Báo cáo tổng kết nhiệm vụ “quan trắc môi trường nước lưu vực sông đồng nai – Sài Gòn - Pdf 12

BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
I. MỞ ĐẦU
1.1. Khái quát về lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai
Lưu vực hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai là một trong những lưu vực sông lớn
của Việt nam. Lưu vực sông có diện tích khá rộng (37.885 km
2
) và liên quan đến
nhiều địa phương. Chế độ dòng chảy ở lưu vực sông phụ thuộc nhiều vào chế độ
mưa và chế độ triều từ biển Đông. Chế độ thủy văn biến đổi lớn theo không gian và
thời gian: mưa nhiều thì dòng chảy mạnh, mưa ít thì dòng chảy yếu. Khi có triều
cường thì dòng chảy mạnh hơn, xâm nhập vào đất liền và khi triều kém thì ngược lại.
Khí hậu trong lưu vực có hai mùa chính (mùa mưa và mùa khô) nên chế độ dòng
chảy ở lưu vực sông cũng hình thành tương ứng: chế độ dòng chảy mùa mưa, chế độ
dòng chảy mùa kiệt. Sự biến đổi dòng chảy giữa hai mùa rất tương phản nhau.
Về điều kiện tự nhiên, 11 tỉnh thuộc lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai có diện
tích hơn 5 triệu ha. Nền nhiệt độ trên lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai tương đối
cao và ổn định. Lưu vực sông chịu ảnh hưởng chủ yếu của ba hệ thống hoàn lưu: gió
mùa mùa đông, gió mùa mùa hè và gió tín phong xen kẽ vào các thời kỳ suy yếu của
từng đợt gió mùa. Do đó hướng gió thịnh hành ở lưu vực sông thay đổi rõ rệt theo
mùa. Sự biến đổi của độ ẩm phụ thuộc theo mùa, với độ ẩm tương đối trung bình
năm từ 78% - 86%. Trong lưu vực sông có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đến trung tuần tháng 11. Thời gian còn lại trong
năm là của mùa khô. Lượng mưa hàng năm trên lưu vực khá lớn, nhiều nơi đạt trên
2000mm, nhưng tập trung nhiều vào mùa mưa.
Về điều kiện kinh tế xã hội, dân số trên lưu vực có khoảng 16 triệu người với tỷ
lệ dân số đô thị hóa bình quân toàn lưu vực khoảng 51%. Vùng hạ lưu của sông là
vùng tập trung phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và đô thị hóa mạnh nhất
trong hệ thống các vùng kinh tế lớn của Việt Nam mà trọng tâm là vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam. Như vậy sông Sài Gòn – Đồng Nai giữ vai trò đặc biệt trong phát
triển kinh tế xã hội của 11 tỉnh, thành phố có liên quan đến lưu vực. Hệ thống này
vừa là nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế trên lưu vực,

II. PHƯƠNG PHÁP QUAN TRẮC - PHÂN TÍCH
2.1. Phương pháp và thiết bị lấy mẫu
2.1.1. Các vị trí lấy mẫu (Xem bảng 2.1)
- Số lượng điểm quan trắc: 28 điểm với tần suất quan trắc 4 lần/năm (tháng 4, 6, 9,
12); riêng đối với trầm tích đáy tần suất là 2 lần/năm vào tháng 4 và tháng 9.
2.1.2. Sơ đồ vị trí các điểm quan trắc và lấy mẫu (bản đồ đính kèm)
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 2 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
Bảng 2.1. Thông tin về các điểm lấy mẫu (vị trí, hướng nước chảy, thời gian lấy mẫu)
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 3 -
STT Vị trí lấy mẫu
Ký hiệu
điểm
Thuộc sông
Thuộc
huyện/tỉnh
Kinh độ Vĩ độ
1 Hồ Dầu Tiếng 1 SGN-1-34 Sài Gòn Bình Dương 106
0
20.891' 11
0
20.100'
2 Chân đập Dầu Tiếng SGN-1-36 Sài Gòn
Bình Dương-Tây
Ninh
106
0
20.394' 11
0
18.484'

