang triết lý Phương
Về năng lượng tiêu thụ: Kết quả cho thấy giá trò trung bình
(EEmmax) cũng tăng theo thời gian tập luyện và khả năng phối hợp thở

- Vớùi chức năng tim mạch.
Kết quả phân tích bằng phương pháp toán thống kê cho thấy chỉ
số VO
2
/HR tăng theo thời gian tập luyện và phương pháp tập luyện. Ví
dụ: trong nhóm 2K, sau môt năm tập luyện bài TCQ tăng 0,35 ml/nh,
nhòp tăng trưởng 5,40%; ở nhóm 2H cũng sau một năm tập luyện tăng
1,27 ml/nh, nhòp tăng trưởng 16,84%. Điều này chứng tỏ dưới tác động
của tập luyện TCQ và TCTS chức năng vận chuyển oxy của hệ tim
mạch được tăng cường. Nếu biết phối hợp hít thở đúng với nhòp động tác
giúp cho khả năng trao đổi oxy ở phổi tăng, dẫn tới lượng oxy từ môi
trường qua phế nang tăng, oxy theo tónh mạch phổi về tim và được tim
bơm vào động mạch chủ đi nuôi cơ thể. Như vậy, chức năng vận chuyển
máu cung cấp oxy cho tế bào của hệ tim mạch tốt hơn.
- Với chức năng chuyển hóa năng lượng:
Về thể tích oxy tiêu thụ: thể tích oxy tiêu thụ phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác nhau, trong đó chủ yếu phụ thuộc vào chức năng của hệ hô
hấp, tim mạch, máu tham gia vận chuyển oxy từ môi trường bên ngoài
tới tế bào và khả năng hấp thụ oxy của tế bào.
Khả năng hấp thụ oxy của tế bào chủ yếu dựa vào thời gian tập
luyện và khả năng phối hợp thở đúng khi thực hiện bài tập. Điều này thể
hiện thông qua chỉ số (VO
2
max). Ví dụ: giá trò VO
2
max ở nhóm 1 tập
TCQ là 727,41 ± 61,04 ml/ph; nhóm 2K (VO
2
max) là 788,52 ± 39,41
ml/ph, sau một năm tập luyện tăng 33,05ml/ph; nhóm 2H biết phối hợp

- Các nhóm đối tượng nghiên cứu tập TCQ: nhóm 1 (nhóm tập từ
1 – 3 năm) với số lượng 39 người; nhóm 2 (nhóm tập từ 3 năm trở lên)
gồm: nhóm đối chứng (2K), luyện tập thở tự nhiên tuỳ theo khả năng,
với số lượng 21 người và nhóm thực nghiệm (2H), luyện động tác kết
hợp với thở, với số lượng 15 người.
- Các nhóm đối tượng nghiên cứu tập TCTS: nhóm 1 (nhóm tập
từ 1 – 3 năm) số lượng 37 người; nhóm 2 (nhóm tập từ 3 năm trở lên)
gồm: nhóm đối chứng (2Đ), luyện tập thở tự nhiên tuỳ theo khả năng,
với số lượng 20 người và nhóm thực nghiệm (2T), luyện động tác kết
hợp với thở, số lượng 17 người.
2.2.2 Đòa bàn nghiên cứu: Các Câu lạc bộ sức khoẻ người cao tuổi
ở thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ 26/12/2002 – 26/12/2005.
4 21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá thực trạng tập luyện thể dục dưỡng sinh , tính chất và
thời gian tập luyện Thái cực quyền, Thái cực trường sinh:
3.1.1 Thực trạng phong trào tập luyện thể dục dưỡng sinh:
- Số lượng người tham gia tập luyện TCQ và TCTS:
Người tập TCQ năm 2004 tăng 265 người so với năm 2003,
chiếm tỉ lệ 13,79%, người tập TCTS tăng 70 người, chiếm tỉ lệ 6,75%;
tập trung ở lứa tuổi 60 – 69; số lượng nữ tham gia nhiều hơn nam ở các
lứa tuổi và người cao tuổi đến tập luyện với 2 mục đích vừa nâng cao
sức khoẻ vừa chữa bệnh (TCQ là 57,33% và TCTS là 63,51%).
- Đánh giá khả năng tập luyện của đối tượng nghiên cứu:
Kết quả khảo sát cho thấy: trong số 75 người tập TCQ, có 42
người thực hiện động tác thuần thục chiếm tỉ lệ 56%, chưa thuần thục
chiếm tỉ lệ 44% và trong 74 người tập luyện TCTS, có 40 người thực
hiện động tác thuần thục chiếm tỉ lệ 54,05%, chưa thuần thục chiếm tỉ
lệ 45,95% và không có người nào chú ý phối hợp thở đúng với qui đònh

