Nhóm 5
Đề tài: Trình bày những hiểu biết về khối EU và đánh giá triển vọng của khối
ASEAN.
Danh sách nhóm:
1. Trần Ngọc Hải
2. Lê Quý Hiển
3. Vũ Minh Huế
4. Lê Quang Hưng
5. Tô Anh Minh (NT)
6. Nguyễn Thị Ngân
7. Phạm Thị Thu Phương
8. Nguyễn Thị Thơm
Bố cục
Mở Đầu
I, Tổng quan về EU
1. Lịch sử hình thành
2. EU là l iên minh kinh tế - tiền tệ
3. Thể chế của EU
II, Tìm hiểu chung về ASEAN
1 Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN
2 Giới thiệu chung về AFTA
3 Cơ hội và thách thức
III, Triển vọng của ASEAN
1 So sánh những tương đồng và khác biệt về hội nhập khu vực của EU và
ASEAN.
2 ASEAN học được những bài học kinh nghiệm gì qua sự hội nhập của EU.
3 Triển vọng của ASEAN
Kết luận
Mở đầu
Trong một thời kỳ phát triển của nền kinh tế thế giới sau chiến tranh có một xu hướng
phát triển có thể dễ dàng nhận ra ngay đó là xu hướng hợp tác quốc tế đối với các nền
VD: ECM
Liên hiệp kinh tế
Hình thức cao nhất. chẳng những thống nhất về kinh tế,mà còn thống nhất về tài
chính, về chính trị, về văn hóa.
VD: EU
I,Tổng quan về EU
Liên minh châu Âu (EU – European Union) là một tổ chức liên chính phủ của các
nước châu Âu. Ngày nay Liên minh châu Âu là khối liên kết kinh tế - chính trị có tính tổ
chức trong sự thống nhất cao nhất trong các liên kết của thế giới.
Với gần 500 triệu công dân thuộc 27 quốc gia, các nước trong Liên minh châu Âu
sản xuất gần 30% tổng sản phẩm của thế giới (16.8 ngàn tỉ năm 2007).
1 Lịch sử hình thành:
Lịch sử của Liên Minh Châu Âu bắt đầu từ Đệ nhị Thế chiến. Có thể nói rằng
nguyện vọng ngăn ngừa chiến tranh tàn phá tái diễn đã đẩy mạnh sự hội nhập châu Âu.
Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Robert Schuman là người đã nêu ra ý tưởng và đề xuất lần
đầu tiên trong một bài phát biểu nổi tiếng ngày 9 tháng 5 năm 1950.
Liên minh này được thành lập chính thức bởi Hiệp định Maastricht (chính
thức được phê chuẩn ngày 1 tháng 11 năm 1993) dựa trên nền tảng của một số tổ
chức tiền thân :
• Cộng đồng Than và Thép châu Âu (năm 1951 tại Pari)
• Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC – European Economic Community) năm
1957 với mục tiêu xây dựng thị trường chung châu Âu
Một số Hiệp ước quan trọng có vai trò cột mốc trong việc hình thành và quyết
định đường lối phát triển của Liên minh châu Âu :
Năm Hiệp ước
1948 Brussels
1952 Paris
1957 European Economic Community (Custom union), European
Atomic Energy Community (Corporation in devoloping nuclear)
1958 Rome
170 trong số 500 công ty hàng đầu thế giới về doanh thu
1
có trụ sở chính tại EU.
Tháng 5/2007, thất nghiệp ở EU là 7%, đầu tư bằng 21.4% GDP, lạm phát 2.2% và thâm
hụt công cộng là -0.9% GDP. Thu nhập bình quân đầu người biến động giữa các nước
thành viên từ $7000 USD tới $69000
2
(Việt Nam là $726).
Trong khối EU :
- Sự lưu chuyển của hàng hóa, vốn (tư bản), con người và dịch vụ là hoàn toàn tự do.
- Một biểu thuế nhập khẩu được áp dụng chung cho tất cả mọi hàng hóa vào thị trường
này.
- Hàng hóa một khi ở trong thị trường đơn nhất này có thể tự do lưu thông mà không chịu
tác động của bất cứ nghĩa vụ hải quan, hạn ngạch nhập khẩu hay thuế phân biệt nào khác.
- Một trong những bước tiến quan trọng nhất phát triển thị trường đơn nhất này là sử
dụng một đồng tiền chung : EURO.
