CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU ẢNH
HƯỞNG CỦA GIÁO DỤC ĐẾN MỨC SINH
I/ CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Giáo dục, trình độ học vấn
Con người trong lịch sử phát triển của mình là cả một quá trình từng
bước, liên tục truyền đạt những kinh nghiệm sống (Tri thức, kỹ năng lao động,
thái độ ứng xử với con người, với thiên nhiên). Lênin coi giáo dục là một phạm
trù vĩnh cửu “Giáo dục sinh ra cùng loài người và tồn tại phát triển cùng loài
người”. Nó cũng chính là đặc trưng cơ bản để loài người tồn tại và phát triển.
Với cách nhìn ngày nay, giáo dục được coi là cực kỳ quan trọng đặc biệt
trong điều kiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của nước ta hiện nay. Có nhiều
quan niệm về giáo dục, song một quan niệm chung nhất: Giáo dục là tất cả các
dạng học tập của con người, ở đâu có sự hoạt động và giao lưu nhằm truyền
đạt lại và lĩnh hội những giá trị và kinh nghiệm xã hội thì ở đó có giáo dục
(Giáo trình tâm lý xã hội học)
Theo một định nghĩa hẹp hơn thì giáo dục là hoạt động nhằm tác động
một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng nào
đó, làm cho đối tượng ấy dần có được những phẩm chất và năng lực do yêu
cầu đề ra. Điểm nổi bật quan trọng nhất đối với giáo dục là sự tác động của xã
hội vào từng đối tượng một cách có mục đích, có kế hoạch giúp cho mỗi thành
viên nắm được những tri thức, kỹ năng và phương pháp để phát triển nhân
cách của mình, có khả năng hội nhập và tham gia vào các hoạt động kinh tế xã
hội, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Giáo dục được biểu hiện qua trình độ học vấn, trình độ dân trí. Nhằm
phản ánh các cấp độ hiểu biết, các kỹ năng đạt được của con người sau một
quá trình tiếp nhận các luồng thông tin khác nhau và từ đó tạo ra khả năng
nhận thức tác động đến hành vi của họ. Vì vậy trong quá trình phân tích đánh
giá ở của bài viết này ta sử dụng khái niệm trình độ học vấn.
Giáo dục là một trong những lĩnh vực hoạt động xã hội nhằm kế thừa,
duy trì và phát triển văn hoá xã hội một cách liên tục. Đảng và nhà nước ta
quan niệm rằng: Giáo dục nhằm “Nâng cao dân trí, tạo nguồn lực, bồi dưỡng
chỉ tiêu sau:
Về số lượng:
Tỷ lệ học sinh đến trường: Bao gồm cả học sinh phổ thông, học nghề,
sinh viên. Các chỉ tiêu này có thể dùng ở dạng tuyệt đối.
Tỷ lệ người lớn thất học (mù chữ), tỷ lệ người có học.
Số học sinh, sinh viên trên 1000 dân.
Số năm đi học trung bình.
Về những điều kiện đảm bảo chất lượng:
Số lượng học sinh, sinh viên trên một giáo viên.
Trình độ giáo viên.
Tình hình trang thiết bị dạy học và phương tiện dạy học.
Chi phí bình quân cho một học sinh, sinh viên.
Hai chỉ tiêu, tỷ lệ học sinh đến trường (đặc biệt là học sinh phổ thông)
và tỷ lệ người lớn thất học (mù chữ) là những chỉ tiêu mà nước ta đang rất
quan tâm. Chỉ tiêu người lớn thất học ta thay bằng tỷ lệ người biết chữ.
2. Vai trò của trình độ học vấn
Giáo dục là một ngành kinh tế xã hội quan trọng của đất nước. Nó
quyết định tương lai cuả một đất nước phồn vinh hay trì trệ. Ngành giáo dục
yêu cầu tái sản xuất không ngừng sức lao động - Lao động giản đơn thành lao
động phức tạp (lao động có kỷ luật), cũng như yêu cầu phát triển của xã hội,
chấn hưng văn hoá, điều đó khiến cho giáo dục luôn luôn có quy mô đồ sộ, lớn
lao nhất cũng như cần thiết nhất cho mọi cá nhân, mọi gia đình, mọi cộng
đồng.
Giáo dục hay nói cách khác là trình độ học vấn giúp cho mỗi cá nhân
thực hiện và áp dụng các năng lực, tài năng của mình, giúp cho mỗi người
nâng cao địa vị xã hội của mình. Trong xã hội công nghiệp với cơ cấu nghề
nghiệp đa dạng và phong phú như hiện nay, đòi hỏi trình độ khoa học và
chuyên môn cao và giáo dục sẽ mang lại khả năng vượt qua chướng ngại, khả
năng cơ động trong công việc hơn. Trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ
thuật tính cơ động xã hội cao chỉ có thể dựa trên trình độ học vấn cao.
nông nghiệp. Chính vì vậy nông thôn có quan niệm cho rằng không cần học
nhiều mà cần có nhiều con để có sức lao động, điều đó đã làm cho mối quan hệ
giữa mức sinh và trình độ học vấn rõ hơn ở bất cứ khu vực khác. Tỷ lệ trẻ em
bỏ học sớm và đặc biệt là các em gái phải rời lớp học sớm để giúp đỡ cha mẹ
trông em, lao động, lấy chồng sinh con.