ngủ tốt hơn và bệnh tật thuyên giảm. Tuy nhiên hai phương pháp không
có sự khác biệt rõ rệt để tăng cường cải thiện sức khoẻ tâm lý. Có thể
do thời gian thực nghiệm chỉ tiến hành một năm nên sự tác động
phương pháp tập luyện đến sức khoẻ tâm lý chưa có sự khác biệt rõ rệt.
4.6 Tác động TCQ và TCTS với chức năng sinh lý của người cao
tuổi:
- Với chức năng hô hấp:
Về tần số thở, kết quả nghiên cứu cho thấy tần số thở của người
tập chậm dần theo thời gian tập luyện, thời gian tập luyện càng dài,
trình độ tập luyện càng cao thì nhòp thở càng chậm. Ví dụ: nhóm 1 tập
TCTS có tần số thở là 13,68 ± 1,96 nh/ph; nhóm 2Đ có nhòp thở trung
bình chậm hơn 9,75 ± 1,02nh/ph, nhóm có trình độ tập luyện cao hơn là
nhóm biết phối hợp thở đúng, phù hợp với động tác (nhóm 2T) có tần
số thở rất chậm 9,06 ± 0,83 nh/ph. Nhòp thở chậm thể hiện thì hít vào
và và thở ra kéo dài, hơi thở sâu hơn, nhòp thở chậm phù hợp với
phương pháp thở bằng cơ hoành trong tập luyện TCQ và TCTS. Như
vậy, có thể kết luận tập TCQ, TCTS cải thiện nhòp thở, góp phần duy
20 5
nguồn oxy hoá các chất hữu cơ như đường, mỡ. Thông thường những
bài tập nhẹ, chỉ cần sử dụng nguồn năng lượng chuyển hóa ưa khí là
đủ. Đối với những bài tập trung bình và nặng thì nhu cầu năng lượng
phải vừa nhanh vừa lớn, do đó cần phải sử dụng cả nguồn năng lượng
yếm khí và ưa khí. Qua kiểm tra trên 100 người cao tuổi nữ thực hiện
bài TCQ và TCTS chúng tôi không thấy trường hợp nào phải sử dụng
năng lượng từ 2 nguồn ưa khí và yếm khí (thương số hô hấp R < 1). Từ
kết quả nghiên cứu trên có thể đi đến kết luận bài TCQ và bài TCTS là
loại bài tập nhẹ, phù hợp với sức khoẻ người cao tuổi.
Về tình trạng huyết áp của các đối tượng nghiên cứu thì đa số có
chỉ số huyết áp cao giai đoạn 1, tuy nhiên nhóm đối tượng này vẫn duy
trì tập TCQ, TCTS thường xuyên và chưa có trường hợp nào bò tai biến