Việc tạo ra đơn vị tiền tệ chung Châu Âu đã trở thành một mục tiêu chính thức của
EU từ năm 1969. Theo Hiệp ước Maastricht 1993 về Liên minh Châu Âu, Ủy ban kinh tế
Châu Âu soạn thảo kế hoạch cho sự ra đời đồng tiền Châu Âu thống nhất năm 1999. Bất
chấp những tranh cãi, đơn vị tiền tệ chung, EURO, đã xuất hiện đúng thời gian định
trước, tháng 1 năm 1999, với 11 trong số 15 thành viên EU lúc đó tham gia trong liên
minh tiền tệ này: Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Ý, Ireland, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào
Nha, và Tây Ban Nha. Đan Mạch, Thụy Điển, và Anh đã chọn không tham gia từ đầu,
còn Hy Lạp không đạt được các tiêu chuẩn về kinh tế theo Hiệp định Masstricht
3
, nhưng
được tham gia vào năm 2000.
Bắt đầu từ 1/1/1999, tỷ lệ trao đổi của các quốc gia tham gia liên minh tiền tệ được
cố định vĩnh viễn theo EURO. Đồng EURO trở thành đơn vị hạch toán. ECB thâu tóm
chính sách tiền tệ từ các ngân hàng trung ương quốc gia, các chính phủ bắt đầu phát hành
thành. Ủa ban Châu Âu đề xuất lên hội đồng bộ trưởng cấc biện pháp phát triển chính
sách chung và theo dõi việc tôn trọng các hiệp ước.
- Nghị viện Châu Âu: là cơ quan lập pháp của EU. Nghị viên Châu Âu có chức
năng thông qua ngân sách, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách của EU, cùng
hội đồng Châu Âu quyết định trong một số lĩnh vực. Nghị viên cũng có quyền bãi miễn
ủy viên ban Châu Âu.
- Tóa án Châu Âu: Có quyền bác bỏ những quy định của các ủy ban Châu ÂU, văn
phòng chính phủ các nước nếu bị coi là không phù hợp với luật của EU.
- Tòa kiểm toán Châu Âu: có chức năng kiểm tra cá khoản tài chính của EU để
đảm bảo tính hợp pháp của các khoản thu chi.
- Ủy ban kinh tế và xã hội: là cơ quan đại diện cho lợi ích của các nhóm người
trong xã hội, có nhiệm vụ tư vấn tới lợi ích của các đơn vị địa phương và khu vực.
- Ngân hàng đầu tư Châu Âu: đảm bảo trách nhiệm cấp phát tín dụng cho các tổ
chức nhà nước, doanh nghiệp và các nước thành viên trên cơ sở nguồn vốn của các nước
thành viên đóng góp hoặc vốn vay quốc tế.
II,Tìm hiểu chung về ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á (Association of Southeast Asian Nations-
ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 bởi Tuyên bố Băng-cốc, Thái Lan, đánh dấu một
mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực.
1 Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN
Từ sau năm 1945, nhiều quốc gia đã ra đời dưới những hình thức khác nhau ở
Đông Nam Á.
Sau khi giành được độc lập, nhiều nước Đông Nam Á đã có dự định thành lập một
tổ chức khu vực nhằm tạo nên sự hợp tác phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ
thuật và văn hóa; đồng thời hạn chế ảnh hưởng của các nước lớn đang tìm cách biến
Đông Nam á thành “sân sau” của họ.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, các trào lưu hình thành “chủ nghĩa khu vực” trên
thế giới đã xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC);
Khu vực Thương mại Tự do Mỹ Latin (LAFTA); Thị trường chung Trung Mỹ
(CACM) Việc thành lập các tổ chức khu vực này đã tác động đến việc hình thành
Ngày 24/2/1976, tại Bali, Indonesia, nguyên thủ quốc gia các nước ASEAN ký
Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali).Hiệp ước nhằm thúc đẩy
hòa bình vĩnh viễn, tình hữu nghị và hợp tác lâu bền giữa nhân dân các bên tham gia
Hiệp ước, góp phần tăng cường sức mạnh, tình đoàn kết và quan hệ chặt chẽ hơn giữa các
nước Đông Nam Á.
+ Hiến chương ASEAN:
Từ Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 10 (năm 2004), lãnh đạo các nước ASEAN
đã nhất trí xây dựng bản Hiến chương ASEAN. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13
(năm 2007), lãnh đạo các nước ASEAN đã ký thông qua Hiến chương ASEAN và ra
Tuyên bố chung khẳng định quyết tâm hoàn tất việc phê chuẩn Hiến chương trong vòng
một năm.
Ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực sau khi được tất cả
các nước thành viên ASEAN phê chuẩn. Đây là một sự kiện quan trọng, là bước ngoặt
lịch sử của Hiệp hội trong hơn 40 năm hình thành và phát triển.
