HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
: TẾ NGOẠI THƯƠNG
MH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HAM
9ặi
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
CỐT
NGHỈÊP
in
VÀ KHÁ
Hầm
THÂM NHẠ
c DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
SmÃ
viên thực hiện ị
Nguyễn
Thị
Vân
Lớp ị Nhật Ì
Khóa
ĩ 41B - KTNT
Giáo viền hướng
đẫn : TS.
Nguyễn
Hoàng
Ánh
HÀ
KINH
DOANH
NHẬT BẢN VÀ
KHẢ
NÂNG THÂM
NHẬP
VÀO THỊ
TRƯỜNG NÀY
CỦA
CÁC
DOANH
NGHIỆP
VIỆT
NAM.
Sinh viên thực hiện
:
Nguyền
Thị
Lớp : Nhật Ì '—Jú2£
Ị
Khoa
ĩ
41B
-
KTNT
Giáo viên hướng
dẩn
:
TS.
Nguyễn
TRƯỜNG
CỦA DOANH
NGHIỆP
3
ì.
Tổng quan về
văn hoa
kinh
doanh
3
Ì.
Khái
niệm
về văn hoa
3
2. Giới
thiệu
về
kinh
doanh
5
3. Giới
thiệu
về văn hoa
kinh
doanh
ì
3.1.
Khái
niệm
thúc đẩy sản
xuất
kinh
doanh
phát
triển
11
4.2.
Văn
hoa
tác
động
tới
tư duy,
tình
cảm,
giao
tiếp
trong kinh
doanh
13
li.
Ảnh
hưởng của
văn hoa
kinh
doanh tói
khá
năng thám
nhập
Ì
.4.
Bao
bì
của
sản
phẩm
18
2.
Văn
hoa
kinh
doanh
ảnh hưởng
tới
giá cả
của sản
phẩm
19
2.1.
Mức
giá
của sản
phẩm
19
2.2.
ỗnh hường
của
định
vị sản
cáo
21
4.2.
Hoạt
động xúc
tiến
thương
mại, hội chợ
triển
lãm
22
CHƯƠNG
li:
VÃN
HOA
KINH
DOANH
NHẬT
BẢN
VÀ
ẢNH
HƯỞNG
CỦA
NÓ
ĐẾN
KHẢ
NÂNG
THẢM NHẬP
THỊ
TRƯỜNG
Nhật
Bản
24
Ì .2.
Vài nét về xã
hội
Nhật
Bản
25
Ì
.3.
Một
số nét
đặc trưng
trong
văn hoa
Nhật
Bản
27
2.
Những nét đặc trưng
trong
văn hoa
kinh
doanh Nhật
Bán
29
2. Ì.
Chú
trọng hiệu
Chế độ làm
việc
suốt
đời
33
2.6.
Tư tưởng
Kaizen
và
5S
34
li.
Tình hình
xuất
khợu
của
Việt
Nam
sang
thị
trường
Nhặt
Bản
những
năm
gần đây
36
Ì.
Kim
ngạch
2.5.
Các mặt hàng khác
43
in.
Ánh hưởng của văn hoa
kinh
doanh Nhật
Bản
tới
khả năng thâm
nhập
vào
thị
trường này của
doanh
nghiệp
Việt
Nam 45
1.
Ánh hưởng
tới
chiến
lược về
sản
phợm
45
1.1.
Chủng
loại
hàng hoa
sản
phẩm
50
2.2.
Ảnh hưởng
của
định
vị sản
phẩm
52
3.
Ánh
hưởng
tới
kênh phân
phối
52
3.1. Giới
thiệu
về hệ
thống
phân
phối
Nhật
Bản
53
3.2.
Tinh
hình kênh phân
phối
Hình
thức
quảng
cáo
58
4.2. Hoạt
động xúc
tiến
thương
mại, hội
chợ
triặn
lãm
60
CHƯƠNG
IU:
GIẢI PHÁP
ĐỂ
PHÁT
HUY
VAI
TRÒ
VẪN HOA
KINH
DOANH
NHẬT BẢN NHẰM
NÂNG
CAO KHÁ
NĂNG THÂM
NHẬP
2.
Những mặt còn
tồn
tại
65
n.
Triặn
vọng
về
quan
hệ
Việt
Nam
-
Nhật
Bản
trong
nhũng
năm
tới
66
1. Triặn
vọng
phát
triặn
quan
hệ
kinh tế
thương mại
song
hoa
kinh
doanh Nhật
Bản
nhằm nâng cao khả
nang
thâm
nhập
thị
trường
này
của
doanh
nghiệp
Việt
Nam 71
Ì.
