HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM CẤP ĐỘ TỔ CHỨC SỐNG QUẦN THỂ TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC - Pdf 12

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Dương Tiến Sỹ, người thầy
kính yêu đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy tại lớp Cao học LL&PP Dạy
học khóa 21, những người đã dạy dỗ và chỉ bảo cho tôi rất nhiều trong suốt thời
gian học tập vừa qua.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo - Khoa học và các
thầy cô trong Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và giáo viên, học sinh trường
THPT Lê Chân, trường THPT Đông Triều, trường THPT Hoàng Quốc Việt, THPT
Hoàng Hoa Thám (Quảng Ninh) đã cộng tác và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
luôn khích lệ, động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Hằng
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKN Bản đồ khái niệm
CĐTCS Cấp độ tổ chức sống
CNTT Công nghệ thông tin
CTHT Cấu trúc hệ thống
ĐC Đối chứng
DH Dạy học
DHKN Dạy học khái niệm
GV Giáo viên
HS Học sinh
KN Khái niệm
KT Kiểm tra

Hình 2.9: Tự tỉa thưa ở quần thể bạch đàn (bên trái), 43
quần thể keo lá chàm (bên phải) 43
Hình 2.10: Sơ đồ cơ chế điều chỉnh số lượng các cá thể trong quần thể 44
Hình 2.11:. Quy trình xây dựng một BĐKN bằng phần mềm CmapTools 50
Hình 2.12: BĐKN tổng quát về sinh giới 52
Hình 2.13: BĐ tổng quát về các KN sinh học quần thể . 52
Hình 2.14: BĐKN về hình thái của quần thể 53
Hình 2.15: BĐKN về cấu trúc của quần thể 54
Hình 2.16: BĐKN về chuyển hóa vật chất và năng lượng của quần thể 55
Hình 2.17: BĐKN về sinh trưởng và phát triển của quần thể 56
Hình 2.18: BĐKN về sinh sản của quần thể 57
Hình 2.19: BĐKN về tự điều chỉnh (cảm ứng) của quần thể 58
Hình 2.20: BĐKN về tiến hóa, thích nghi của quần thể 59
Hình 2.21: BĐKN khuyết KN về chuyển hóa vật chất và năng lượng của
quần thể 60
Hình 2.22: BĐKN khuyết từ nối về sinh trưởng và phát triển của quần thể 61
Hình 2.23: BĐKN khuyết hỗn hợp về tự điều chỉnh (cảm ứng) của quần thể
61
Hình 2.24: BĐKN câm về tỉ lệ giới tính của quần thể 62
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN 67
Hình 3.2. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài KT trong TN 68
Hình 3.3. Biểu đồ tần suất điểm các bài KT sau TN 70
Hình 3.4. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm của các bài kiểm tra sau TN 71
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
1. Lý do chọn đề tài 1
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 4

Chương 2 25
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM CẤP ĐỘ TỔ CHỨC SỐNG
QUẦN THỂ TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12 THPT 25
v
2.1. Sự hình thành và phát triển khái niệm CĐTCS quần thể, Sinh học 12
THPT 25
2.2. Cấu trúc hóa nội dung sinh thái học quần thể thành nội dung sinh học
quần thể 26
2.2.1. Hình thái 26
2.2.2. Cấu trúc 29
2.2.3. Chuyển hóa vật chất và năng lượng 37
2.2.4. Sinh trưởng và phát triển của quần thể 38
2.2.5. Sinh sản của quần thể 39
2.2.6. Tự điều chỉnh (cảm ứng) 41
2.2.7. Tiến hóa, thích nghi 45
2.4. Xây dựng hệ thống BĐKN CĐTCS quần thể với sự hỗ trợ của phần mềm
IHMC Cmap Tools 49
2.4.1. Quy trình xây dựng một BĐKN [16] 49
2.4.2. Xây dựng BĐKN CĐTCS quần thể với sự hỗ trợ của phần mềm Cmap
Tools 51
2.4.2.3. Xây dựng BĐKN chi tiết về các đặc trưng sống của quần thể 53
2.5. Tùy biến hệ thống BĐKN sinh học quần thể để tích cực hóa quá trình
nhận thức cho HS 59
2.5. Quy trình sử dụng BĐKN trong việc hình thành và phát triển KN sinh
học quần thể 62
Tri thức của cá nhân HS về KN sinh học quần thể 63
Tri thức của tập thể về KN sinh học quần thể 63
- Tri thức về KN sinh học quần thể 63
- Đưa KN vào hệ thống 63
2.6.1. Sử dụng BĐKN trong khâu dạy kiến thức mới 63

Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học cần đề cao vai trò của người học,
chống lại thói quen học tập thụ động, bồi dưỡng năng lực tự học giúp cho người học
có khả năng học tập suốt đời.
1.2. Xuất phát từ tầm quan trọng của dạy học khái niệm trong dạy học Sinh
học ở trường phổ thông
Trong dạy học, không chỉ chú ý đến hình thành và phát triển các KN riêng lẻ
mà cần phải quan tâm đến cả một hệ thống KN liên quan với nhau. Chính sự xác lập
các mối quan hệ logic và liên tục trong sự hình thành hệ thống KN là cơ sở của sự
hình thành thế giới quan khoa học.
Đối với bộ môn Sinh học, kiến thức cơ bản nhất là hệ thống các KN, các quy
luật sinh học liên hệ chặt chẽ với nhau được hình thành và phát triển theo một trật
tự logic. Việc phân loại, sắp xếp các KN SH thành hệ thống là rất quan trọng. Với
khối lượng KN rất lớn nếu lĩnh hội không có hệ thống thì học sinh không thể nắm
vững, nhớ lâu và vận dụng được.
1.3. Xuất phát từ quan điểm xây dựng và phát triển chương trình môn Sinh
học ở trường phổ thông hiện nay
Chương trình SH phổ thông 2006 [4] đã nêu rõ các quan điểm xây dựng và
phát triển: Chương trình phải thể hiện được những tri thức cơ bản, hiện đại trong
các lĩnh vực SH, ở các CĐTCS, đồng thời phải lựa chọn những vấn đề thiết yếu
trong SH có giá trị thiết thực cho bản thân HS và cộng đồng, ứng dụng vào đời
sống, sản xuất, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường…Các kiến thức SH trong
1
chương trình THPT đã trình bày theo các CĐTCS từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn: tế
bào/ cơ thể đơn bào → cơ thể đa bào → quần thể/ loài → quần xã/ hệ sinh thái →
sinh thái quyển. Điều đó đã thể hiện quan điểm tiếp cận SHHT.
Đồng thời, trong các cuốn SGK SH THPT các kiến thức trình bày là những
kiến thức sinh học đại cương, chỉ ra những nguyên tắc tổ chức, những quy luật vận
động chung cho giới sinh vật. Quan điểm này được thể hiện theo các ngành nhỏ
trong SH: tế bào học, di truyền học, tiến hóa và sinh thái học, đề cập những quy luật
chung, không phân biệt từng nhóm đối tượng.

DH SH 12 THPT.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học KN CĐTCS quần thể trong SH 12 THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được BĐKN quần thể với sự hỗ trợ của phần mềm IHMC Cmap
Tools và xác định được phương pháp sử dụng nó trong DH sinh học quần thể sẽ góp
phần hình thành và phát triển có hệ thống các KN Sinh học quần thể nhằm nâng cao
chất lượng DH.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về DHKN và BĐKN trong DH.
5.2. Điều tra thực trạng dạy và học KN SH ở trường THPT về các nội dung sau:
- Nhận thức của GV về tiếp cận CTHT trong DHKN các CĐTCS, SH THPT
- Nhận thức của GV sự hình thành và phát triển KN CĐTCS quần thể trong
DH Sinh học Quần thể, SH 12 THPT
- Thực trạng trang bị, sử dụng PTDH và tình hình ứng dụng CNTT trong DH SH
- Điều tra HS về mức độ nắm vững KN SH của HS.
5.3.Cấu trúc hóa nội dung SH ở CĐTCS quần thể theo tiếp cận sinh SHHT,
từ đó phân tích sự hình thành và phát triển của hệ thống KN quần thể trong chương
trình SH 12 THPT.
5.4.Xác định hệ thống nguyên tắc DH các KN Sinh học Quần thể, SH 12
THPT.
3
5.5.Nghiên cứu những tiện ích của phần mềm IHMC Cmap Tools để xác
định qui trình xây dựng hệ thống BĐKN CĐTCS quần thể trong DH Sinh học Quần
thể, SH 12 THPT.
5.6.Xác định phương pháp sử dụng BĐKN quần thể trong DH Sinh học
Quần thể, SH 12 THPT.
5.7.Thiết kế giáo án mẫu đưa vào TN sư phạm có sử dụng BĐKN quần thể
trong một số bài SH 12 ở trường THPT nhằm đánh giá hiệu quả và tính khả thi của
đề tài.