hấp (R) của nhóm 1 và nhóm 2 đều nhỏ hơn 1, có nghóa là thể tích tiêu
thụ oxy (VO
2
) lớn hơn thể tích cacbonic thở ra (VCO
2
), chứng tỏ bài tập
được thực hiện trong điều kiện chuyển hóa ưa khí.
3.1.4 Xác đònh sự ảnh hưởng của thời gian tập luyện Thái cực quyền
(TCQ) với sức khoẻ người cao tuổi nữ:
3.1.4.1 Ảnh hưởng của thời gian tập luyện TCQ với hình thái và năng
lực thể chất :
Kết quả nghiên cứu cho thấy: giá trò của test đứng cúi gập thân
về trước ở nhóm 2 lớn hơn nhóm 1 là 2,34cm (P < 0,05). Các chỉ số như
BMI và độ dãn lồng ngực của 2 nhóm nghiên cứu, sự khác biệt không
có ý nghóa thống kê (P > 0,05).
3.1.4.2 Ảnh hưởng của thời gian tập luyện TCQ với chức năng sinh lý:
- Với chức năng hô hấp:
Thông qua tác động của thời gian tập luyện, giá trò các chỉ số
đánh giá chức năng hô hấp ở 2 nhóm nghiên cứu có sự khác biệt tích
cực: tần số thở ở nhóm 2 chậm hơn nhóm 1 là 2,71 nh/ph; thể tích khí
lưu thông lớn hơn 0,22 lít; thông khí phút lớn hơn 2,12 l/ph (P < 0,05).
- Với chức năng tuần hoàn:
Giá trò các chỉ số đánh giá chức năng tuần hoàn của nhóm 1 và
nhóm 2 có sự khác biệt tích cực theo thời gian tập luyện: tần số tim hồi
phục ở nhóm 2 lớn hơn nhóm 1 là 1,53 lần/ph; thể tích oxy tiêu thụ/
mạch lớn hơn 0,62 ml/nh (P < 0,05). Các chỉ số khác như: tần số tim,
6 19
huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, tần số tim tối đa cũng có sự khác
biệt theo hướng tích cực, nhưng không có ý nghóa thống kê (P > 0,05).
- Với chức năng trao đổi chất:

được thở đúng với nhòp động tác của bài tập. Do đó cần xây dựng
phương pháp huấn luyện hợp lý dễ tiếp thu, có thể chỉ nên hướng dẫn
tập một phân đoạn hoặc nhiều phân đoạn của bài tập để giảm bớt thời
gian học động tác, chủ yếu tập trung vào hướng dẫn phối hợp thở đúng
theo nhòp động tác nhằm phát huy hiệu quả của bài tập.
4.2 Tác động của tập TCQ và TCTS với hình thái cơ thể người cao
tuổi nữ:
- Chỉ số BMI của đối tượng nghiên cứu tập TCQ ở nhóm 2H và
2K có giá trò 23,55-23,89kg/m
2
,
sau một năm tập luyện giảm còn 23,48
- 23,69 kg/m
2
. Nhóm 2T và 2Đ tập TCTS có giá trò 24,74 - 25,74
kg/m
2
, sau một năm tập luyện giảm còn 24,51 - 25,06 kg/m
2
. Ở giới
tính nữ nếu BMI>23,6 là thể tạng ở mức béo và tập luyện TCQ, TCTS
cũng không cải thiện được cân nặng. Với người cao tuổi sự tăng cân
không giúp ích gì cho sức khoẻ mà thêm gánh nặng. Béo bệu thường là
bạn đường của tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tiểu đường. Do vậy,
song song với việc tập luyện cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý nhằm
tăng cường sức khoẻ và phòng bệnh tật.
- Độ dãn lồng ngực của đối tượng nghiên cứu có giá trò trung bình
từ 1,70 – 1,88cm. Qua một năm tập luyện TCQ, TCTS độ dãn lồng
ngực có sự biến đổi tích cực nhưng với mức không cao chỉ tăng 0,43 –
1,18cm. Theo Phạm Đình Lựu (2004), nếu cơ hoành hạ xuống 1cm thì

Chí Minh:
Số lượng người tập TCQ và TCTS ngày càng tăng, trong đó số
Cụ bà tập nhiều hơn Cụ ông, đa số ở lứa tuổi 60 -65. Điều này chứng tỏ
tập luyện TCQ, TCTS có ảnh hưởng tốt cho sức khoẻ tinh thần, đem lại
cho người tập cảm giác vui vẻ và có ý nghóa trong cuộc sống nên nhiều
người rủ nhau cùng tham gia tập luyện. Còn lý do tại sao Cụ ông
không đến với thể dục dưỡng sinh, theo chúng tôi có thể ở lứa tuổi này
còn đủ sức để tập luyện các môn thể thao khác.
Qua kết quả điều tra, để thực hiện thuần thục bài tập TCQ,TCTS
nhóm 1 là 2,08 lần/ph; thể tích oxy tiêu thụ/ mạch(VO
2
/HR) lớn hơn
nhóm 1 là 1,04 ml/nh, có ý nghóa thống kê (P < 0,05). Các chỉ số khác
như: tần số tim (HR), huyết áp tối đa (HAmax), huyết áp tối thiểu
(HAmin), tần số tim tối đa (HRmax) không có sự khác biệt rõ rệt theo
thời gian tập luyện (P > 0,05).
- Với chức năng trao đổi chất:
Giá trò trung bình các chỉ số: thể tích tiêu thụ oxy tối đa (VO
2