Nhóm
giải
pháp
đối với
Nhà
nước
71
2.
Nhóm
giải
pháp
đối với
doanh
Trong
giai
đoạn
hiện
nay,
khi
các nền
kinh
tế
khác
nhau
đang ngày
một
xích
lại
gần
nhau
hơn, bên
cạnh những
thành tựu của hợp tác phát
triển
cùng
tiến
bộ, thì
những
bất cập
cũng
ngày càng
diễn biến
phức tạp
Do vậy hơn
lúc nào
hết
vàn đề văn hoa
kinh
doanh
lại
được quan
tâm
nhiều
như
hiện
nay.
Nhật
Bán là một
cường quốc
kinh tế,
có
lịch
sư hơn 30 năm về
quan
hệ
ngoại giao, kinh
tế
với Việt
Nam.
Trong
hơn 30 năm qua,
Nhật
Bản đã thể
vấp
phải rất nhiều
khó khăn, thường là
những
khó khàn do không am
hiếu
kĩ càng về vãn hoa
kinh
doanh
của thị
nường
này. Do
vậy, những
nghiên cứu về văn hoa
kinh
doanh Nhật
Bản
trớ
nôn can
thiết
và
quan
trọng
cho các
doanh
nghiệp
Việt
Nam. Cũng từ lí do
này, tác
giả
gồm có ba
chương:
Chương Ì:
Tổng quan
về văn hoa
kinh
doanh
và ảnh
hướng
của vãn hóa
kinh
doanh
đến khả năng thâm
nhập thị
trường của
doanh
nghiệp.
Chương 2 : Văn hoa
kinh
doanh Nhật
Bán và khả nâng thám
nhập
vào
thị
trường này của các
doanh
nghiệp
Việt
Nam.
Ì
lời
nhận
xét, góp ý từ phía thầy cô và bạn bè đự có thêm cơ hội hoàn thiện
những
nhận
thức
về vấn đự này.
Cuối cùng tác giả xin được cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ Thư
viện
quốc
gia
Việt
Nam, Thư
viện
trường đại học Ngoại Thương,
Viện
nghiên cứu Nhật
Bản,
Viện
kinh tế thế
giới
đặc biệt vô cùng cám ơn sự chì bảo tận tình của
giáo viên hướng dẫn là TS. Nguyễn Hoàng Ánh đã giúp đỡ tác giả
trong
quá
trình hoàn thành
khoa
luận tốt
nghiệp
này.
hoa.
Tiến
trình
lịch
sứ cho
thấy,
ngay
từ
thuở
sơ
khai,
văn hoa
đã
là nền
tảng,
là động
lực
của quá trình phát
triển
của toàn
thế cộng
đồng nói
chung
và
từng
cá thê thành viên của
cộng
đồng nói riêng. Thế nhưng mãi đến nửa sau
thế
kỉ
hội
của văn
hoa",
đã
có
khoảng
250 định
nghĩa
về
văn
hoa.
Năm
1952, hai
nhà
nhân học
Mỹ,
Altìed
Kroeber
và
Clyde
Kluckhon
đã công bố một
cuốn
biên
soạn
về
những
ý
đồ
định
cách sứ
dụng
tương đối
rộng
rãi của từ này.
Để
tiện
cho quá trình nghiên cứu
chúng la hãy
xem
xét khái
niệm
này trên
hai quan
điểm,
đó
là văn hoa
trong
cách nhìn
nhận
cùa các học
giả
nước
ngoài
và
văn hoa
theo
cách nhìn
nhận
của
đạo
đức,
luật
lệ,
phong
tục
và
tất
rá
nhũn
ạ
thói
quen
mà
con
người
đạt
được
với tư
cách
là
thành
viên
của một
xà
hội".
Trong
định
nghĩa
này,
năm 70, 80 của thế ki XX, nhiều
cuộc
họp bàn vé văn hoa
dưới
sự chủ trì của Liên hợp
quốc
đã
được
tổ
chức,
qua đó
nhiêu
định
nghĩa
vé văn hoa đã
được
đẻ xuất, và có
những
đinh
nghĩa
đã
được
thừa
nhận
rộng rãi,
được
coi như sự thể hiản về văn hoa Liên hợp
quốc,
cũng
có
dời sống tinh thần của con người". (Đại bách
khoa
toàn thư Liên Xô).