0
41.635' 10
0
53.915'
8 Cầu An Hạ SGN-1-44 Kênh Xáng TP.HCM 106
0
41.620' 10
0
47.347'
9 Cầu An Lộc SGN-1-46 Vàm Thuật TP.HCM 106
0
39.129' 10
0
51.618'
10 Cầu Bình Triệu SGN-1-47 Sài Gòn TP.HCM 106
0
42.840' 10
0
49.244'
11 Cầu Sài Gòn SGN-1-48 Sài Gòn TP.HCM 106
0
43.614' 10
0
48.011'
12 Bến Nhà Rồng SGN-1-49 Sài Gòn TP.HCM 106
0
42.476' 10
0
46.329'
13 Cầu Tân Thuận SGN-1-50 Sài Gòn TP.HCM 106

Thuộc
huyện/tỉnh
Kinh độ Vĩ độ
17 Cầu Phước Hòa SBE-1-29 Sông Bé Bình Phước 106
0
45.492' 11
0
15.148'
18
Cầu Đồng Nai
(Đập Trị An)
SDN-1-73 Đồng Nai
Đồng Nai-Bình
Dương
107
0
03.033' 11
0
06.023'
19
Trạm bơm
NM nước Thiện
Tân
SDN-1-75 Đồng Nai
Đồng Nai-Bình
Dương
106
0
54.364' 11
0

CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 4 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
24 Tam Thôn Hiệp SDN-1-93 Lòng Tàu
Đồng Nai-
TPHCM
106
0
52.028' 10
0
36.237'
25
Cửa Vàm Cỏ - Sông
Soài Rạp
SDN-1-95 Soài Rạp
TPHCM – Long
An
106
0
44.097' 10
0
28.397'
26 Cảng Gò Dầu TVA-1-68 Thị Vải Đồng Nai 107001.340' 10039.325'
27 Cảng PhúMỹ TVA-1-70 Thị Vải Bà Rịa-Vũng Tàu 107
0
01.616' 10
0
35.150'
28 Cảng Cái Mép TVA-1-71 Thị Vải Bà Rịa-Vũng Tàu 107001.645' 10032.321'
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 5 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”

kiểu Juday (hình nón) với kích thước mắt lưới là 25µm.
- Mẫu thực vật phiêu sinh định lượng được thu theo Phương Pháp Sedgewick Rafter,
thể tích mẫu được thu ngoài thực địa là 1lít.
- Mẫu động vật phiêu sinh định lượng được thu bằng cách lọc qua lưới 10 lít nước.
- Mẫu động vật không xương sống cỡ lớn được thu bằng gàu đáy kiểu Petersen với
tổng diện tích là 0,1m
2
. Tất cả vật chất thu được từ gàu đáy chuyển qua sàng và sau
đó sàng kỹ loại bỏ bớt các vật chất trước khi cho mẫu vào lọ.
- Các mẫu được cố định ngay tại hiện trường bằng dung dịch formol bão hòa sao cho
nồng độ formol cuối cùng trong mẫu vào khoảng 4% và mỗi mẫu thu được đánh
dấu, ghi chú trên nhãn.
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 7 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
- Ngoài ra, ghi chú thực địa cũng được thực hiện: thời điểm thu mẫu, vị trí lấy mẫu,
đặc điểm dòng chảy, màu nước, nước lớn hay ròng, đặc điểm nền đáy, gần hay xa
khu dân cư, nhà máy, xí nghiệp…
- Các mẫu nước mặt và mẫu thủy sinh được bảo quản đưa về phòng thí nghiệm tiến
hành phân tích ngay sau khi lấy mẫu.
2.1.6. Phương pháp và thiết bị lấy mẫu trầm tích đáy sông
Trầm tích đáy được lấy lên nhờ gàu xúc kiểu hàm ngậm, được thiết kế để xâm nhập vào
tầng trầm tích nhờ trọng lượng của gàu.
2.2. Các thông số, phương pháp và thiết bị quan trắc - phân tích
- Số lượng thông số quan trắc: mẫu nước mặt (23 thông số); mẫu thủy sinh (3 thông
số); mẫu trầm tích (11 thông số), cụ thể:
+ Quan trắc chất lượng nước mặt về hóa lý: trong số 28 điểm quan trắc đầy đủ 21
thông số hóa lý cơ bản; có 6 điểm quan trắc bổ sung thông số Dầu mỡ và 6 điểm
quan trắc bổ sung thông số Dư lượng DDT.
+ Quan trắc chất lượng nước về mặt thủy sinh: quan trắc 3 thông số chỉ thị sinh học
(động vật nổi, thực vật nổi, động vật đáy) song song với các chỉ tiêu hóa lý. Số điểm