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3
chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn đề tài.
- Chương 2: Hình thành và phát triển KN CĐTCS quần thể trong dạy học
Sinh học 12 THPT.
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
5
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở lí luận của việc hình thành và phát triển khái niệm trong dạy học
sinh học ở trường phổ thông
1.1.1.1. Thế nào là KN
Trong tư duy của con người, các sự vật hiện tượng được phản ánh thông qua
các dấu hiệu cơ bản và không cơ bản, trong đó các dấu hiệu cơ bản khác biệt của
đối tượng được phản ánh trong nhận thức của con người tạo thành dấu hiệu của KN
biểu thị sự vật đó. Bất kỳ một hành động tư duy nào cũng mang đặc trưng tư duy
bằng KN, không có KN không thể tư duy được .
Theo Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (1998): “KN là những tri thức
khái quát về những dấu hiệu bản chất và thuộc tính chung nhất của từng nhóm sự
vật, hiện tượng cùng loại; về những mối liên hệ và tương quan tất yếu giữa các sự
vật, hiện tượng khách quan” [1, tr. 108].
Theo Lê Thanh Thập (2000): “KN là một hình thức của tư duy phản ánh
những thuộc tính , những mối liên hệ bản chất đặc trưng của các sự vật, hiện tượng
trong thế giới khách quan” [17, tr. 31].
Theo Vương Tất Đạt (2007): “KN là hình thức của tư duy, trong đó phản
ánh dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn nhất hay lớp các sự vật đồng
nhất. Trong KN, thứ nhất bản chất của các sự vật được phản ánh, thứ hai sự vật
hay lớp sự vật nổi bật trên cơ sở của các dấu hiệu cơ bản khác biệt” [10, tr. 25].

biến cấu trúc nghiễm sắc thể. Hay KN Quần thể sinh vật có nội hàm là “tập hợp các
cá thể cùng loài, cùng sinh sống trong một khoảng không gian xác định, tại một thời
điểm nhất định và thích nghi với môi trường sống của nó”, ngoại diên của nó là
“quần thể tự phối và quần thể giao phối”.
Nội hàm và ngoại diên của một KN có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, biểu
thị tư tưởng thống nhất phản ánh tập hợp đối tượng có dấu hiệu cơ bản chung.
7
Thông thường trong một KN, nội hàm càng lớn thì ngoại diên càng nhỏ và ngược
lại. Có những KN có ngoại diên rất rộng như “động vật”, “cá”, “số thực”…, có
những KN có ngoại diên hẹp như “Việt Nam” “quần thể rừng cọ ở Phú Thọ”… ,
thậm chí có KN mang nội hàm giả, ngoại diên là rỗng như các KN có nội hàm phản
ánh không đúng đắn hiện thực khách quan như “động cơ vĩnh cửu” “người cá” v.v
[10].
1.1.1.3. Các cách định nghĩa KN [10, tr 28].
Trong hoạt động nhận thức của con người, một KN phải được diễn tả, giải
thích để phát hiện nội hàm và ngoại diên nhờ việc định nghĩa KN.
Định nghĩa KN là thao tác logic mà nhờ đó phát hiện nội hàm, ngoại diên
của KN hoặc xác lập y nghĩa của các thuật ngữ
Định nghĩa một KN là chỉ ra những thuộc tính bản chất của nó, sao cho đủ để
phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác.
Ví dụ: Định nghĩa KN quan hệ hỗ trợ trong quần thể: “Quan hệ hỗ trợ trong
quần thể là mối quan hệ giữa các cá thể trong cùng loài hỗ trợ lẫn nhau trong các
hoạt động sống như lấy thức ăn, chống lại kẻ thù, sinh sản,…đảm bảo cho quần thể
thích nghi tốt hơn với điều kiện của môi trường và khai thác được nhiều nguồn
sống”. Định nghĩa nêu được ba dấu hiệu là:
- Xuất phát: từ mối quan hệ giữa các cá thể trong cùng loài
- Tính chất: hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động sống
- Mục đích: thích nghi với môi trường và tận dụng được nhiều nguồn sống
Định nghĩa KN gồm 2 phần:
- KN được định nghĩa là KN cần phát hiện nội hàm và ngoại diên