Về
văn hoa, các nhà nghiên cứu
Viảt
Nam
cũng
đưa ra
những
quan
điểm
riêng. Nhà nghiên cứu
Phạm
Toàn cho
rằng
"Văn hoa bắt đẩu bằng việc
lạo ru các iiiá trị vật chất". Một nền văn hoa bao giờ
cũng
bắt đầu
bằng
những
t
hành lựu vật
chất,
thế rồi để duy trì các giá trị vật
chất
con
người
tìm cách
và tinh thần của con
4
người
và xã
hội,
là vãn hoa. Con
người
sáng tạo ra vãn hoa, và
cũng
như vậy
văn hoa
lại
tái tạo bán thân con
người.
Theo
cách
hiểu
phổ thông, thưởng thì "văn hoa" được
hiểu
phần
nhiều
lại
thiên về các giá
trị
tinh
thần, kiến thức,
trình độ chúng ta hay bắt gặp các
cụm từ
trong
đời
nó
dường như bao
giờ cũng
"tuột
khỏi"
chúng
ta.
Dù
sao sự phát
H iên cua nó
cũng
gắn
chặt
với
sự phát
triển
của các
khoa
học về con
người.
Qua
những
ví
dụ
điển
hình trên chúng ta
thấy
được
rằng
có
được hình
thành
trong
cuộc sống
xã
hội
và được đúc
kết
truyền
từ
đời
này
sang
đời khác,
trong
văn hoa
có
nhiều
khía
cạnh,
lĩnh
vực
và
giữa
chúng
có
những
mối liên
hệ
chặt
của bất kỳ mội xã
hội nào.
Hệ thống này bao gồm
mọi ván
đề, từ
cách nghĩ,
nói, làm,
thói quen,
ngôn
ngữ,
sản phẩm,
vật
chất
và
nlĩữììg tình
cảm, quan điếm chung của các
thành viên
đó".
2. Giới
thiệu
về kinh
doanh.
Kinh
doanh
là một
hoạt
động
cơ
bản của
xã
tài
mà
tô
chức các
hoởt
động để
kiếm
lời
như buôn
bán,
mở nhà
máy".
Định
nghĩa
này
rõ
ràng
là
còn
thiếu,
và
chưa nêu được bản
chất
của
5
hoạt
động
kinh
doanh.
Từ
2005
là:
" Kinh doanh
là
việc thực hiện
một,
một số hoặc
tất
cả các công đoạn
cùa quá
trình
đẩu
tư từ sản
xuất
đến
tiêu
thụ
sản phẩm hoặc cung ứng
dịch
vụ
trẽn
thị
trường
nhm mục đích
sinh
lợi".
Nhiều
nhà nghiên cứu
đã
lấy định
khoa
học kĩ
thuật
và
công
nghệ
phát
triển,
tạo ra sự
thoa
mãn ngày càng cao nhu cầu của
xã
hội
loài
người
trên
tất
cả mọi
lĩnh
vực.
Kinh
doanh
có một vài đặc
điếm
quan
trọng
cần chú ý.
Đó
là:
Các yếu
người
tiêu
dùng (cá nhân hay
tập
thế),
các nhà
kinh
doanh
khác.
Đối tượng
kinh
doanh
thì tuy
thuộc
vào các
lĩnh
vực
kinh
doanh,
hình
thức kinh
doanh mà
có
thể là khác nhau.Ví dọ như
kinh
doanh
thương mại
(bao
gồm
buôn bán,
sản
xuất,
dịch
vọ Trong
số các
loại
hình trên, có thể
nói
kinh
doanh
thương mại là phổ
biến nhất.
Mọc đích chính của
hoạt
động
kinh
doanh
là đạt
được,
đem
lại
lợi
nhuận
cho
chủ thế
kinh
doanh.
Tuy nhiên
trong
một vài
động
kinh
doanh.
6
Bán
chất
của
quan
hệ kinh
doanh
được thể hiện
trong
mối
quan
hệ
trao
đổi,
ràng
buộc
lẫn
nhau
giữa chủ thế và khách thế. Người kinh
doanh
phải căn
cứ vào nhu cầu, thị hiếu, sở thích của các khách hàng mục tiêu mà anh ta
nhớm
vào để
cung
cấp cho họ một lượng hàng hoa,
dịch
thuận
"thuận
mua vừa bán" vừa đám bảo tính công
bằng
trong
kinh
doanh
vừa là đạt
nên móng cho mối
quan
hệ làm ăn lâu dài.
3. Giới
thiệu
về văn hoa
kinh
doanh.