Trên phương diện chính trị thì nông thôn là nơi mà nông dân chiếm ưu
thế, công việc đồng áng là công việc chủ yếu. Giáo dục được đặt vào vị trí thứ
yếu mặc dù tính tự quản của cộng đồng cao. Nông thôn là nơi mà chế độ gia
trưởng còn rất nặng nề, nó biểu hiện ở quyền kiểm soát gia trưởng đối với đời
sống phụ nữ, cha kiểm soát con, chồng kiểm soát vợ. Trong một gia đình nông
dân nặng tinh thần gia trưởng thì phụ nữ trẻ là người có ít quyền hành nhất
đối với mọi quyết định và việc làm hàng ngày của mình. Đó là nguyên nhân
chính của sự ít học ở phụ nữ ở nông thôn và cũng chính là nguyên nhân của
một gia đình đông con.
Xét từ khía cạnh phát triển kinh tế xã hội thì nông thôn còn phát triển
chậm và lạc hậu, kết cấu hệ thống hạ tầng kém, vì vậy chương trình, hệ thống
giáo dục ở nông thôn vừa thiếu lại vừa yếu. Chính những người làm công tác
giảng dạy cũng không được đảm bảo những nhu cầu tối thiểu vì vậy dẫn tới sự
tâm huyết trong nghề nghiệp giảm và người gánh chịu hậu quả nhiều nhất là
trẻ em học sinh ở nông thôn. Đây cũng đang là mối quan tâm rất lớn của Đảng
và nhà nước ta.
Từ góc độ văn hoá thì nông thôn - nơi mà nền văn hoá dân gian truyền
thống chiếm ưu thế và lệ làng tồn tại nhiều khi lấn át cả luật pháp nhà nước. Ở
những vùng nông thôn nghèo thì văn hoá truyền thống càng có ảnh hưởng
mạnh mẽ. Văn hoá truyền thống là một hiện tượng đời sống xã hội tồn tại dai
dẳng, ngay cả khi hạ tầng cơ sở phát sinh ra nó bị phá vỡ. Ở nông thôn, văn
hoá truyền thống lẫn át cả văn hoá học đường mà ở đây thì người bị chi phối
mạnh mẽ nhất là phụ nữ, họ thường được học hành ít hơn nam giới, đến khi
lấy chồng thì điều đó cũng có nghĩa là họ phải thất học, không gian của người
phụ nữ nông thôn lúc này bị khép lại trong không gian gia đình nhà chồng,
nhất định, thường là 1 năm.
Trái lại, phân tích theo đoàn hệ nghiên cứu sinh sản theo chiều dọc,
nghĩa là tất cả các trường hợp sinh của một nhóm phụ nữ đặc biệt, thường là
tất cả các phụ nữ cùng sinh ra hay cùng lấy chồng vào một năm nhất định. ở
đây ta xem xét lịch sử sinh sản của phụ nữ theo thời gian. Sau đây là các thước
đo mức sinh cơ bản theo thời gian, sắp xếp theo thứ tự về phức tạp và những
dữ kiện cần có.
a.Tỷ suất sinh thô CBR (Crude Birth Rate)
Đây là cách đo mức sinh đơn giản và hay được dùng nhất, nó được xác
định như sau:
Tỷ suất
sinh thô
=
Số sinh trong
năm
x 1000
Dân số giữa
năm
Tỷ suất này luôn được biểu thị theo phần nghìn. lý do tỷ suất này được
gọi là thô bởi trong mẫu số của nó bao gồm tất cả mọi người, thuộc mọi lứa
tuổi của cả hai giới. Trong dân số bình thường thì phạm vi giá trị của CBR từ
10 đến 50 phần nghìn.
Ưu điểm của CBR: Đây là một chỉ tiêu quan trọng dùng để đo mức sinh
của dân số, được dùng trực tiếp để tính tỷ lệ tăng tự nhiên dân số băng cách
lấy tỷ suất sinh thô trừ đi tỷ suất chết thô. CBR tính toán nhanh, đơn giản và
yêu cầu rất ít số liệu.
Nhược điểm: CBR không phản ánh được sự khác biệt của mức sinh theo
cơ dấu tuổi và sự khác biệt về mức sinh theo cơ cấu tuổi và sự khác biệt về mức
sinh theo từng nhóm tuổi, vì thế nó không phản ánh chính xác mức sinh.
b.Tỷ suất sinh chung GFR (General Fertility Rate):