max) nhóm 2 lớn hơn nhóm 1 là 124,11 ml/ph; năng lượng tiêu thụ tối
đa (EEmmax) nhóm 2 lớn hơn nhóm 1 là 0,82Kcal/ph, có ý nghóa thống
kê (P < 0,05). Như vậy, tập TCTS lâu năm hơn thì chức năng trao đổi
chất sẽ tốt hơn.
3.1.5.3 Ảnh hưởng của thời gian tập luyện TCTS với năng lực trí nhớ:
Giá trò năng lực trí nhớ ở nhóm tập luyện lâu năm lớn hơn 4,92%
so với nhóm mới tập, sự khác biệt không có ý nghóa thống kê (P>
0,05).
3.2 Xác đònh ảnh hưởng của tập luyện Thái cực quyền và phương
pháp tập luyện với sức khoẻ người cao tuổi nữ:

chỉ số đánh giá chức năng hô hấp của nhóm 2H có sự tăng trưởng rõ rệt
từ 17,68 - 22,36% (P < 0,05 ).
- Với chức năng hệ tuần hoàn: (bảng 3.26)
Bảng 3.26: So sánh sự biến đổi các chỉ số đánh giá chức năng tuần hoàn
của nhóm 2H sau một năm tập TCQ
Trước thực nghiệm
(n = 15)
Sau thực nghiệm
(n = 15)
CHỈ SỐ
X
σ ε
X
σ ε
d W% P
HR
(lần/ph)
80,80 7,87 0,05 78,27 6,98 0,05 -2,53 3,12 < 0,05
HAmax
(mmHg)
145,47 12,31 0,05 140,33 11,54 0,05 -5,13 3,57 < 0,05
HAmin
(mmHg)
83,00 7,05 0,05 79,47 6,09 0,04 -3,53 4,29 < 0,05
HRmax
(lần/ph)
119,40 11,39 0,05 122,47 12,15 0,05 3,07 2,49 > 0,05
HRrec
(lần/ph)
16,33 1,05 0,04 17,07 0,88 0,03 0,73 4,45 < 0,05

có ý nghóa thống kê (P < 0,05). Điều này cho thấy nếu biết phối hợp
thở đúng với động tác của bài tập sẽ giúp cho chức năng hô hấp được
tăng cường hơn.
- Với chức năng tuần hoàn:
Sau thời gian thực nghiệm một năm chỉ số tần số tim, huyết áp
tối đa, huyết áp tối thiểu, tần số tim hồi phục, thể tích oxy tiêu thụ/
mạch ở nhóm 2T có nhòp tăng trưởng cao hơn nhóm 2Đ và có ý nghóa
thống kê (P < 0,05). Riêng tần số tim tối đa sự khác biệt trong tăng
trưởng không có ý nghóa thống kê (P > 0,05). 16 9
chỉ số BMI, vòng ngực thở ra có dấu hiệu giảm nhưng không có ý nghóa
thống kê (P > 0,05).
3.3.3.2 Với chức năng sinh lý:
- Với chức năng hệ hô hấp:
Các chỉ số đánh giá chức năng hô hấp của nhóm 2Đ sau một năm
tập TCTS có sự biến đổi tích cực: (Rf) giảm 1,30 nh/ph, nhòp tăng
trưởng 12,54%; (VT) tăng 0,15 lít, nhòp tăng trưởng 8,77%; (VE) tăng
1,60 lít/ph, nhòp tăng trưởng 5,59% (P < 0,05).
- Với chức năng hệ tuần hoàn:
Các chỉ số đánh giá chức năng tuần hoàn của nhóm 2Đ sau một
năm tập luyện có sự biến đổi tích cực: nhòp tăng trưởng của (HRrec) là
2,48%; (VO
2
/HR) tăng trưởng 3,16% (P < 0,05). Các chỉ số khác như:
(HR), (HAmax), (HAmin), (HRmax) sự khác biệt trong tăng tiến không
có ý nghóa thống kê (P > 0,05).
- Với chức năng trao đổi chất:
Sau một năm tập luyện bài TCTS theo phương pháp phổ cập,