3.1. Khái niệm văn hoa kinh doanh.
Rõ ràng qua
những
nghiên cứu về 'văn hoa' như đã trình bày ờ trên,
chúng ta thấy được văn hoa là một
phạm
trù rộng lớn, nó bao trùm và ảnh
hướng, chi phối hầu hết các lĩnh vực
trong
đời
sống
xã hội Và
cũng
không
như thế nào mới được các nhà
nghiên cứu xem xét đến. Sau sự thành công rực rỡ của các
doanh
nghiệp
Nhạt
Bán trên
khớp
thế
giới,
các nhà nghiên cứu phương Tây đã bớt đầu chú ý tìm
hiểu
nguyên nhàn ẩn
chứa
trong
đó. Và họ tìm thấy
những
dấu ấn rất riêng, rất
đặc trưng có
trong
kinh
doanh
của
người
Nhật Bản. Và từ đó, chúng ta có thế
hiểu
ý
nghĩa
bao hàm cùa các
thuật
ngữ "văn hoa kinh
doanh.
Có
hai
nhóm
quan
điểm
về vấn đề này. Nhóm
thứ
nhất
coi
chủ
thể
của văn hoa
kinh
doanh
chính là các
doanh
nghiệp,
do vậy văn hoa
kinh
doanh
chính là văn hoa
doanh
nghiệp.
Nhóm thứ
hai coi
kinh
doanh
là
hoạt
Nam, văn hoa
kinh
doanh cũng
là
đề
tài gây
nhiều
tranh
cãi
cho
các nhà nghiên cứu
trong
vài năm
trở
lại
đây.
Theo
GS.Phạm
Xuân
Nam,
trong
hội
tháo khu vực Châu
Á
- Thái Bình Dương về chủ đề
Văn hoa và kinh
doanh,
tả
chức
năm 1996:
tạo
ra những hàng hoa và
dịch
vụ có
chất
lượng
tốt,
ụùnh
thức
đẹp,
ÍỊÌCÍ
cà hợp
lý,
đáp ứng được nhu cáu của
thị
trưởng,
giữ
được chữ
tin
với
người
tiêu
dùng
trong
nước và
ngoài nước".
TS
Đỗ
Minh
Cương
tạo
ra
trong
quá
trình kinh
doanh
hình
thành nên những
kiểu kinh
doanh ổn
định
và đặc
thù
của hộ".
Đa
phần
các nhà nghiên cứu và các học
giả
Việt
Nam
thừa
nhận
văn hoa
kinh
doanh
là
hoạt
động có liên
quan
đến mọi thành viên
vãn hoa
kinh
doanh.
Trong
bài
khoa
luận
này chúng ta
cũng
cùng cách
hiếu
như trên, coi
văn
hoa
doanh
nghiệp
là
một
phần
trong
văn
hoa
kinh
8
doanh.
Một cách cô đọng
nhất
có thể hiểu văn hoa kinh
doanh
là nền tảng tinh
được hay không. Và mặc dù mỗi dân tộc có
nền văn hoa kinh
doanh
riêng của mình nhưng tất cả được hình thành trên nền
tảng
chung
là vãn hoa dân tộc và chịu ảnh hường lớn của vãn hoa dân tộc. Vì
vậy bên
cạnh
những
đặc điểm
chung
của văn hoa, văn hoa kinh
doanh
còn có
những
đặc điểm riêng.
• Vãn hoa kinh
doanh
xuất hiện cùng với sự xuất hiện của hàng hoa và
thị trường. Tớc là chí khi có sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hoa và phát
triển
đến một mớc độ
nhất
định, yếu tố văn hoa kinh
doanh
mới
thực
sự đi vào
đời
doanh
lại thường hay gắn
liền
với trình
độ phái
triển
kinh tế
nhất
định, và
cũng
thường hay bị chi phối bởi trình độ
phát
triển
kinh tế, nhưng
cũng
không hẳn vì thế mà cho rằng văn hoa kinh
doanh
cùa một
quốc
gia là không có
những
nét
tiến
bộ nếu kinh tế của
quốc
gia đó còn lạc hậu. Nên
trong
xu thế toàn cầu hoa hiện nay, việc
chấp
nhận
luôn là đầu mối
trung
tâm tập hợp mọi
quan
hệ và có vai trò, vị trí
quyết định. Văn hoa
doanh
nghiệp
là nơi tập hợp đội ngũ
doanh
nhân, nơi có
thế tích hợp và phát huy
những
giá trị tốt đẹp vốn có
trong
nền văn hoa truyền
thống
của dân tộc kết hợp với thành tựu văn hoa thế
giới,
góp
phần
hình thành
nên nền văn hoa của mỗi
quốc
gia dân tộc. Văn hoa
doanh
nghiệp
tập
chung
và toa sáng
thống
tốt đẹp, qua
phong
cách
giao
tiếp ứng xử
thống
nhất
của toàn đơn vị (đối với nội bộ, đối
với
khách hàng)
trong
mọi quá trình kinh
doanh.