- Chì (Pb), Cadimi (Cd): phương pháp hấp thu nguyên tử theo TCVN 6193-1996. Máy
AAS 3300 của hãng Perkin Elmer, Mỹ.
- Tổng Coliform: phương pháp định lượng Coliform - kỹ thuật đếm số có xác suất lớn
nhất (MPN) theo TCVN 6187-2-1996.
- Dầu khoáng: phương pháp hồng ngoại theo ISO-11046-1994. Máy quang phổ hồng
ngoại FTIR-8400S của hãng Shimadzu, Nhật Bản.
- Hóa chất bảo vệ thực vật: phương pháp sắc ký khí. Thiết bị sắc ký khí ghép đầu dò
bắt giữ điện tử (GC-mECD) Agilent 6890N.
b) Phương pháp và thiết bị phân tích mẫu thủy sinh:
- Việc định danh thủy sinh vật được dựa trên cơ sở hình thái học (morphology) với sự
trợ giúp của các tài liệu phân loại của các tác giả trong và ngoài nước. Phương pháp
này đã được công nhận rộng rãi.
- Mẫu định lượng thực vật phiêu sinh được phân tích theo các phương pháp buồng
đếm Sedgewick Rafter. Sự sắp xếp danh mục tảo theo hệ thống phân loại được dựa
theo cách sắp xếp của tác giả G. S. Prescott.
- Mẫu định lượng động vật phiêu sinh và động vật không xương sống cỡ lớn sống đáy
được phân tích bằng cách đếm tất cả các cá thể có trong mẫu định lượng.
c) Phương pháp và thiết bị phân tích mẫu trầm tích đáy:
- Các kim loại nặng trong trầm tích: được xác định theo TCVN 6496-1999.
- Các chất hữu cơ độc hại trong trầm tích: được xác định trên thiết bị sắc ký khí ghép
khối phổ (GC-MS).
2.3 Công tác đảm bảo và kiểm soát chất lượng (QA/QC) trong quá trình quan
trắc đã thực hiện
2.3.1. Chuẩn bị lấy mẫu: tất cả các can và chai lọ dùng lấy mẫu được rửa bằng xà bông,
sau đó bằng hỗn hợp K
2
Cr
2
O
7

C và phân tích trong vòng 7 ngày;
+ COD và BOD
5
: bảo quản ở 4
o
C và phân tích trong vòng 24h;
+ Kim loại nặng: bảo quản ở 4
o
C và phân tích trong vòng 7 ngày;
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 9 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
- Nhật ký lấy mẫu: các mẫu được ghi chép chi tiết trong nhật ký lấy mẫu, bao gồm:
ký hiệu mẫu, điều kiện lấy mẫu, thời tiết, giờ lấy mẫu, người lấy mẫu, ...
2.3.3. Mẫu QC tại chỗ
- Mẫu kiểm tra vận chuyển: sử dụng dung dịch với nồng độ cho trước (tạo bởi nước
cất và hóa chất tinh khiết). Mẫu được cho vào can đựng mẫu và vận chuyển ra
điểm lấy mẫu. Can mẫu này không mở tại điểm lấy mẫu. Mẫu này cho phép xác
định sự nhiễm bẩn và mất mẫu trong quá trình xử lý, vận chuyển và bảo quản. Bên
cạnh đó nó cũng sử dụng để xác định sai số phân tích;
- Mẫu thêm: sử dụng ống chứa dung dịch chuẩn với nồng độ cho trước. Tại điểm
lấy mẫu, các ống được mở ra cho vào dung dịch nước cất và sau đó phân tích tại
PTN.
2.3.4. Mẫu QC - PTN:
- Mẫu trắng của thiết bị: sử dụng nước cất để kiểm tra nhiễu và giới hạn phát hiện
của thiết bị;
- Mẫu trắng phương pháp: sử dụng nước cất và các hóa chất chuẩn bị (môi trường,
chất che, chất tạo màu...) nhưng không phải chất cần phân tích để tạo mẫu. Mẫu
này cho phép chúng ta đánh giá giới hạn phát hiện của phương pháp và độ tinh
khiết của các hóa chất sử dụng;
- Đường chuẩn: sử dụng dung dịch chuẩn để kiểm tra độ tuyến tính của thiết bị và