Hiến chương ASEAN đánh dấu một bước chuyển mình cơ bản của Hiệp hội sang một
giai đoạn mới, trở thành một tổ chức liên chính phủ, có tư cách pháp nhân và hoạt động
dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; đồng thời, phản ánh sự trưởng thành của
ASEAN, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nước thành viên
ASEAN, nhất là của các vị lãnh đạo, về mục tiêu xây dựng một ASEAN liên kết chặt
chẽ, vững mạnh hơn, để hỗ trợ cho mục tiêu hòa bình và phát triển của cả khu vực cũng
như của từng nước thành viên.
*Hoạt động:
+ Về chính trị-an ninh: Đây là lĩnh vực có nhiều hoạt động hợp tác nổi trội và là
nhân tố quan trọng bảo đảm hòa bình và ổn định ở khu vực. Trước hết, sự hiểu biết và tin
cậy lẫn nhau giữa các nước thành viên ASEAN ngày càng gia tăng thông qua nhiều hoạt
động đa dạng, trong đó có việc duy trì tiếp xúc thường xuyên ở các cấp, nhất là giữa các
vị Lãnh đạo Cấp cao.
ASEAN chủ động đề xướng và tích cực phát huy tác dụng của nhiều cơ chế bảo
đảm hòa bình và an ninh khu vực, như : Tuyên bố Đông Nam Á là Khu vực Hòa bình, Tự
do và Trung lập (ZOPFAN) năm 1971 ; Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á
6. Giới thiệu chung về AFTA
Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á là một dạng thức liên kết thương mại của
ASEAN – Hiệp hội các Quốc Gia Đông Nam Á, ý tưởng thành lập và thực hiện AFTA
được Thái Lan đề xuất tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 tại Singapore tháng 1
năm 1992. Nhằm tiến tới thúc đẩy sự thực hiện AFTA tại hội nghị các bộ trưởng kinh tế
ASEAN (AEM) năm 1992. Các thành viên trong hiệp hội đã thống thất ký hiệp định thực
hiện chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT.
Việc thành lập AFTA và thực thi hiệp định CEPT đương nhiên cũng chịu một số
ảnh hưởng do bối cảnh lịch sử tạo ra. Trước hết đó là do trên thế giới , xu hướng toàn cầu
hoá đang diễn ra một cách sâu rộng tác động mạnh mẽ tới mọi quốc gia, mọi nền kinh tế,
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặc biệt là tới lĩnh vực thương mại – kinh tế, dịch vụ và
đầu tư. Sự ra đời của nhiều tổ chức liên kết và liên minh kinh tế với những thoả thuận
thương mại khu vực hay song phương như EU ở Tây Âu, NAFTA của khu vực Bắc Mỹ
là một thách thức không nhỏ đối với tăng trưởng của ASEAN. Trong khu vực, xu thế hoà
bình và hữu nghị đang là xu hướng chung cùng cới xu hướng chung của thời đại, đó là xu
hướng hoà bình, đối thoại và hợp tác. Cùng với những nguyên nhân tồn tại đó là các đòi
hỏi và các yêu cầu của các nền kinh tế trong khu vực, sự tác động mạnh của tình hình thế
giới, sáng kiến thành lập AFTA có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng nó vừa là một giải
pháp tình thế vừa là một bước đi chiến lược nhằm tạo ra một khối thống nhất về thương
mại mạnh hơn rộng hơn trong môi trường thế giới mới.
Với việc thành lập AFTA, mục đích chính của các nước thành viên là nhằm thúc
đẩy sự hợp tác kinh tế, trao đổi buôn bán trong khu vực, tạo sức cạnh tranh cao trên thị
trường thế giới. Từ đó, thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, nâng cao năng lực
sản xuất hàng hoá và bổ xung nguần lực giữa nền kinh tế của các nước thành viên, nâng
cao khả năng thích ứng một cách chủ động với những thay đổi về điều kiện chung của
tình hình thế giới nói chung và tình hình thương mại nói riêng, thúc đẩy sự phát triển của
ASEAN và các nước thành viên.