Bộ
phận
thứ hai
trong
các yếu tố cấu thành nên văn hoa kinh
doanh
là
văn hoa đàm phán. Đây là văn hoa
trong
quá trình
giao
tiếp,
trao
đổi, thuyết
phục
giữa các đối tác kinh
thoa
thuận
chung
thống
nhất
cùng
mang
lại lợi ích cho cà hai đòi hỏi các bên cần có
những
hiểu biết
nhất
định về văn hoa
trong
giao
tiếp,
văn hoa
trong
ngôn ngữ
giao
tiếp của đối phương.
Yếu
tố thứ ba cấu thành nên văn hoa kinh
doanh
là văn hoa trong
marketing. đó là văn hóa
trong
các lĩnh vực sẩn xuất, phán phối và xúc
tiến
thương mại của
doanh
nghiệp
phù hợp với lợi ích của mình và phù hợp với thị trường mục tiêu.
Thứ lư là văn hoa tiên dùng. Văn hoa tiêu dùng được hiếu là
những
tập
quán, thị hiếu,
quan
điếm của
người
tiêu dùng khi lựa chọn đánh giá để đi đến
10
quyết
định
mua
hàng. Quan
điểm
của các nhà
doanh
nghiệp
luôn là : "khách
hàng là thượng đế",
doanh
nghiệp
nào
có
cách thâm
nhập thị
trường phù hợp
với
văn hoa tiêu dùng của
phi vật
chất,
luôn
phụ
thuộc
vào
lĩnh
vực
kinh tế, kinh
tế phát
triển
mới
có
điều
kiện
để
phát
triển
kinh tế.
Và
theo
quan
niệm
của
nhiều
người
thì
dù
văn hoa, hay vãn hoa
kinh
cần
phải
nhận
ra
vai
trò to lớn của
vãn hoa
trong việc
thúc đắy sản
xuất kinh
doanh
phát
triển.
Động lực
cho sản
xuất kinh
doanh
phát
triển
chính là
những
yếu
tố
gắn
liền
với
lợi
ích của chính
bàn thân
doanh
lao
động
đối với
công
việc
mình đang làm.
Có vẻ ta sẽ khó
có
được một sự liên hệ
trực diện giữa
văn hoa
và
các yêu tố
kể
trên nhưng
thực
tế
cho
thấy
văn hoa chính là một nhân tố
quan
trọng
hàng
đầu
trong việc
gia
tăng
lợi
nhuận
trong
Gia
tăng
lợi
nhuận sản
xuất kinh
doanh.
Trước
hết
là
tác động của văn hoa
trong việc
gia tăng
lợi
nhuận
cùa
doanh
nghiệp.
Lượng
lợi
nhuận
tăng đồng
nghĩa với
việc khối
lượng hàng hoa
của
doanh
nghiệp
đó
ra
thị
phải
ngẫu
nhiên một sản
li
phẩm được
người
tiêu dùng
tin
tưởng nếu họ không cảm nhận được các giá
trị
thiết
thực
của
nó
một các chính xác
nhất.
Người
tiêu dùng đang
nắm
sự chủ
động
trong việc
sàng
lọc
và
lựa
chọn
thông
tin
về sản phẩm, và cái
hiện trong
quá trình tiêu
thụ
sản phẩm như các
nội
dung
về hình
thức,
mẫu
mã,
hệ
thống
nhà xưẫng, cửa hàng của doanh
nghiệp,
đội ngũ hân viên phục
vụ, chất
lượng
dịch
vụ bán hàng Không
phải
ngẫu nhiên
mà
khách hàng trên
khấp
thế
giẫi
đến vẫi
CocaCola
nhiều
hơn các sản phẩm nưẫc uống
hình ảnh
có
hổn. Chẳng
hề
ngần
ngại
nếu nói
rằng
CocaCola
là sản phẩm
mang
trên mình khá
nhiều
những nét
văn hoa riêng
có
độc đáo của doanh
nghiệp
mình. Tại
Việt
Nam,
CocaCola
chiếm
một
thị
phần ổn định
và
tương
đối lẫn.