b. Các bước tiến hành định nghĩa KN [10, tr 37, 38]
Phép định nghĩa KN là một thao tác logic của tư duy thực hiện 2 nhiệm vụ,
một là định hình được nội hàm KN - tức là vạch ra được phần cơ bản của nội hàm,
hai là loại biệt được ngoại diên - tức là dựa vào phần cơ bản nội hàm đã nêu để tách
các đối tượng cần định nghĩa từ những đối tượng tiếp cận với chúng.
Bước 1: Tìm ra các dấu hiệu chung, dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng
được phản ánh trong KN
9
Bước 2: Xác định nội hàm và ngoại diên của KN thông qua ba câu hỏi:
+ Đối tượng được phản ánh đó cụ thể là những sự vật hiện tượng gì?
+ Bản chất của đối tượng là như thế nào?
+ Dựa vào đâu để phân biệt đối tượng đó với các đối tượng khác?
Bước 3: Mở rộng và thu hẹp KN: Xác định những KN rộng hơn và những
KN hẹp hơn KN cần định nghĩa
Bước 4: Phát biểu định nghĩa KN theo các cách sau đây:
- Định nghĩa thông qua sự xác định “giống” gần nhất và sự khác biệt nhau
về “loài”. Khi chúng ta định nghĩa một KN nào đó, phải đặt nó vào một KN chung
hơn và như thế không cần liệt kê những dấu hiệu nào đó là chung nữa mà chỉ cần
vạch thêm những dấu hiệu riêng của nó. KN “giống” chỉ những dấu hiệu giống
nghau giữa đối tượng được định nghĩa với một loại đối tượng rộng hơn. Những dấu
hiệu riêng của KN “loài” xác định rõ đối tượng được định nghĩa khác trong cùng
giống ở những điểm nào.
Ví dụ: “Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản có sự phối hợp giao tử đực
và cái”. Trong đó. đối tượng được định nghĩa là sinh sản hữu tính; KN giống gần
nhất là hình thức sinh sản; dấu hiệu riêng của KN loài là có sự phối hợp giữa giao
tử đực và cái.
- Định nghĩa thông qua việc vạch rõ nguồn gốc phát sinh của đối tượng
được định nghĩa. Nội dung của định nghĩa là vạch ra nguồn gốc phát sinh của đối
tượng được định nghĩa.
Ví dụ: “Kiểu hình là kết quả tương tác giữa kiểu gen và môi trường”

trẻ . Hoạt động nhận thức của loài người đi trước, nội dung của hoạt động DH được
tiến hành trên cơ sở “ gia công ” một cách sư phạm và có mục đích hệ thống những
tri thức của loài người. Quá trình truyền thụ một cách có tổ chức tri thức cho thế hệ
trẻ được diễn ra trong quá trình dạy, quá trình học của HS thực chất chính là quá
trình nhận thức. Chính vì vậy, phát triển tư duy trong DH luôn phải gắn liền với sự
hình thành và phát triển các KN, trong đó có các KN SH.
11
1.1.1.5. Hình thành và phát triển KN trong DH
a. Hình thành KN trong DH [2, tr. 118]
KN là hình thức đầu tiên của tư duy trừu tượng. Để hình thành KN, tư duy
cần sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái
quát hóa, trong đó so sánh bao giờ cũng gắn liền với các thao tác phân tích, tổng
hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa.
Bằng sự phân tích, ta tách được sự vật, hiện tượng thành những bộ phận khác
nhau, với những thuộc tính khác nhau. Từ những tài liệu phân tích này mà tổng hợp
lại, tư duy vạch rõ đâu là những thuộc tính riêng lẻ (nói lên sự khác nhau giữa các
sự vật) và đâu là thuộc tính chung, giống nhau giữa các sự vật được tập hợp thành
một lớp sự vật.
Trên cơ sở phân tích và tổng hợp, tư duy tiến đến trừu tượng hóa, khái quát
hóa. Bằng trừu tượng hóa, tư duy bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, đó là những
biểu hiện bên ngoài, những cái ngẫu nhiên, thoáng qua, không ổn định để đi vào
bên trong, nắm lấy những thuộc tính chung, bản chất, qui luật của sự vật.
Sau trừu tượng hóa là khái quát hóa, tư duy nắm lấy cái chung, tất yếu, cái bản
chất của sự vật. Nội dung đó trong tư duy được biểu hiện cụ thể bằng ngôn ngữ, có
nghĩa là phải đặt cho nó một tên gọi - đó chính là KN. Như vậy, về hình thức, KN là
một tên gọi, một danh từ, nhưng về nội dung, nó phản ánh bản chất của sự vật.
b. Phát triển KN trong DH
Theo Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành [2, tr. 118], [12.
tr110] đã chỉ ra sự hình thành và phát triển của các KN thường theo xu hướng sau:
- Cụ thể hóa nội dung KN: KN đã được hình thành với các dấu hiệu cơ bản,

