ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU SỰ VẬN DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC
SÁNG TẠO TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG
GVHD : GS.TSKH HOÀNG KIẾM
Học viên: Nguyễn Toàn Nhân
MSHV : 12 11 052
Hồ Chí Minh - 2012
1
Nội dung
I. GIỚI THIỆU 3
1. Điện thoại trong suốt 16
2. Điện thoại chụp hình trong suốt 17
3. Điện thoại dẻo 17
2
Bảng Hình Ảnh
Hình ảnh 1: Những chiếc điện thoại di động đầu tiên 4
Hình ảnh 2: Điện thoại di động ngày nay 4
Hình ảnh 3: Các linh kiện của điện thoại 5
Hình ảnh 4: Sim điện thoại 6
Hình ảnh 5: Đế sạc không dây của Nokia 7
Hình ảnh 6: Ống kính quang dành cho điện thoại 8
Hình ảnh 7: Điện thoại tích hợp đèn pin 9
Hình ảnh 8: Điện thoại BlackBerry dùng bi để điều hướng 10
Hình ảnh 9: Bàn phím ảo trên điện thoại Nokia 12
Hình ảnh 10: Nokia Lumia 620 với 7 màu khác nhau 14
Hình ảnh 11: Hai mẫu điện thoại sử dụng nguyên liệu tổng hợp mới 15
Hình ảnh 13: Hai mẫu điện thoại trong suốt tiêu biểu 16
Hình ảnh 14: Một mẫu điện thoại chụp hình trong suốt 17
Hình ảnh 15: Mẫu điện thoại dẻo của Nokia 17
minh sáng chế góp phần làm cho xã hội phát triển nhanh hơn. Điều này cũng giống như
các vận động viên nếu chỉ dựa vào năng khiếu bẩm sinh thì rất khó phát triển tới trình
độ cao nếu không được huấn luyện bài bản, có phương pháp khoa học.
Qua tìm hiểu môn học Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, trong phạm vi bài
tiểu luận này, em cố gắng liên hệ, phân tích các phương pháp sáng tạo đã được vận dụng
như thế nào trong một sản phẩm thực tế.
II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG
Quá trình phát triển của điện thoại là một quá trình phát triển lâu dài với nhiều
cột mốc đáng ghi nhớ ghi dấu sự “lột xác” ngoạn mục của thứ vật dụng thiết yếu này
với những tính năng mới ngày càng hoàn thiện hơn.
Ngày 10 tháng 3 năm 1876 được coi là mốc son đánh dấu sự ra đời của điện
thoại. Cha đẻ của chiếc điện thoại đầu tiên là Alexander Graham Bell. Chiếc máy thô
sơ có thể truyền được giọng nói này đã mở ra một kỷ nguyên phát triển mới trong lịch
sử thông tin liên lạc, thay thế cho điện tín. Năm 1967, chiếc điện thoại được coi là "di
động" đầu tiên trình làng với tên gọi Carry Phone, rất cồng kềnh cho việc di chuyển vì
nó nặng đến 4,5kg.
4
Điện thoại di động chính thức ra đời vào ngày 3 tháng 4
năm 1973, mang tên Motorola Dyna Tac, phát minh bởi nhà
sáng chế Martin Cooper. Motorola Dyna Tac mang hình dáng
gần giống điện thoại di động ngày nay mặc dù vẫn còn khá cồng
kềnh (nặng khoảng 1kg) và không phổ biến.
Từ đó đến nay, chiếc điện thoại di động phát triển không
ngừng phát triển theo hướng nhỏ gọn hơn rất nhiều tổ tiên của
nó và ngày càng được tích hợp nhiều chức năng hơn chứ không
còn đơn thuần là nghe và gọi.
thoại hiện nay rất đa dạng, phong phú, nên trên một loại điện thoại
có thể cài đặt nhiều phần mềm khác nhau tùy theo nhu cầu của
người sử dụng.
Thông tin trên điện thoại được chia ra từng nhóm tùy theo chức
năng hoặc nội dung, ví dụ: các tập tin được chia ra từng folder. Các
chứng năng được chia thành từng nhóm như: nhóm có chức năng
cài đặt, nhóm có chức năng quản lý ….