Để xây dựng thành công AFTA cũng như thực thi hiệp định CEPT. Các thành viên
tham gia AFTA phải thực hiện một số quy định mang tính chất nguyên tắc như sau:
• Cam kết cắt giảm các loại thuế nhập khẩu cho hàng hoá nội bộ ASEAN đạt
thể hiện vai trò và vị trí đang lên của Châu Á. Qủa thực cơ cấu thể chế quốc tế hiện nay
chưa thể hiện được vai trò của Châu Á. Chẳng hạn, vẫn như trước đây, người đứng đầu
các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và Qũy tiền tệ quốc tế phải là người Mỹ và
người Châu Âu cho dù sức mạnh kinh tế của các nước Châu Á đã khác trước. Cơ chế G7
không có sự tham gia chính thức của Trung Quốc, Ấn Độ như hiện nay cũng khó có thể
quản trị tốt được mọi vấn đề quốc tế. Trong tương lại không xa, các tổ chức và cơ chế
quốc tế sẽ cần phải được cải tổ lại theo hướng trao quyền quản trị các vấn đề khu vực và
thế giới cho các nước Châu Á. ASEAN chắc chắn sẽ được hưởng lợi từ xu hướng này và
sẽ có ảnh hưởng ngày càng lớn trong các vấn đề quốc tế. Thực tế, với việc lập cơ chế
ASEAN+3 và đi đầu trong việc thiết lập cơ chế Hội nghị thượng định Đông Á như thời
gian vừa qua, ASEAN cho thấy năng lực thiết lập cơ chế quốc tế để quản trị các vấn đề
toàn cầu.
b. Thách Thức
Thách thức lớn nhất của ASEAN là tìm lại vai trò và ảnh hưởng của một tổ chức
khu vực đối với khu vực và đối với từng thành viên mà nó đã từng có nhưng bị mai một
đi trong thời gian gần đây bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Vấn đề đặt ra hiện nay đối
với ASEAN là vừa phấn đấu để trở nên có ích hơn đối với tất cả các thành viên, vừa mở
rộng hợp tác với bên ngoài. Cái khó đối với ASEAN trong việc xử lý vấn đề này là phi
kết hợp giữa duy trì các nguyên tắc hoạt động vốn đã trở thành bản sắc và cội nguồn sức
mạnh của ASEAN một thời với việc tranh thủ đối tác bên ngoài, tạo thế và tạo giá trong
hợp tác với các đối tác bên ngoài.
Thách thức lớn đối với ASEAN hiện nay là một số nước thành viên gặp phải khó
khăn nội bộ đã gây ảnh hưởng đến tốc độ liên kết và mức độ hợp tác trong Hiệp hội. Sự
ưu tiên đối nội khác nhau ở các thành viên dẫn đến việc không ít dự án và chương trình
hợp tác và liên kết đã được thông qua, nhưng lại bị trì trệ trong triển khai thực hiện và
không ít nước thành viên đã tìm kiếm những lối đường đi riêng rẽ có lợi cho chính mình
nhiều hơn có lợi cho Hiệp hội. Hay nói cách khác, chưa khi nào mà sự gắn kết nội bộ,
đoàn kết và đồng thuận trong Hiệp hội lại bị đe doạ như hiện tại.
Thách thức lớn đối với ASEAN cũng còn đến từ chính các đối tác đối thoại của
ASEAN. Nó đặt ASEAN trước sự cần thiết phải vừa tăng cường sự hợp tác này, mở rộng
lập ASEAN là nhằm vào an ninh, chính trị theo xu hướng chống đối nhau, chịu sự ảnh
hưởng sâu sắc của cuộc chiến tranh lạnh.
* Về nguyên tắc hội nhập EU xây dựng trên nguyên tắc liên bang, sự liên kết hội
nhập được bắt đầu từ kinh tế, dần dần chuyển sang chính trị; xây dựng các thể chế chung
vững chắc, đồng thời giữ vai trò hạt nhân, bản sắc dân tộc của các nước thành viên, trên
cơ sở luật pháp vững vàng.
Còn các nước ASEAN đề ra nguyên tắc hội nhập kiểu hợp bang, lỏng lẻo về xây
dựng thể chế, giữ vững vai trò độc lập của các nước thành viên, theo nguyên tắc đồng
thuận, bắt đầu từ liên kết về an ninh, chính trị, sau đó dần dần chuyển sang liên kết kinh
tế, văn hoá, xã hội, nhưng chưa đạt được những hiệu quả vững chắc.
Mục tiêu và nguyên tắc liên kết của 2 tổ chức khu vực này đã dần dần được điều
chỉnh theo hướng phù hợp với xu thế toàn cầu hoá, hợp tác và phát triển của thế giới. Các
nước EU ngày càng liên kết chặt chẽ có hiệu quả và sâu sắc hơn, còn các nước ASEAN
đã tích cực điều chỉnh theo xu hướng xây dựng một liên minh chính trị, kinh tế, văn hoá -
xã hội vững chắc, sự liên kết ngày càng có hiệu quả, sâu sắc, chặt chẽ hơn, chiếm địa vị
cao và có uy tín trên trường quốc tế.