2
max

(

ml/ph)
825,67 53,45 0,04 941,27 69,07 0,04 115,6 13,02 < 0,05
EEmmax
(Kcal/ph)
4,74 0,36 0,04 6,42 0,25 0,02 1,69 30,41 < 0,05
Các chỉ số đánh giá chức năng trao đổi chất của nhóm 2H sau
một năm tập luyện bài TCQ có sự biến đổi tích cực: Chỉ số (VO
2
max)
tăng trưởng 13,02%; chỉ số (EEmmax) tăng trưởng 30,41% (P < 0,05).
3.2.1.3 Ảnh hưởng của tập luyện TCQ theo phương pháp cải tiến với
sức khoẻ tâm lý:
- Với năng lực trí nhớ
: Sau một năm tập luyện với phương pháp
cải tiến, năng lực trí nhớ của nhóm 2H có dấu hiệu tăng lên, mức độ
tăng không lớn (tăng 4,25%) nhòp tăng trưởng 14,42% nhưng sự khác
biệt không có ý nghóa thống kê (P > 0,05).
- Với sự thay đổi một số dấu hiệu chủ quan về ăn uống, tinh thần,
giấc ngủ:
Kết quả khảo sát ở 15 người thuộc nhóm 2H, sau một năm tập
luyện TCQ theo phương pháp cải tiến thì có 13 người cảm thấy ăn ngon
miệng hơn chiếm tỉ lệ 86,66%, 13 người cảm thấy tinh thần sảng khoái
hơn chiếm tỉ lệ 86,66% và 12 người cảm thấy giấc ngủ tốt hơn chiếm tỉ
lệ 80,00%.
- Với sự tiến triển các nhóm bệnh:

chỉ số đánh giá chức năng trao đổi chất của nhóm 2K có sự biến đổi
theo hướng tích cực và có ý nghóa thống kê (P < 0,05): chỉ số (VO
2
max)
tăng 33,05ml/ph, nhòp tăng trưởng 3,91%; chỉ số (EEmmax) tăng 0,20
Kcal/ph, nhòp tăng trưởng 4,72%.
3.2.3.3 Ảnh hưởng của tập luyện TCQ theo phương pháp phổ cập với
sức khoẻ tâm lý:
- Với năng lực trí nhớ:
kê (P > 0,05).
- Với chức năng trao đổi chất:
Các chỉ số đánh giá chức năng trao đổi chất của nhóm 2T sau
một năm tập luyện có sự biến đổi tích cực: nhòp tăng trưởng của chỉ số
(VO
2
max) là 7,57%; chỉ số (EEmmax) tăng trưởng 4,25% và sự khác
biệt có ý nghóa thống kê (P < 0,05).
3.3.2.3 Với sức khoẻ tâm lý:
- Với năng lực trí nhớ:
Sau một năm tập luyện TCTS theo phương pháp cải tiến, năng
lực trí nhớ của nhóm 2T có xu hướng tăng 3,36%, nhòp tăng trưởng
13,44% nhưng không có ý nghóa thống kê (P > 0,05).
- Với sự thay đổi một số dấu hiệu chủ quan về ăn uống, tinh thần,
giấc ngủ:
Trong số 17 người được khảo sát, có 13/17 người trả lời: sau một
năm tập TCTS theo phương pháp cải tiến cảm thấy ăn ngon miệng hơn
chiếm tỉ lệ 76,47%, 15/17 người cảm thấy tinh thần sảng khoái hơn
chiếm tỉ lệ 88,23% và 12/17 người cảm thấy giấc ngủ tốt hơn chiếm tỉ
lệ 70,58%.
- Với sự tiến triển các nhóm bệnh:

3.3.1.2 Với chức năng sinh lý:
- Với chức năng hệ hô hấp:
Sau một năm tập luyện bài TCTS theo phương pháp cải tiến,
các chỉ số đánh giá chức năng hô hấp của nhóm 2T có sự tăng trưởng rõ
rệt: tần số thở tăng trưởng 19,79%; thể tích khí lưu thông tăng trưởng
13,84%; thông khí phút tăng trưởng 6,97% (P < 0,05).
- Với chức năng hệ tuần hoàn:
Các chỉ số đánh giá chức năng tuần hoàn của nhóm 2T sau một
năm tập luyện có sự biến đổi tích cực: nhòp tăng trưởng của (HR) là
4,48%; (HAmax) tăng trưởng 2,81%; (HAmin) tăng trưởng 4,64%;
(HRrec) tăng trưởng 4,66%; (VO
2
/HR) tăng trưởng 16,28% (P < 0,05).
Riêng chỉ số (HRmax) sự khác biệt trong tăng tiến không ý nghóa thống
Năng lực trí nhớ của nhóm 2K sau một năm tập luyện TCQ có
dấu hiệu tăng lên, mức độ tăng không lớn (tăng 1,03%), nhòp tăng
trưởng 1,71%. Sự khác biệt trong tăng tiến không có ý nghóa thống kê
(P > 0,05).
- Với sự thay đổi các dấu hiệu chủ quan về ăn uống, tinh thần, giấc
ngủ:
Trong số 21 người thuộc nhóm nghiên cứu 2K, sau một năm tập
luyện TCQ có 17/21 người cảm thấy ăn ngon miệng hơn chiếm tỉ lệ
80,95%, 18/21 người cảm thấy tinh thần sảng khoái hơn chiếm tỉ lệ
85,71% và 16/21 người cảm thấy giấc ngủ tốt hơn chiếm tỉ lệ 76,19%.
- Với sự tiến triển các nhóm bệnh:
Sau một năm tập TCQ với phương pháp phổ cập, tiến triển các
nhóm bệnh của nhóm 2K: nhóm bệnh thần kinh giảm 68,75%; nhóm
bệnh tim mạch giảm 50%; nhóm bệnh hô hấp giảm 52,94%; nhóm
bệnh khớp giảm 53,33%; nhóm bệnh tiêu hóa giảm 55,55%.
3.2.4 So sánh sự khác biệt giữa hai phương pháp tập luyện TCQ với

3.2.4.2 Với chức năng sinh lý:
- Với chức năng hô hấp: (bảng 3.39)
Bảng 3.39: So sánh nhòp tăng trưởng các chỉ số đánh giá chức năng hô
hấp của nhóm 2H và 2K sau một năm tập TCQ
Nhóm 2 H
( n = 15 )
Nhóm 2 K
( n = 21 )
CHỈ SỐ
W
2H
σ W
2K
σ

t

P
Rf ( nh/ph ) 22,36 8,64 2,94 6,40 7,76 < 0,05
VT ( l ) 20,34 8,27 4,72 7,53 5,89 < 0,05
VE ( l/ph ) 17,68 5,26 6,18 8,91 4,46 < 0,05
Các chỉ số của hệ hô hấp ở nhóm 2H có nhòp tăng trưởng cao hơn
nhiều so với nhóm 2K (P < 0,05). Điều này cho thấy nếu biết phối hợp
thở đúng với động tác của bài tập sẽ giúp cho chức năng hô hấp được
tăng cường hơn.
- Với chức năng tuần hoàn: (bảng 3.40)
Bảng 3.40: So sánh nhòp tăng trưởng các chỉ số đánh giá chức năng tuần
hoàn của nhóm 2H và 2K sau một năm tập TCQ
Nhóm 2 H
( n = 15 )

Nhóm 2 K
( n = 21 )
CHỈ SỐ
W
2H
σ W
2K
σ

t

P
VO
2
max

(ml/ph)

13,02 5,11 3,91 8,44 3,71 < 0,05
EEmmax (Kcalo/ph) 30,41 5,48 4,27 9,34 9,52 < 0,05
Chỉ số (VO
2
max)

và (EEmmax) ở nhóm 2H có nhòp tăng trưởng
cao hơn nhóm 2K. Sự khác biệt có ý nghóa thống kê (P < 0,05).
3.2.4.3 Với sức khoẻ tâm lý:
-Với năng lực trí nhớ:
Sau thời gian thực nghiệm một năm, giá trò nhòp tăng trưởng
của test đánh giá năng lực trí nhớ ở nhóm 2H cao hơn nhóm 2K. Sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status