ốc, mở rộng và đều là những KN chung nhất, cơ bản nhất. Có thể nói hệ thống KN
và sự hình thành, phát triển các KN đó có vai trò hết sức quan trọng, giống như bộ
xương sống xuyên suốt nội dung chương trình đào tạo cũng như SGK.
Hệ thống sống được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc lệ thuộc, bao gồm các
CĐTCS chính: phân tử → tế bào/ cơ thể đơn bào → cơ thể đa bào → quần thể/ loài
13
→ quần xã/ Hệ sinh thái → Sinh thái quyển. Mỗi hệ lớn gồm những hệ nhỏ, mỗi hệ
nhỏ lại gồm những hệ nhỏ hơn. Giữa các hệ nhỏ với nhau, giữa các hệ nhỏ với hệ
lớn, cũng như giữa các hệ với môi trường đều có các mối quan hệ phức tạp, tạo nên
những đặc trưng sống của mỗi CĐTCS.
Chương trình SH phổ thông hiện hành được xây dựng dựa trên quan điểm
tiếp cận SHHT. Do đó, trong quá trình DH chúng ta phải tổ chức, sắp xếp các kiến
thức để làm nổi bật hệ thống kiến thức HS nắm được từ Sinh học 10 đến Sinh học
12 là KN các CĐTCS với những đặc trưng sống cơ bản của nó như đã trình bày ở
trên. Vì vậy, tiếp cận CTHT chính là phương pháp luận để nghiên cứu quá trình
hình thành và phát triển KN về các CĐTCS của hệ thống sống trong quá trình DH.
Như vậy, những CĐTCS phải là hệ thống mở, tự điều chỉnh và tiến hoá.
Theo lát cắt ngang, sau khi xác định được đặc trưng hình thái, ta phải tìm ra các
yếu tố cấu trúc của hệ thống sống đó và phân tích mối quan hệ qua lại giữa chúng,
từ đó làm nổi bật tính trồi (Emergence) của hệ thống, đó là các đặc trưng sống :
chuyển hóa vật chất & năng lượng, sinh trưởng & phát triển, sinh sản, tự điều
chỉnh/ cảm ứng, tiến hóa, thích nghi [14].
1.1.3. BĐKN
1.1.3.1. KN về BDKN [5, tr. 18- 20]
BĐKN (concept maps) là những công cụ đồ thị để sắp xếp và trình bày kiến
thức. Chúng bao gồm các KN và mối quan hệ giữa các KN được thể hiện dưới dạng
đường nối giữa hai KN. Các từ trên đường nối là các từ nối hay các cụm từ nối, chỉ
rõ mối quan hệ giữa hai KN tạo ra các mệnh đề.
Một BĐKN bao gồm hai thành phần chính:
+ Các KN trong bản đồ được đặt trong các khung với hình dạng bất kỳ (hình