dùng cấp nước cho nhà máy nước Thủ Dầu Một nên trong báo cáo này sẽ áp dụng tiêu
chuẩn nước mặt loại A, dùng cho cấp nước sinh hoạt (TCVN 5942-1995).
Khu vực từ Cầu Phú Long đến Cầu Bình Điền áp dụng tiêu chuẩn nước mặt (TCVN
5942-1995) nguồn loại B, nước sử dụng cho các mục đích khác ngoài mục đích cấp
nước sinh hoạt.
3.2.2 Đối với lưu vực sông Đồng Nai : áp dụng tiêu chuẩn nước mặt (TCVN 5942-
1995) loại A, nước dùng cho cấp nước sinh hoạt.
3.2.3 Đối với lưu vực cửa sông : áp dụng tiêu chuẩn nước mặt (TCVN 5942-1995)
nguồn loại B.
3.3 Đánh giá diễn biến trên phương diện hóa lý, thủy sinh và trầm tích đáy
3.3.1 . Các yếu tố vật lý
Nhiệt độ (
0
C): là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình sinh học
và đời sống của hệ thủy sinh trong môi trường nước. Sự gia tăng hay giảm nhiệt độ cũng
có những ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn nước.
Diễn biến nhiệt độ theo thời gian
Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt 4 đợt trong năm 2007 trên lưu vực sông Sài
Gòn cho thấy nhiệt độ trong năm dao động trong khoảng 27,0 – 32,7
0
C, giá trị nhiệt độ
trung bình năm là 29,9
0
C, không có sự chênh lệch nhiều so với năm 2006 (29,7
0
C). Giá
trị nhiệt độ trong 3 đợt khảo sát (tháng 4, 6, 9) có các giá trị trung bình, thấp nhất và cao
nhất trong từng đợt cao hơn đợt 4 (tháng 12) do thời điểm lấy mẫu khác nhau: từ tháng
4 đến tháng 9 thời tiết chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam với nền nhiệt độ không khí
trung bình cao hơn tháng 12 diễn ra vào đầu mùa khô, lúc này thời tiết bị ảnh hưởng bởi

Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4
Điểm
Nhiệt độ (
0
C)
Max
trung bình
min
Hình 3.1. Diễn biến nhiệt độ nước mặt theo thời gian năm 2007
0,0
5,0
10,0
15,0
20,0
25,0
30,0
35,0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28
Các vị trí lấy mẫu
Nhiệt độ oC
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4
Hình 3.2. Diễn biến nhiệt độ nước mặt theo không gian năm 2007
Diễn biến nhiệt độ theo không gian
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 12 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
Giá trị nhiệt độ ở các vị trí trên các lưu vực không có sự biến động lớn theo không
gian. Không có vị trí nào có nhiệt độ thay đổi đột biến do bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các
nguồn thải nóng hay lạnh trong khu vực. Cũng tương tự kết quả quan trắc năm 2006,
khoảng chênh lệch nhiệt độ giữa các điểm khảo sát trong năm 2007 không cao và khá an
toàn cho môi trường (hình 3.2).

1,0
2,0
3,0
4,0
5,0
6,0
7,0
8,0
9,0
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4
Điểm
Độ pH
Max
trung bình
min
Hình 3.3. Diễn biến pH nước mặt theo thời gian năm 2007
Diễn biến pH theo không gian (hình 3.4)
Kết quả quan trắc năm 2007 cho thấy, đoạn từ Hồ Dầu Tiếng đến cầu Bình Điền
(lưu vực Sông Sài Gòn), giá trị pH trong cả 4 đợt đều thấp hơn các điểm quan trắc khác
và có sự dao động khá lớn giữa các điểm. So với tiêu chuẩn nước mặt nguồn loại A
dùng cho cấp nước sinh hoạt: vị trí Cầu Phú Cường (đợt 1 và 4), cầu Bến Súc (đợt 4) và
sông Thị Tính (đợt 1) không nằm trong ngưỡng cho phép; các vị trí khác trên các lưu
vực đều có giá trị pH đạt chuẩn cho phép. So với năm 2006, kết quả năm 2007 không có
sự chênh lệch lớn tại cầu Phú Cường nhưng tại cầu Bến Súc và sông Thị Tính, pH có xu
hướng giảm.
Theo kết quả đo nhanh bằng thiết bị đo liên tục có ghép nối định vị vệ tinh gắn với
máy phân tích nước điều khiển bằng máy tính điện tử được tiến hành bởi Viện hóa học
thực hiện ngày 12-14/09/2007 cho thấy phần lớn các đoạn trên sông Sài Gòn từ khu vực
Thủ Dầu Một về phía hạ lưu có giá trị pH biến thiên trong khoảng từ 3,5 – 6,0, nước thể
hiện tính acid khá cao và càng gần về phía hợp lưu thì pH có xu hướng càng gia tăng.