Hình ảnh 3: Các linh kiện của điện thoại
6
2. Nguyên tắc tách khỏi
Simcard điện thoại có thể tháo rời được giúp cho người dùng có
nhu cầu đổi số nhưng không cần phải đổi điện thoại. Pin tháo rời
được giúp người dùng đễ dàng thay đổi pin khi pin hư hỏng, cũng
tương tự như vỏ của điện thoại, giúp người dùng có thể tùy biến
điện thoại tùy theo sở thích của mình Hình ảnh 4: Sim điện thoại
Ngày nay, người ta chế tạo ra sạc không dây, giúp người dùng
không cần bận tâm tới vấn đề hết pin, hoặc không cần mang theo
sạc khi đi xa. Mọi người có thể sạc đầy pin cho chiếc điện thoại
của mình mà không cần phải cắm vào cục sạc như cách thông
thường
7
Bộ nhớ của điện thoại có thể dễ dàng nâng cấp được, giúp cho
người dùng có thể tự nâng cấp bộ nhớ tùy theo nhu cầu của mình.
Giúp giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm. Ngoài ra điện thoại còn có thể đóng vai trò như một số vật dụng
thông thường khác: được tích hợp đèn pin (dạng đèn flash), có thể
sử dụng trong một số trường hợp như lúc mất điện hoặc soi tìm vật
rơi; được tích hợp khả năng hẹn giờ và báo thức giống như một
chiếc đồng hồ báo thức; hoặc các tính năng khác như Calendar –
lịch và nhắc việc, ghi chú, …
Hình ảnh 6: Ống kính quang dành cho điện thoại
9 Hình ảnh 7: Điện thoại tích hợp đèn pin
Đối với các điện thoại thông thường (không có bàn phím đầy đủ
dạng Qwerty thì một phím bấm trên điện thoại đảm nhiệm việc tạo
ra nhiều ký tự khác nhau, tùy theo số lần bấm. Ví dụ phím số 2 còn
được dùng để bấm các chữ cái abc, phím 3 cùng với def, v.v… Như
vậy một phím bấm đã thể hiện tính “vạn năng”.
6. Nguyên tắc chứa trong
Các ứng dụng nhỏ như lịch, báo thức … được tích hợp sẵn trong
hệ điều hành.
7. Nguyên tắc phản trọng lượng
Thay vì phải lưu trữ nhiều dữ liệu trong điện thoại iPhone, người
dùng có thể sao lưu dữ liệu lên iCloud.
8. Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ
11. Nguyên tắc linh động
Nguyên tắc này cũng được áp dụng khá nhiều vào việc sản xuất
điện thoại di động. Rất nhiều mẫu mã điện thoại được thiết kế dạng
nắp gập nắp trượt, có bàn phím xếp vào trong, v.v… nhằm mục đích
tiết kiệm thể tích và diện tích. Chỉ khi nào cần thiết dùng đến phím
bấm thì mới trượt hoặc mở ra.
Ngoài ra trên chiếc điện thoại còn có một số tính năng khác thể hiện
tính linh động như: chức năng “rảnh tay”, cho phép bật loa ngoài để
trò chuyện điện thoại trong lúc tay bận làm việc khác; hoặc chức
năng sử dụng “tai nghe” cho phép người dùng đàm thoại trong lúc
lái xe, v.v…
Hình ảnh 8: Điện thoại BlackBerry dùng bi để điều hướng
11 12. Nguyên tắc chuyển sang chiều khác
Màn hình, bàn phím ảo nhờ cảm ứng mà có thể xoay dọc hoặc ngang
để tăng giao diện trình bày.
Một màn hình chủ chứa danh sách các biểu tượng đồ họa ứng dụng
có thể chia thành nhiều màn hình chủ nhỏ chứa một nhóm các biểu
tượng, có thể di chuyển giữa các màn hình chủ bằng cách trượt tay,
giúp cho sự trình bày trên giao diện màn hình điện thoại rõ ràng,
linh động hơn.
13. Sử dụng giao động cơ học
Nhờ cảm biến gia tốc, mà một số ứng dụng đáp ứng với tác động
rung lắc của thiết bị như tác vụ undo, chuyển đổi chế độ màn hình
từ dọc sang ngang, chế độ chụp ảnh từ chụp chân dung sang chụp
phong cảnh
cho phép tự động hoạt động trong một chừng mực nhất định, tức là
nhà sản xuất đã vận dụng nguyên tắc tự phục vụ cho sản phẩm của
mình. Ta có thể liệt kê một số ví dụ tiêu biểu như sau:
Sạc pin tự động ngắt khi pin đầy
Người dùng có thể cài đặt khả năng tự động ngắt cuộc gọi sau một
thời gian đàm thoại nhất định.