Doanh
nghiệp
được
đảm
bảo
chắc
chắn
hơn, đầy
đủ
hơn.
Doanh
nghiệp
có
nhiều
điểu
kiện
hơn
trong việc cải
tiến
quy trình sản
xuất
nhờ
vào
việc
huy động nguồn vốn từ quỹ đầu
tư
phát
triển.
Người
lao động
được
xứng
đáng. Điều này
rõ
12
ràng tạo ra yếu tố tâm lý tích cực. Thái độ vô trách nhiệm của nhân viên
trong
công việc do đó
cũng
bị
triệt
tiêu. Nhân viên chỉ
trung
thành và gắn bó lâu dài
khi
họ thấy
hứng
thú được làm việc
trong
một môi trường mà từ cảm
nhần
của
bán thân họ có sự phát
triển,
có cơ hội
khẳng
định bản thân mình và thăng
tiến.
Bán thân
người
lao động ý
trong
cùng
cộng
đổng là
nguồn
lực tạo
ra sức
mạnh
cộng
đồng cao hơn làsự phát
triển
hài hoa, lành
mạnh
của mỗi
quốc
gia. dân tộc.
4.1.3. Nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thây rằng vãn hoa kinh
doanh
là
nguồn
lực tạo nên
phong
thái của
doanh
nghiệp, tạo ra
những
nét khác biệt riêng có của bản thân
doanh
nghiệp.
hoa của
cộng
đồng nơi con
người
đó đang
sinh
sống.
Bản sắc văn hoa đó lại
quyết định tới mọi tư duy, tình cảm cùa con
người
trong
cuộc
sống
thường
nhầt
hằng
ngày, được vần
dụng
vào hoại
dộng
kinh
doanh.
Như thế, các cá
nhân ở
những
nền văn hoa khác
nhau
thì có cách
tiến
hành
tài ba sẽ
không chỉ là con
người
tháo vát, biết làm giàu cho bản thân mình, mà phải là
một con
người
có cái tâm, biết làm giàu cho xã hội.
4.2.2. Tác động tới giao tiếp trong kinh doanh.
Một
ví dụ điển hình
trong
điếm này là
quan
niệm về sự đụng
chạm
cơ
thể,
giữa các nước phương Tây và phương Đông
cũng
có sự khác
nhau.
ở
phương Đông sự đụng
chạm
cơ thể là không được phép, kể cả hôn xã
giao
trong
khi
người
phương Tây khá thoải mái về vấn để này,
cái bốt tay của
người
phương Đông có thể lâu hơn cái bốt tay truyền
thống
của
người
phương
Tây, nốm gần kín cả bàn tay và đôi khi có thể bốt
bằng
cả hai tay.
Con
người
ở bất cứ đâu
cũng
vậy luôn rất cố hữu với
những
gì
thuộc
về
nét truyền thống, bới đơn giản truyền
thống
không thể hình thành ngày một
ngày hai
theo
ý muốn chủ
quan
của họ. Ta không phải băn khoăn rằng tại sao
cùng là đồng ý mà
người
Thổ Nhĩ Kì và
doanh
cần phải biết bốt được
những
tín hiệu thông tin từ
những
nền vãn hoa khác biệt để
có sự xử trí hợp lí đế không làm ảnh hưởng đến quá trình kinh
doanh.
Giáo sư
Phạm
Xuân Nam đã cho rằng "kinh tế bốt rễ được
trong
văn
hóa", kinh
doanh
là mặt động của
hoạt
động kinh tế vì thế
cũng
chẳng
là sai
14
nếu
cho
rằng
kinh
doanh cũng
bắt rễ
được
từ
quan
hệ
biện
chứng
có tính quy
luật,
vừa
thống nhờt
vừa phụ
thuộc
vào
nhau.
Cái hay của
người
làm
kinh
tế
là
nhận
thức
được đúng đắn giá
trị
có được
từ
mối
quan
hệ
biện
chứng
trên đế có
là nghiên cứu
thị
trường để có được phương pháp
tiếp
thị
thật
phù hợp.
Khi
phương pháp
tiếp
thị
đúng đắn thì
chiến
thuật
thâm
nhập
thị
trường
mục
tiêu sẽ dẻ dàng
hơn.
Để thành công
trong
những
bước đầu tiên này
việc
chỉ
liến
hành phân tích tình hình
kinh
kinh
doanh
với
những
người
thuộc
các nền văn hoa khác
nhau.
