Nghiên cứu vận dụng các phương pháp tính khấu hao phù hợp với các điều kiện cụ thể trong các doanh nghiệp - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình phát triển và đổi mới cơ chế kinh tế, hệ thống kế
toán Việt Nam đã không ngừng phát triển và hoàn thiện, góp phần tích cực
vào việc tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý tài chính của nhà nước
và trong quản lý doanh nghiệp. Với tinh thần chung đó, hệ thống kế toán
doanh nghiệp mới đã được xây dựng phù hợp với đặc điểm kinh tế, yêu cầu
quản trị kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để phù hợp với những quy định mới về cơ chế tài chính đối với
các doanh nghiệp hiện nay thì hệ thống kế toán phải thường xuyên bổ sung,
hoàn thiện để phù hợp với thực tế.
Trong những vấn đề cần đề cập hiện nay, thì việc các phương pháp
khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) cũng rất cần được xem xét, đánh giá. Bởi
vậy, các doanh nghiệp khi tính toán và phân bổ giá trị của TSCĐ vào chi
phí kinh doanh trong từng kỳ cần phải lựa chọn một phương pháp tính khấu
hao hợp lý với tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp
mình.
Xuất phát từ mục tiêu và tầm quan trọng của việc thực hiện công tác
khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp là rất cần thiết nên chúng tôi đã chọn
đề tài :
“Nghiên cứu vận dụng các phương pháp tính khấu hao phù hợp với các
điều kiện cụ thể trong các doanh nghiệp”.
Sau đây, tôi xin trình bày vào nội dung chính của đề tài.
1
1. Cơ sở lý luận về tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định.
1.1. Mục tiêu, đối tượng, phương pháp nghiên cứu tái sản cố định và khấu
hao tài sản cố định.
1.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu : các phương pháp KHTSCĐ trong doanh
nghiệp theo các quy định của bộ tài chính.
- Phạm vi nghiên cứu: các phương pháp KHTSCĐ trong các doanh
nghiệp thuộc các lĩnh vực SXKD khác nhau: Doanh nghiệp sản xuất, doanh

nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử
dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.”
2
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên biến động và
chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng
lại trở về hình thái đầu tiên là tiền. Sự vận động của vốn kinh doanh như
vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn
của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ
tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh
doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành
kinh doanh.
Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, có thể chia vốn kinh
doanh ra thành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động.
1.2.2. Vốn cố định.
1.2.2.1. Khái niệm.
Trong nền kinh tế thị trường để có được tài sản cố định cần thiết cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn tiền
tệ nhất định. Số vốn mà doanh nghiệp ứng ra để hình thành lên tài sản cố
định được gọi là vốn cố định. Vậy ta có thể rút ra khái niệm về vốn cố
định: “Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của
doanh nghiệp.”
1.2.2.2. Đặc điểm:
Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định
nên quy mô của vốn cố định lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến quy mô tính
đồng bộ của tài sản cố định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang thiết bị kĩ
thuật và công nghệ sản xuất, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Mặt khác, trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh, vốn cố định thực hiện chu chuyển giá trị của nó. Sự chu chuyển này
chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản cố định.

chưa được sử dụng hoặc không còn được sử dụng trong quá trình sản xuất
kinh doanh do chúng đang trong quá trình hoàn thành (máy móc thiết bị đã
mua nhưng chưa hoặc đang lắp đặt, nhà xưởng đang xây dựng chưa hoàn
thành...) hoặc do chúng chưa hết giá trị sử dụng nhưng không được sử
dụng. Những tài sản thuê tài chính mà doanh nghiệp sẽ sở hữu cũng thuộc
về TSCĐ.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, tài sản cố định là những tư liệu
lao động đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn sau:
+ Thời gian sử dụng: Từ một năm trở lên
+ Tiêu chuẩn về giá trị: Phải có giá trị tối thiểu ở một mức nhất định
do Nhà nước quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ (theo
chế độ kế toán ban hành theo quyết định 203/2009/TT-BTC, ngày 12 tháng
10 năm 2009 thì TSCĐ có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên).
+ Chắc chắn phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử
dụng tài sản đó.
+ Nguyên giá của tài sản phải được xác định một cách tin cậy.
* Đặc điểm của tài sản cố định:
+ Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nhưng không thay
đổi về hình thái vật chất ban đầu cho tới khi bị hư hỏng.
+ Giá trị tài sản cố định dần và dịch chuyển hoàn toàn vào chi phí
sản xuất kinh doanh trong kỳ.
+ Vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố định thường lớn, thời gian thu
hồi vốn dài.
4
Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định đặc biệt
là đối với thiết bị, công nghệ là một trong các yếu tố quyết định đến năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi vì:
- Tài sản cố định là yếu tố quyết định đến năng lực sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng

thông tin, điện nước, băng truyền vật tư, hàng hóa…
+ Thiết bị, dụng cụ quản lý: Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong
công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: máy vi tính,
thiết bị điện tử, thiết bị đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút bụi, hút
ẩm…
5
+ Vườn cây lâu năm (như cà phê, cao xu, cây ăn quả…), súc vật làm
việc (như trâu, bò,…), hoặc súc vật cho sản phẩm (bò sữa..).
- Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật
chất nhưng xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối
tượng khác thuê hoặc dùng với mục đích quản lý.
Tài sản cố định vô hình chỉ được thừa nhận khi xác định được giá trị
của nó, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan trực tiếp
đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường, tài sản cố
định vô hình gồm các loại sau:
- Quyền sử dụng đất có thời hạn.
- Nhãn hiệu hàng hóa.
- Quyền phát hành.
- Phần mềm máy vi tính.
- Bản quyền, bằng sáng chế,…
Phương pháp phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu
đầu tư vào tài sản cố định theo hình thức biểu hiện, là căn cứ để quyết định
đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư phù hợp và có biện pháp quản
lý phù hợp với mỗi loại tài sải cố định .
* Phân loại theo mục đích sử dụng :
Dựa theo phương pháp này, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp
chia làm hai loại:
- Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: Là những tài sản
cố định đang dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt

trúc…)
- Tài sản cố định thuê tài chính: Là những tài sản cố định được
doanh nghiệp đầu tư bằng hình thức thuê của công ty cho thuê tài chính.
- Tài sản cố định không phải đầu tư: Là những tài sản cố định có
đựợc do được cấp, được điều chuyển đến, được tặng, nhận góp vốn liên
doanh…
Phân loại tài sản cố định theo hình thức đầu tư thường áp dụng để
nghiên cứu xác định đúng, đủ giá trị của tài sản cố định của doanh nghiệp
phù hợp với chế độ quản lý sử dụng và khấu hao tài sản cố định.
Trên đây là các cách phân loại chủ yếu. Ngoài ra còn có các cách phân loại
tài sản cố định theo quyền sở hữu v.v… Mỗi cách phân loại đáp ứng những
yêu cầu nhất định của công tác quản lý. Trong thực tế doanh nghiệp có thể
kết hợp nhiều phương pháp phân loại tài sản cố định tùy theo yêu cầu quản
lý của từng thời kỳ.
1.3. Khấu hao tài sản cố định.
1.3.1. Hao mòn và khấu hao tài sản cố định.
1.3.1.1. Hao mòn của tài sản cố định.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do
chịu tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau nên tài sản cố định bị hao
mòn dần, vậy: “Hao mòn tài sản cố định là sự giảm dần về giá trị sử dụng
và giá trị hoặc giảm giá trị của tài sản cố định.”
Sự hao mòn tài sản cố định được chia làm 2 loại: Hao mòn hữu hình
và hao mòn vô hình.
- Hao mòn hữu hình: Là sự giảm dần về giá trị sử dụng và theo đó
giảm dần về giá trị của tài sản cố định.
Sự hao mòn hữu hình của tài sản cố định tỷ lệ thuận với thời gian sử
dụng và cường độ sử dụng của tài sản cố định đó. Ngoài nguyên nhân chủ
7
yếu trên, trong quá trình sử dụng và bảo quản, tài sản cố định còn bị hao
mòn do tác động của các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, nắng, mưa.v.v.

Vì thế, khấu hao tài sản cố định là một yếu tố chi phí và được tính vào giá
thành sản phẩm.
- Xét về mặt kinh tế, khấu hao tài sản cố định là một khoản chi phí
sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng không phải là khoản chi tiêu bằng tiền
trong kỳ.
- Xét về mặt tài chính, khấu hao tài sản cố định là một cách thu hồi
vốn đầu tư ứng trước, vì sau khi sản phẩm được tiêu thụ, một số tiền được
trích ra từ tiền thu bán hàng tương ứng với số đã khấu hao trong kỳ được
gọi
8
- Xét về mặt nguyên lý, khi chưa tới thời hạn tái sản xuất tài sản cố
định thì số tiền khấu hao được tích luỹ lại dần dần dưới hình thái một quỹ
tiền tệ dự trữ gọi là quỹ khấu hao.
Nhưng trên thực tế hiện nay, các doanh nghiệp có quyền sử dụng
linh hoạt số tiền trích khấu hao sao cho có hiệu quả và phải hoàn trả đúng
hạn để tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng tài sản cố định khi
có nhu cầu.
Mục đích của khấu hao tài sản cố định là nhằm thu hồi vốn để tái
sản xuất ra tài sản cố định. Nếu doanh nghiệp tổ chức quản lý và sử dụng
tốt thì tiền khấu hao không chỉ có tác dụng tái sản xuất giản đơn mà còn có
thể tái sản xuất mở rộng tài sản cố định.
Về nguyên tắc, việc tính khấu hao tài sản cố định phải dựa trên cơ sở
xem xét mức độ hao mòn của tài sản cố định. Doanh nghiệp phải tính khấu
hao hợp lý, đảm bảo thu hồi đủ giá trị vốn đầu tư ban đầu và tài sản cố
định.
Thực hiện khấu hao tài sản cố định một cách hợp lý có ý nghiã kinh
tế lớn đối với doanh nghiệp:
- Khấu hao hợp lý tài sản cố định là một biện pháp quan trọng để
thực hiện bảo toàn vốn cố định. Thông qua thực hiện khấu hao hợp lý
doanh nghiệp có thể thu hồi đầy đủ vốn cố định khi tài sản cố định hết thời