1.2. So sánh về trình độ và mức độ hội nhập
Có thể thấy, 2 khu vực EU và ASEAN cùng tiến hành liên kết, hội nhập nhưng
ngay từ thời điểm xuất phát, trình độ phát triển trong từng khu vực đã có sự chênh lệch
nhau khá rõ. Thời điểm năm 1951, khi 6 nước châu Âu cùng nhau thành lập Cộng đồng
Than - Thép châu Âu (ECSC) thì trình độ phát triển của những nước này đã là rất cao so
với mức độ chung của thế giới. Sau này qua 6 lần mở rộng, tuy trình độ phát triển của EU
27 có chênh lệnh, không đồng đều, đặc biệt ở những nước thành viên mới gia nhập lần 5
và 6, bao gồm các nước XHCN cũ ở Đông và Trung Âu, song so với trình độ phát triển
chung của thế giới, các nước này vẫn xếp vào loại trung bình, thậm chí trình độ của họ
thuộc loại các nước OECD (trường hợp của CH Séc, Hunggari…).
Trái lại, các nước ASEAN, xét về kinh tế, trình độ phát triển vào thời điểm ra đời
(1967) nói chung thuộc loại thấp so với mặt bằng chung trên thế giới. Đồng thời, đến nay,
trình độ phát triển là rất khác nhau. Tại 5 nước thành viên sáng lập là Thái Lan, Malaisia,
Inđônêxia, Philippin thu nhập hiện nay khoảng 2.400-3000 USD/người. Còn 5 nước còn
thời gian tới là sự hợp tác nội Khối còn quá ít.
Thứ ba: do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
(năm 2008), đặc biệt từ cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu (cuối năm 2009) đến nay,
EU đã bộc lộ rõ những khuyết tật trong cấu trúc mô hình, tổ chức, vận hành cả về chính
trị, kinh tế, xã hội. Đó là những mâu thuẫn giữa thiết chế và vận hành của nhà nước siêu
quốc gia EU với 27 nước thành viên. Đó là sự mâu thuẫn giữa đảng cầm quyền và các
đảng phái đối lập ở 27 nước thành viên. Những mâu thuẫn kể trên trong cơ cấu tổ chức,
mô hình phát triển, vận hành của Liên minh châu Âu hiện nay sẽ là những bài học đắt giá
cho các nước ASEAN trong hội nhập khu vực của mình trong tương lai.
9. Triển vọng của ASEAN
Thực tế cho thấy, hầu hết các nước ASEAN đã và đang trải qua thời kỳ tăng
trưởng kinh tế mạnh mẽ trong hơn 25 năm qua. Ngay cả Philippines, quốc gia cuối cùng
trong nhóm các nước thu nhập trung bình trong khu vực, cũng đang duy trì đà tăng
trưởng với nhịp độ có thể là gấp đôi thu nhập bình quân đầu người trong một thập niên
qua.
Trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng cao của Trung Quốc đang chậm lại và giá nhân
công tăng nhanh, Ấn Độ vất vả tìm cách tái phát triển kinh tế, ASEAN đang có cơ hội để
tỏa sáng hơn nữa với tư cách là một điểm đến đầu tư, một cơ sở sản xuất và một thị
trường tiêu thụ, tiến tới giai đoạn tăng trưởng cao bền vững mới cho khu vực. Để đạt
được điều này, ASEAN cần phải tăng tốc hơn nữa quá trình trở thành một điểm đến được
ưa thích, cũng như thúc đẩy khả năng hội nhập, cạnh tranh, năng động, toàn diện và linh
hoạt hơn nữa.
Trước tiên, triển vọng về một thị trường ASEAN hội nhập đang là một cân nhắc
ngày càng quan trọng đối với những tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào các nền kinh tế
trong khu vực. Sự hội nhập lớn hơn phụ thuộc cơ sở hạ tầng tốt, sự kết nối thể chế và gắn
kết pháp luật trong khu vực.
Thứ hai, một ASEAN năng động và cạnh tranh hơn cần phải được gắn kết hơn nữa
với các mạng lưới sản xuất ở Đông Á và thế giới. Chẳng hạn như giờ đây, khi lợi thế lao
động vượt trội của Trung Quốc với tư cách là nhà cung cấp toàn cầu về hàng hóa lắp ráp
hoàn chỉnh và trung gian đang bị thu hẹp, ASEAN có cơ hội để khai thác khoảng trống