Mỗi nền
văn hoa khác
đó
lại
mang
trong
mình
những phong
cách
kinh
doanh
khác
nhau,
nền văn hoa
kinh
doanh
khác
nhau.
Người
làm
kinh
doanh
người
thuộc
các nền văn hoa
khác,
và
hiểu
là
không
có đúng
sai
đối với
nhữne
người
thuộc
nền văn hoa khác
mà
chỉ có
những
diêm không tương đồng
mà
thôi.
Chính vì
thế
sách lược
của doanh
nghiệp khi
thâm
nhập
vào các
thị
sản
phẩm, giá
cả,
kênh phân
phối,
xúc
tiến
và
hỗ
trợ kinh
doanh.
15
1.
Văn
hoa kinh
doanh
ảnh
hưởng
tới
chiên
lược
về sản
phẩm.
/./.
Chủng loại hàng hoa.
Một
lẽ
đương nhiên
trong
thời
chủng
loại
hàng hoa đa dạng và
nhiều
tính năng
cũng
nhiều
hơn. Tuy
thế,
điều luôn đúng là
tuy
từng
thị
trường khác nhau
mà
những
chủng
loại
hàng hoa khác nhau có mức độ thâm
nhập
tương
ứng.
Chúng
ta
dễ
thấy
một ví
dị
đơn
giản
mãn
người
tiêu dùng không hẳn ở
chất
lượng
tốt
mà
còn phái phù hợp
với
thị
trường cả về
thị
hiếu,
mẫu mã, và cà những yêu cầu
khác.
Cần xét
khi
sản phẩm của doanh
nghiệp
bắt
đầu thâm nhập một thị
trường,
rõ ràng
là
yếu
tố
đẩu tiên tác động
tới
sự
quan
hay
không
thì yếu
tố
họ
sẽ xét
duyệt
đầu tiên là mẩu mã
của
sản
phẩm, do đó
việc
tạo
ra
được mẫu
mã thích hợp
lại
quan
trọng
hơn
cả.
Khả năng cảm
thị
và quan
niệm
về cái
đẹp
trong
hình thái mẫu mã sản phẩm của
người
đạt
hiệu
quả
rất
cao.
Ví dị điển hình
nhất
là
hiện
tượng
của
búp bê
Barbie.
Đây
là
loại
búp bê
rất
thành công ở Mĩ nhưng
lại
thất
bại
tại
thị
trường
Nhật
bản
trong
một
thời
thay
vì màu
xanh
như trước kia. Và
thành quá là búp bê này đã thành công lớn trên thị trường Nhật Bản. Một ví dụ
nữa: sản
phẩm
phơmai "bò đeo nơ" ở
Viặt
Nam, nó là một sản
phẩm
khá được
ưa
chuộng
trong
viặc dùng đồ ăn
nhanh,
hình ảnh chú bò đeo một
chiếc
nơ
nhiều màu sắc và một nụ
cười
tươi trông thật đáng yêu, nhưng nếu sản
phẩm
đó vần giữ nguyên hình dáng, mẫu mã như vậy đế thâm
nhập
vào thị trường
của một nước Hồi giáo thì ra
sao?
Tất yếu điều gì sẽ xảy ra với sản
ngoạn
mục, Không phải
người
tiêu dùng nào
cũng
luôn bảo thủ với
những
sự lựa
chọn của mình, họ
cũng
luôn tìm
kiếm
sự mới lạ, phù hợp với văn hóa của họ,
và phù hợp với sớ thích cá nhân. Nhiều nhà sản xuất cho rằng muốn được
người
tiêu dùng của thị trường
chấp
nhận
thì biặn pháp an toàn
nhất
trước tiên
là có
những
mẫu mã
theo
xu hướng
chung
của thị trường, điều đó không sai.
Nhung
phải thấy rằng nhiều khi biặn pháp an toàn đó làm cho nhà sản xuất trở
tíuósíli
HO
17
LỴ.
iữOá
thích khám phá và
người
Mỹ
hiện
đại
đã đón
nhận
một cách hào
hứng,
mẫu
mã mới đã
mang
đến mức tăng 100%
trong
doanh
thu năm đầu tiên của
Phileas
Fogg.
1.3.
Chất lượng sẩn phẩm.