8,0
9,0
10,0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28
Các vị trí lấy mẫu
Giá trị pH
Đợt 1 TCVN TCVN Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4
Hình 3.4. Diễn biến pH nước mặt theo không gian năm 2007
Chất rắn lơ lửng (SS): trong nguồn nước được tạo ra do quá trình bào mòn, rửa trôi tự
nhiên của đất đá trong lưu vực và một phần do ảnh hưởng của chất thải sinh hoạt, dịch
vụ, công nông nghiệp.
Diễn biến SS theo thời gian (hình 3.5)
Hàm lượng SS trong năm 2007 trên lưu vực sông Sài Gòn dao động từ 2,5 – 225,0
mg/l, giá trị trung bình là 113,8 mg/l, không có sự chênh lệch nhiều so với năm 2006
(102 mg/l). Trong 4 đợt khảo sát thì hàm lượng SS trong lưu vực sông Sài Gòn vào
tháng 4, 9 và 12 không có sự chênh lệch lớn và cao hơn đợt tháng 4.
Trên lưu vực sông Đồng Nai, nhìn chung hàm lượng chất rắn lơ lửng trong năm
2007 cũng có sự dao động lớn theo thời gian. Các hàm lượng SS nhỏ nhất, trung bình và
lớn nhất đều có những thay đổi đáng kể theo thời gian. Mức độ dao động thấp nhất là
vào tháng 06/2007 và mức độ dao động cao là vào tháng 09/2007, tháng có lượng mưa
và lũ lớn trên lưu vực.
Qua các kết quả quan trắc tại khu vực các cửa sông cho thấy hàm lượng chất rắn lơ
lửng trong nước mặt không có sự biến động theo thời gian. Các giá trị SS nhỏ nhất,
trung bình và cao nhất giữa các đợt khảo sát không có sự chênh lệch nhiều, dao động từ
53 – 284 mg/l. Giá trị lớn nhất (vị trí cảng Gò Dầu) thấp hơn 1,5 lần năm 2006.
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 15 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
Sông Sài Gòn Sông Đồng Nai Cửa sông
0,0
50,0

trong khu vực này có xu hướng giảm so với đoạn thượng lưu và đều đạt tiêu chuẩn cho
phép. Từ vị trí Bến Nhà Rồng đến cầu Bình Điền hàm lượng SS có sự gia tăng đáng kể,
đặc biệt tại các vị trí chảy qua địa phận Tp.HCM như Cầu Chữ Y, kết quả 3 đợt 1, 3 và
4 đều vượt tiêu chuẩn nước mặt loại A. Do đây là các vị trí nằm trong khu trung tâm,
chịu ảnh hưởng nhiều bởi nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, nước thải sản xuất từ
các xí nghiệp nhà máy với quy mô vừa và nhỏ trong khu vực.
Hàm lượng SS của nước mặt trên lưu vực sông Đồng Nai cũng có sự dao động đáng
kể giữa các vị trí khảo sát trong đợt tháng 9/2007, vị trí cầu Phước Hòa và cầu Ông
Buông có giá trị tăng đột biến, vượt tiêu chuẩn nước mặt nguồn loại A - nước dùng cho
mục đích sinh hoạt. Trong đó mức độ ô nhiễm cao nhất là tại vị trí Cầu Sông Buông, là
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 16 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
vị trí nằm trên 1 nhánh sông nhỏ (sông Lá Buông) chảy vào sông Đồng Nai chịu ảnh
hưởng bởi nước thải từ các khu công nghiệp Biên Hòa II, Amata, Long Bình... Mặc dù
nước thải tập trung của những khu công nghiệp này đều đã được xử lý trước khi xả ra
nguồn nước mặt nhưng chất lượng nước sông ít nhiều vẫn bị ảnh hưởng của ô nhiễm.
Giá trị đo được tại các điểm còn lại trong cả 4 đợt không có biến động lớn, đạt tiêu
chuẩn cho phép hoặc xấp xỉ ngưỡng tiêu chuẩn.
Kết quả khảo sát tại khu vực các cửa sông cho thấy hàm lượng SS giữa các vị trí
khảo sát có sự dao động lớn và có xu hướng giảm dần tại cảng Phí Mỹ. Tuy nhiên, so
với các lưu vực sông Sài Gòn và Đồng Nai thì hàm lượng chất rắn lơ lửng khu vực cửa
sông có sự gia tăng đáng kể. Giá trị SS dao động trong khoảng khá rộng từ 53 –
284mg/l. So với tiêu chuẩn nước mặt nguồn loại B, nước dùng cho các mục đích khác
thì hàm lượng SS trên các khu vực cửa sông khảo sát trong 4 đợt quan trắc năm 2007
hầu hết đều vượt chuẩn. Vì khu vực cửa sông chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ bởi các
dòng triều xâm nhập và nước thải sinh hoạt, sản xuất từ các khu công nghiệp phân bố
trong khu vực như Nhơn Trạch I, II, III, V, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân B, Gò Dầu, Phú Mỹ,
Cái Mép.
0,0
50,0