TSCĐ
= Nguyên giá của
TSCĐ
- Giá trị thanh lý
ước tính
“Nguyên giá của TSCĐ: là toàn bộ các chi phí thực tế doanh nghiệp
đã chi ra để có TSCĐ cho tới khi đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử
dụng.”
Nguyên giá của TSCĐ bao gồm:
- Giá mua thực tế phải trả: giá ghi trên hóa đơn trừ đi các khoản
giảm giá, chiết khấu mua hàng (nếu có).
- Các chi phí kèm theo trước khi đưa TSCĐ vào sử dụng như chi phí
vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử lần đầu, điều chỉnh, lệ phí trước bạ,
lãi tiền vay đầu tư TSCĐ khi chưa đưa vào sử dụng và thuế không được
hoàn. Đối với TSCĐ doanh nghiệp xây dựng thì nguyên giá là giá trị thực
tế đã chi ra để xây dựng TSCĐ. Đối với TSCĐ vô hình: Nguyên giá là tổng
chi phí thực tế đã đầu tư vào tài sản đó.
Giá trị thanh lý ước tính được xác định bằng kết quả thanh lý ước
tính trừ đi chi phía thanh lý ước tính. Để đơn giản hóa vấn đề người ta quy
ước thu thanh lý bằng chi phí thực hiện thanh lý TSCĐ nên ta có công thức
tính mức khấu hao năm như sau:
M
kh
=
T
NG
Trong đó: + M
kh
: Mức khấu hao hàng năm.
+ NG : Nguyên giá TSCĐ.

kh
Trong công tác quản lý, người ta sử dụng các loại tỷ lệ khấu hao:
- Tỷ lệ khấu hao của từng TSCĐ
- Tỷ lệ khấu hao của từng loại TSCĐ
- Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân của các loại TSCĐ trong doanh
nghiệp. Và có thể được tính bằng 2 cách :
Cách 1:
kh
T
=
k
kh
NG
M
Trong đó: +
kh
T
: Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân năm.
+ M
kh
: Tổng số tiền khấu hao TSCĐ trong năm.
+
k
NG
: Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân phải tính khấu hao
trong năm.
Cách 2:
kh
T
=

kèm theo thông tư 206/2003QĐ-BTC, thì phần trích vượt mức khấu hao
nhanh (quá 2 lần) không được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu
nhập trong kỳ.
Ưu điểm: Việc tính toán đơn giản, dễ tính.Tổng mức khấu hao của
TSCĐ được phân bố đều đặn vào các năm sử dụng TSCĐ nên không gây ra
sự biến động quá mức khi tính chi phí khấu hao vào giá thành sản phẩm
hằng năm. Thông qua việc xem xét tỷ lệ khấu hao thực tế TSCĐ có thể
đánh giá được tỷ lệ khấu hao và thu hồi vốn cố định của doanh nghiệp.
Phương pháp này biết trước được thời hạn thu hồi vốn.
Hạn chế: Phương pháp này không thật phù hợp đối với loại TSCĐ
mà có mức độ không đều nhau giữa các kỳ trong năm hay giữa các năm
khác nhau trong trường hợp không lường được hết sự phát triển nhanh
chóng của khoa học và công nghệ doanh nghiệp có thể bị mất vốn cố định.
Đồ thị biểu diễn mức khấu hao hàng năm theo
phương pháp đường thẳng.
1.4.2. Phương pháp khấu hao nhanh.
Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp khấu hao đường
thẳng và thúc đẩy thu hồi nhanh hơn vốn cố định người ta sử dụng phương
pháp khấu hao nhanh. Hai phương pháp khấu hao nhanh thường được đề
cập là:
- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần.
- Phương pháp khấu hao theo tổng số thư tự năm sử dụng gọi tắt là
phương pháp khấu hao theo tổng số.
1.4.2.1.Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần.
Theo phương pháp này số khấu hao hành năm của TSCĐ được xác
định bằng cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ ở đầu năm tính khấu hao nhân
năm
M
kh
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status