Song
song
với
sự đa
dạng,
cầu
muốn
không
ngừng
phát
triển
và
tiến
bộ của
doanh
nghiệp,
và để có
thế
mạnh
cạnh
tranh
trên thương trường thì
việc
đỏm bỏo
chất
lượng sỏn phẩm
cũng
được các
doanh
nghiệp coi
như
lẽ
sinh tổn
của
mình
của một sỏn phẩm
khi
thâm
nhập
một
thị
trường mới
nhiều khi
lại
được đánh giá
nhiều
hơn ở các khía
cạnh
khác
trong chiến
lược
về
sỏn phẩm như mẫu mã, bao bì của sỏn phẩm
Đối
với
các sỏn phẩm
thực
hiện
quá trình thâm
nhập
vào một
thị
trường hoàn toàn mới thì đây
lại
càng là
kinh
tế.
Những quy định về bao bì hay được
quan
tâm
ngay
trong
hợp đổng mua bán của các bên như
loại
chất
liệu
làm bao
bì,
số
lớp
bao
bì,
màu
sắc,
kí mã
hiệu ghi
trên bao
bì
Thông thường
hiện
nay,
các
thị
trường khác
nhau cũng
tiêu dùng và sức
khỏe chung
của
cộng
đồng,
giỏm
thiểu
những
tác
hại
của ô
nhiễm
môi trường
do
rác
thỏi.
18
2.
Văn
hoa kinh
doanh
ảnh
hưởng
tói giá cả của sản
phẩm.
2.1.
Mức
giá của sẩn
phẩm.
Trong
thị
trường bao
giờ
cũng
đưa
ra
được mức giá phù hợp
với
thói
quen
chi
tiêu
của họ.
Với
đại
đa sắ
người
tiêu dùng
Việt
Nam, hàng được
quan
tâm
nhiều
hơn
trong
mỗi
lần
mua sắm
của
mình luôn
khi đó,
người
tiêu dùng
Nhật
Bản
lại
cho
rằng
hàng có giá
rẻ
đổng
nghĩa
với
hàng kém
chất
lượng,
mà bỏ
tiền
để
mang
một
hàng hoa kém
chất
lượng,
tuổi
thọ
kém về là một
điều
hết
sức lãng
tiền
của
mình
chi
tiêu một cách
kinh tế
nhất,
người
Nhật
thường
chọn
mua hàng hoa
ở
những
nhãn
hiệu
có tên
tuổi.
Đây là một ví dụ đế cho
thấy rằng
đôi
khi
giá
thấp
chưa
phải
là
tắt,
doanh
nghiệp phải
tranh
song
lại
không bán được hàng mà nếu
đặt
ở mức cao hơn
lại
có
thể
bán
được.
2.2.
Ánh hưởng
của
định
vị sản
phẩm.
Định
vị của sản phẩm trên
thị
trường
cũng
ảnh hưởng khá
nhiều
đến
mức giá mà nhà
sản xuất
ấn định cho
sản
phẩm của
địa mặc dù giá của đôi
giầy ngoại
có
thể đắt
gấp 5 hay
7
lần.
19
Người
tiêu dùng
quan
tâm đến địa vị của sản phẩm
tức
là
khi
ấy đã mua cho
mình sự
tin
tưởng
và một sự bảo đảm về
chất
lượng
và họ sẵn sàng
chấp
nhận
mức giá cao hơn
trong việc
mua sắm này. Đôi
khi
phụn
hào
khi
có được
trong tay sản
phẩm ấy.
3.
Văn hoa
kinh
doanh
ảnh
hưởng
tới
kênh phân
phối.
Ảnh
hưởng
tới
kênh phân
phối
thường là khía
cạnh
địa
điểm
mua hàng
cho
những
mặt hàng khác
nhau,
cách
thức
kế
sách
thiết
lập
kênh phân
phối
sản phẩm hợp
lí.
Thây rõ ràng
rằng
trong khi
người
Việt
Nam
rất
thích mua hàng hoa bán
tại
các chợ ở khu vực dân
cư,
vừa
không
phải
đi
xa,
vừa hợp túi
tiền lại
vừa
tiện lợi
theo
nếp
hỏi
công
việc
nơi công sớ
khiến
cho
những
người
ở
đây,
đặc
biệt
là
những
bà mẹ
ít
thời
gian
hơn cho
việc
mua sắm, do đó
siêu
thị
là
giải
pháp hữu
hiệu
cho
những
lụn
tạp hóa,
hay
chợ
Trong
khi
trái
lại
người
phương Tây thường đi mua sắm vào
cuối tuụn,
có
nhiều
loại
hàng hoa tập
trung
ở một nơi bao
giờ
cũng
là
tiện
hơn
cả,
và hụu
hết
họ đều có ô tô riêng
nên
việc
chuyên
chở khối
lượng