Theo kết quả quan trắc giá trị độ đục trong 4 đợt năm 2007 trên lưu vực sông Đồng
Nai cho thấy độ đục tại các vị trí quan trắc có sự dao động lớn theo thời gian. Thể hiện
qua các giá trị độ đục thấp nhất, cao nhất và trung bình trong từng đợt khảo sát có sự
thay đổi rất lớn, dao động từ 4,8 – 354 NTU, có xu hướng cao hơn kết quả quan trắc
năm 2006 (5,5 - 200 NTU). Trong đợt quan trắc tháng 09/2007, giá trị độ đục trên lưu
vực sông Đồng Nai khá cao, giá trị trung bình trong toàn lưu vực lên đến 182 NTU, cao
gấp 2,1 lần so với giá trị độ đục trung bình vào tháng 6, gấp 5,7 lần giá trị trung bình
tháng 12 và gấp 10,3 lần giá trị trung bình tháng 4. Có thể thấy rằng độ đục có sự gia
tăng vào các tháng có lượng mưa lớn do sự rửa trôi các chất lơ lửng , đất đá trên các
vùng có địa hình cao xuống dòng sông (tháng 6 và tháng 9).
Giá trị độ đục trên khu vực các cửa sông trong năm 2007 cũng tương tự như lưu vực
sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, có sự dao động lớn theo thời gian. Các giá trị độ đục
nhỏ nhất, trung bình và cao nhất trong từng đợt khảo sát dao động từ 5,9 – 237,0 NTU.
Sông Sài Gòn Sông Đồng Nai Cửa sông
0,0
50,0
100,0
150,0
200,0
250,0
300,0
350,0
400,0
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4
Điểm
Độ đục (BTU)
Max
trung bình
min
Hình 3.7. Diễn biến Độ đục nước mặt theo thời gian năm 2007

250,0
300,0
350,0
400,0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28
Các vị trí lấy mẫu
Độ đục (NTU)
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4
Hình 3.8. Diễn biến Độ đục nước mặt theo không gian năm 2007
3.3.2. Xét trên phương diện nhiễm mặn
Sự xâm nhập mặn từ biển vào nội đồng là do ảnh hưởng của thủy triều trong điều
kiện địa hình của sông hay kênh rạch thấp hơn. Thủy triều trên lưu vực sông Sài Gòn –
Đồng Nai mang tính bán nhật triều không đều. Mức độ nhiễm mặn phụ thuộc theo mùa
rõ rệt. Vào mùa mưa, lượng mưa lớn có tác dụng đẩy xâm nhập mặn về phía hạ lưu.
Tuy nhiên, các hồ chứa có chức năng điều hòa dòng chảy rất lớn do vậy sự xâm nhập
mặn hiện nay đã ít mang tính thời vụ như trước khi có sự hiện diện của các hồ chứa.
Xâm nhập mặn được đặc trưng bằng sự tăng hàm lượng ion Clorua trong nước.
Nồng độ Clorua lớn khiến tổng chất rắn hòa tan TDS tăng dẫn đến độ dẫn điện EC tăng.
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 19 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
Đối với nước mặt thì 3 thông số này thường tỉ lệ thuận với nhau và mang thông tin hỗ
trợ nhau. Giữa độ dẫn điện và TDS có mối liên hệ nhất định, do đó hai đại lượng này
thường được sử dụng để thay thế lẫn nhau. Người ta cũng sử dụng thông số TDS để
đánh giá mức độ nhiễm mặn của nước sông, bởi vì các cation và anion chiếm uu thế là
ion Natri và ion Clo.
Ngoài ra, cũng cần lưu ý một số ngành công nghiệp sản xuất cũng có thể thải ra
lượng lớn các ion Clo trong nước thải, ví dụ công nghiệp sản xuất hóa chất (xút, clo),
công nghiệp sản xuất phân bón... Tuy nhiên, đối với khu vực hạ lưu sông Sài Gòn thì
nồng độ Clo hiện diện trong nước chủ yếu từ sự xâm nhập mặn của thủy triều biển
Đông.