- Đánh giá HS: thông qua việc so sánh các BĐKN HS thiết lập được, GV sẽ
đánh giá được mức độ sáng tạo của HS.
15
1.2. Cơ sở thực tiễn
Nhằm tạo cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng
DH SH ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh trong
năm học 2012- 2013: THPT Lê Chân, THPT Đông Triều, THPT Hoàng Quốc Việt,
THPT Hoàng hoa Thám, THPT Nguyễn Bình và THPT Trần Nhân Tông.
- Mục tiêu khảo sát:
+ Thực trạng dạy KN SH các CĐTCS nói chung và CĐTCS quần thể nói
riêng trong chương trình SH THPT theo quan điểm tiếp cận CTHT.
+ Thực trạng học KN SH các CĐTCS nói chung và CĐTCS quần thể nói
riêng trong chương trình SH THPT theo quan điểm tiếp cận CTHT.
+ Tình hình sử dụng đồ dùng trực quan và ứng dụng CNTT trong DHKN SH
ở trường THPT
- Đối tượng khảo sát: 34 GV hiện đang trực tiếp giảng dạy môn Sinh học ở
cả 6 trường THPT tại huyện Đông Triều, Quảng Ninh và 4 lớp HS (tổng số 186 HS)
đang học lớp 12 ở 2 trường trên địa bàn huyện (THPT Lê Chân, THPT Đông
Triều).
- Phương pháp tiến hành: Phỏng vấn và phát phiếu điều tra trực tiếp, dự giờ.
1.2.1. Kết quả điều tra GV
Trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu, quan điểm xây dựng chương trình, cấu trúc
nội dung chương trình SH, định hướng đổi mới phương pháp dạy học và cơ sở lí
luận của việc hình thành, phát triển KN trong DH SH, chúng tôi đã thiết kế phiếu
điều tra (xem phụ lục số 1) kết hợp với trực tiếp dự giờ, trao đổi ý kiến với GV
nhằm điều tra về các vấn đề sau và kết quả điều tra thu được:
1.2.1.1. Nhận thức của GV về tiếp cận CTHT trong DHKN các CĐTCS, SH THPT
Qua các số liệu ở bảng 1.1 (phụ lục số 1), chúng tôi nhận thấy đa số các GV
đều nhận thức được tầm quan trọng của việc quán triệt tiếp cận CTHT trong DHKN
về các CĐTCS. Tỉ lệ GV xác định tiếp cận CTHT là phương pháp luận trong nghiên

rằng việc phân tích các dấu hiệu bản chất của hệ thống sống để định hướng cho sự
17
hình thành KN về CĐTCS quần thể là không cần thiết, chỉ có 15% GV khẳng định
là rất cần thiết và 15% GV cho là cần thiết. Qua trao đổi với các GV dạy thực
nghiệm, chúng tôi nhận thấy, trong giảng dạy họ thường không để ý đến việc phải
xác định các dấu hiệu bản chất của hệ thống sống để định hướng cho việc định
nghĩa KN CĐTCS quần thể, điều đó làm hạn chế việc xác định đầy đủ các dấu hiệu
bản chất của KN CĐTCS quần thể. Còn đối với các GV dạy chương trình hiện hành
(đối chứng), hầu như không GV nào để ý đến mối quan hệ giữa KN hệ thống sống
với KN CĐTCS quần thể. Vì vậy, họ sẽ cảm thấy khó khăn khi phân tích các dấu
hiệu bản chất của CĐTCS quần thể.
Một nhiệm vụ quan trọng của quá trình DH là phải hình thành và phát triển
KN khoa học một cách chính xác. Sự phát triển của phần lớn các KN được quy định
bởi nội dung chương trình, bởi tính logic trong kết cấu các chương mục, nhưng GV
phải biết chủ động nghiên cứu phát hiện tính logic ấy, biết phân tích yêu cầu cụ thể
của việc nắm vững KN đó ở từng phần, từng chương, từng bài. Tuy nhiên, có đến
73% GV cho rằng sự phát triển KN CĐTCS quần thể trong chương trình SH THPT
là không cần thiết, chứng tỏ đa số GV không quan tâm đến việc phát triển KN này
trong chương trình. Điều đó cũng phù hợp với nhận thức của 74% GV cho là không
cần thiết phải phân tích nội hàm và ngoại diên của KN CĐTCS quần thể. Mà không
nắm vững nội hàm của KN thì sẽ không thấy được những dấu hiệu bản chất nào của
KN được năng cao, đào sâu, dấu hiệu bản chất nào được bổ sung trong các phần,
chương, bài trong chương trình. Từ đó dẫn đến, có tới 70% GV cho rằng việc phân
tích sự phát triển của KN CĐTCS quần thể qua từng bài, chương, phần của chương
trình là không cần thiết. Chỉ có 18% GV khẳng định là cần thiết và 12% GV cho là
rất cần thiết. Qua đó cho thấy, đa số GV chưa nhận thức được tầm quan trọng của
việc nắm vững các bước phát triển của KN qua các chương, bài và như vậy sẽ
không đảm bảo cho KN được phát triển một cách liên tục, dẫn đến việc cung cấp
cho HS những kiến thức về KN CĐTCS quần thể sẽ thiếu hệ thống và không đầy
đủ, không làm sáng tỏ được các dấu hiệu bản chất của hệ sống thể hiện ở các đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status