Khi không được sử dụng, điện thoại sẽ tự tắt đèn bàn phím, làm tối
màn hình hiển thị hoặc chuyển sang chế độ chờ để tiết kiệm năng
lượng.
Tự động khóa bàn phím hoặc màn hình cảm ứng sau một khoảng
thời gian nhất định để người dùng không vô tình ấn phím gọi hoặc
kích hoạt các chức năng khác ngoài ý muốn.
19. Nguyên tắc sao chép
Ngày nay, ngày càng có nhiều điện thoại sử dụng màn hình cảm
ứng thay cho bàn phím cơ học thông thường. Điều này đồng nghĩa
với việc người dùng có thể thao tác, lựa chọn trực tiếp trên màn
hình. Thế nhưng vẫn có nhiều công việc đòi hỏi người dùng phải
nhập liệu, đưa vào các ký số và/hoặc ký tự (ví dụ như chức năng
nhắn tin chẳng hạn). Do đó hầu như trên mỗi điện thoại cảm ứng
đều có hỗ trợ chức năng bàn phím ảo (virtual keyboard). Thực chất
đây là hình ảnh
sao chép của một
bàn phím thực sự
và người dùng có
thể thao tác trên
đó giống như trên
bàn phím thông
thường.
thoại quay số.
22. Sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng
Một số điện thoại có vỏ làm bằng chất dẻo, giúp chống sốc khi va
chạm hoặc rơi. Đặc điểm này vừa vận dụng cả nguyên tắc dự phòng
và nguyên tắc sử dụng vỏ dẻo.
Màn hình cảm ứng của điện thoại có thể được phủ một lớp chất
liệu mỏng giúp không để lại dấu vân tay khi thao tác; hoặc có thể
được dán một lớp keo mỏng trong suốt nhằm hạn chế trầy xước.
Tương tự, lớp vỏ điện thoại cũng có thể được phủ chất liệu đặc biệt
hoặc dán keo chống trầy xước.
14
23. Sử dụng vật liệu nhiều lỗ
Ở phần loa của điện thoại, nếu để trống thì bụi rất dễ bay vào, người
ta dùng các miến đệm có nhiêu lỗ li ty, giúp ngăn chặn bụi, nhưng
cũng ko quá kính để phát âm thanh
24. Nguyên tắc thay đổi mày sắc
Tạo ra nhiều màu sắc
để người dùng có
nhiều lựa chọn hơn,
như Nokia tạo ra sản
phẩm Lumia, có tới
bảy màu để người
dùng lựa chọn
Trên đa số điện thoại, người ta thiết kế phím nghe/gọi màu xanh;
phím dừng/tắt màu đỏ. Đây là những màu sắc gần như đã có tính
Hình ảnh 11: Hai mẫu điện thoại sử dụng nguyên liệu tổng hợp mới
16
dẻo, có thể gập lại theo mọi hình dạng khác nhau. Khi có điện thoại tới, nó sẽ
tự chuyển động thay đổi hình dạng của mình. Có thể cuốn quanh tay hay tự
uống lượng theo nhiều hình khác nhau. Đây chính là sự áp dụng của nguyên
tắc sử dụng các vật liệu hợp thành
Hình ảnh 13: Một mẫu điện thoại chụp hình trong suốt
Hình ảnh 14: Mẫu điện thoại dẻo của Nokia
18
V. KẾT LUẬN
Qua các nội dung đã trình bày, người viết bài – với vốn kiến thức hạn hẹp của
mình – đã cố gắng tìm tòi, phân tích và chỉ ra được một số trong số những
nguyên tắc sáng tạo có thể thấy được trong sản phẩm điện thoại.
Có thể những phân tích, nhận định của người viết còn mang tính chủ quan,
chưa chính xác hoặc còn thiếu sót, nhưng qua đó chúng ta có thể phần nào
thấy được rằng khả năng sáng tạo của con người gần như là vô hạn. Những
đặc điểm, tính chất cũ luôn được cải biến, thay đổi sao cho tốt hơn, theo chiều
hướng tối ưu hóa; đồng thời các tính năng, ý tưởng mới liên tục xuất hiện, góp
phần làm cho sản phẩm ngày càng tinh tế hơn, hữu dụng hơn và phục vụ tốt
hơn cho nhu cầu của con người.
Và, có một điều chắc chắn rằng: trong tương lai, chiếc điện thoại di động –
cũng như vô vàn sản phẩm khác do con người tạo ra – sẽ tiếp tục được con
người thổi thêm những làn gió sáng tạo mới vào, sẽ tiếp tục được phát triển
cho con người và vì con người.