5000,0
10000,0
15000,0
20000,0
25000,0
30000,0
35000,0
40000,0
45000,0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28
Các vị trí lấy mẫu
Nồng độ Clorua (mg/l)
Đợt 1 TC theo WHO Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4
Hình 3.9. Diễn biến nồng độ ion Clorua nước mặt theo không gian năm 2007
0,0
5000,0
10000,0
15000,0
20000,0
25000,0
30000,0
35000,0
40000,0
45000,0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28
Các vị trí lấy mẫu
Tổng chất rắn hòa tan (mg/l)
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4
Hình 3.10. Diễn biến tổng chất rắn hòa tan nước mặt theo không gian năm 2007
0,0

động từ 1060 – 39053 mg/l. Nồng độ muối tại hai vị trí Tam Thôn Hiệp và cửa Vàm Cỏ
đã tăng lên đến hơn 15.000 mg/l trong mùa khô. Nước sông tại vị trí phà Bình Khánh
cũng cho kết quả nồng độ Clo rất cao vào đợt này.
Sự xâm nhập mặn nói chung là bị ảnh hưởng mạnh theo mùa giữa hai mùa mưa và
mùa khô. Kết quả quan trắc trên các lưu vực đã chứng minh điều đó. Nguyên nhân chủ
yếu là do trong những tháng giữa mùa mưa (tháng 8), tốc độ dòng chảy và lưu lượng
dòng chảy đều thấp hơn mùa mưa nên không đủ để đẩy mặn ngược lại về phía biển.
Ngoài ra mực nước thấp vào mùa khô cũng là điều kiện thuận lợi để nước biển xâm
nhập sâu hơn. Thêm vào đó còn phải kể đến yếu tố pha loãng vật lý bởi nước mưa cũng
góp phần khiến độ mặn trong nước giảm.
3.3.3 . Xét trên phương diện ô nhiễm hữu cơ
Mức độ ô nhiễm bởi các chất hữu cơ được đặc trưng bằng giá trị nồng độ các thông
số nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) và oxy hòa tan (DO). Nhu
cầu oxy sinh hóa đại diện cho nhóm các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học nên
sự hiện diện các chất thuộc nhóm này thường đi kèm với sự suy giảm hàm lượng oxy
hòa tan, do đó chúng được sử dụng để chỉ thị cho khu vực nước bị ô nhiễm hữu cơ.
Oxy hòa tan trong nước tham gia vào quá trình trao đổi chất, duy trì năng lượng cho
quá trình phát triển, sinh sản của các vi sinh vật nước. Hàm lượng Oxy hòa tan trong
nước thay đổi theo mùa, nhiệt độ, các hoạt động quang hợp của thực vật nước và sự
phân hủy sinh học của các chất hữu cơ trong nước làm tiêu thụ Oxy. Ngoài ra, nếu hàm
lượng dinh dưỡng trong nước cao sẽ làm giảm khả năng hòa tan của Oxy vào nước.
Nhu cầu oxy hóa học đại diện cho nhóm các chất có thể phân hủy được bằng các
chất oxy hóa mạnh, bao gồm cả các chất phân hủy sinh học và không hay khó phân hủy
sinh học. Nồng độ cao của COD là một biểu hiện nguy hiểm về chất lượng nước.
Các hình 3.12, 3.13, 3.14 thể hiện diễn biến nồng độ BOD, COD và DO tại các vị trí
quan trắc trên lưu vực sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và các cửa sông.
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 22 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
0,0
5,0

nước mặt theo không gian năm 2007
0,0
1,0
2,0
3,0
4,0
5,0
6,0
7,0
8,0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28
Các vị trí lấy mẫu
Nồng độ DO (mg/l)
Đợt 1 TCVN B TCVN A Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4
Hình 3.14. Diễn biến nồng độ DO nước mặt theo không gian năm 2007
Lưu vực sông Sài Gòn
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 23 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
Qua 4 đợt thu thập và phân tích mẫu trên lưu vực sông Sài Gòn, dọc theo chiều dài
sông từ thượng lưu xuống hạ lưu, nồng độ BOD
5
và COD có chiều hướng tăng dần, đặc
biệt tại khu vực cầu An Lộc. Giá trị nồng độ BOD và COD trên lưu vực sông Sài Gòn
qua cả 4 đợt quan trắc có sự chênh lệch khá lớn giữa các vị trí trong từng đợt và giữa
các đợt trong năm (đợt 1, 4 với đợt 2, 3) và mức độ ô nhiễm bởi các chất hữu cơ có xu
hướng gia tăng so với 3 đợt quan trắc năm 2006. Ở đợt 1, nồng độ BOD đoạn từ cầu
Bến Súc đến cầu Phú Cường dao động từ 12,5 – 19,9 mg/l và vượt tiêu chuẩn A từ 3 – 5
lần. Đồng thời nồng độ COD cũng vượt ngưỡng tiêu chuẩn A từ 2,8 – 3,6 lần. Đối với
các vị trí trung lưu và hạ lưu sông, nồng độ BOD cũng như COD tăng lên rất rõ, các
điểm có nồng độ BOD

cao vì trong quá trình phân hủy, vi sinh vật đã tiêu thụ rất nhiều oxy hòa tan của nước.
Ngoài ra, hàm lượng phospho cao cũng là nguyên nhân gây nên nồng độ BOD cao
CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ - 24 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ “QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN”
thông qua sự phân rã của các loài tảo phát triển mạnh trong môi trường dư thừa
phospho. Và hậu quả tiếp theo là sự suy giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước.
Sự thay đổi nồng độ DO qua các điểm quan trắc ở 4 đợt dao động tương đối lớn,
càng về hạ lưu nồng độ càng giảm. Nồng độ Oxy hòa tan trong nước sông ở khu vực
thượng lưu (từ cầu Bến Súc đến cầu Phú Cường) nhìn chung là chưa đạt được giá trị
quy định trong tiêu chuẩn (6mg/l) và thường thay đổi trong khoảng từ 2,5 – 4,3 mg/l. Ở
khu trung lưu và hạ lưu sông, nồng độ Oxy hòa tan thay đổi rất mạnh. Tuy nhiên có một
số vị trí cần lưu ý quan tâm vì nồng độ DO tại những nơi này luôn ở mức thấp như cầu
An Lộc, cầu Tân Thuận, cầu chữ Y, cầu Bình Điền. Đây cũng đồng thời là các vị trí bị ô
nhiễm hữu cơ nặng nhất trên sông Sài Gòn, như đã phân tích ở trên.
Theo kết quả quan trắc liên tục nồng độ DO trên sông Sài Gòn từ Thủ Dầu Một đến
ngã ba Đèn Đỏ, hàm lượng Oxy hòa tan trong nước giảm dần từ thượng lưu xuống hạ
lưu. Nhưng ở thượng lưu, nồng độ DO cũng chỉ đạt khoảng 4,7 mg/l, chưa đáp ứng
được tiêu chuẩn quy định và chỉ vừa đủ mức duy trì đời sống thủy sinh, thể hiện sự ô
nhiễm hữu cơ rõ rệt nhưng chưa nghiêm trọng. Đặc biệt đoạn từ cầu Bình Triệu đến cầu
Tân Thuận, nồng độ DO suy giảm rất nhanh và kết quả đo đều ở mức 1mg/l, đe dọa
nghiêm trọng đến các động thực vật nước. Đây được coi là vùng phân hủy tích cực của
sông Sài Gòn. So sánh trên toàn bộ sông thì mức DO ≤ 1mg/l chiếm khoảng 20 % tổng
chiều dài sông.
Diễn biến về mức độ ô nhiễm hữu cơ từ thượng lưu xuống hạ lưu sông Sài Gòn tăng
dần lên còn được quan sát thấy bởi sự thay đổi của thế oxy hóa khử (ORP) theo dọc
chiều dài sông. Viện Hóa học đã tiến hành đo thế oxy hóa khử liên tục trong nước sông
Sài Gòn vào ngày 12-14/09/2007 trên đoạn từ Thủ Dầu Một tới ngã ba Đèn Đỏ và kết
quả cho thấy thế oxy hóa khử giảm dần từ thượng lưu xuống hạ lưu, cũng có nghĩa là
càng xuống tới hạ lưu, nồng độ của các chất dạng khử càng chiếm ưu thế so với các chất
dạng oxy hóa, càng thúc đẩy sự phân rã của các chất từ dạng có thể oxy hóa khử thấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status