Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
LỜI NÓI ĐẦU.
Việt Nam chính thức ra nhập WTO là một bước ngoặt lớn, một sự kiện
trọng đại đã mang lại nhiều thời cơ cũng không ít thách thức đối với các doanh
nghiệp. Để đứng vững được đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần năng động, phát huy
năng lực của mình hơn nữa. Vậy, để có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng
cường khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập vào hệ thống kinh doanh quốc
tế và khu vực, các doanh nghiệp Việt Nam không có sự lựa chọn nào khác là phải
phát huy mọi khả năng trong sản xuất cũng như trong kinh doanh.
Khi nghành xây dựng bước vào thị trường, chất lượng sản phẩm cũng ngày
càng cần được coi trọng. Những hạng mục công trình xây dựng chất lượng tốt là
mục tiêu mà các đơn vị xây dựng và sử dụng cùng mong muốn. Để có được điều đó
phải chuẩn bị xây dựng các nguồn lực đủ mạnh; Một trong các nguồn lực đó là
nguồn lực con người, nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực của mọi tổ
chức.
Với công ty xây dựng và sản xuất thì lực lượng công nhân kỹ thuật đóng vai
tro to lớn với sự phát triển của doanh nghiệp. Chính nhận thấy tầm quan trọng của
lực lượng công nhân kỹ thuật nên trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần xây
dựng thương mại An Phát.Căn cứ vào công tác đào tạo nguồn nhân lực, căn cứ nhu
cầu nhân lực mà cụ thể là nhu cầu công nhân kỹ thuật của Tổng công ty; căn cứ vào
xu hướng chọn ngành nghề, trình độ đào tạo của xã hội hiện nay em xin được chọn
đề tài thực tập tốt nghiệp là:
“ Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển lực lượng công nhân kỹ
thuật tại công ty Cổ phần xây dựng thương mại An Phát”.
Với việc nghiên cứu những vấn đề thuộc công tác đào tạo nguồn nhân lực
của công ty, em mong sẽ đề xuất được những biện pháp hữu ích góp phần vào công
tác đào tạo công nhân kỹ thuật của công ty nhằm mục tiêu có đủ đội ngũ công nhân
kỹ thuật cần thiết cả về số và chất lượng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
1
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
LƯỢNG CÔNG NHÂN KỸ THUẬT.
1.1. Các khái niệm và vai trò của lực lượng công nhân kỹ thuật trong sự phát
triển của doanh nghiệp.
1.1.1 Đào tạo và phát triển.
Đào tạo và phát triển là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và
thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Các khái niệm giáo dục, đào tạo , phát triển
đều đề cập đến một quá trình tương tự đó là quá trình cho phép con người tiếp thu
các kiến thức mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi, nâng cao khả năng thực
hiện công việc của các cá nhân. Để nghiên cứu ta cần hiểu được cả ba khái niệm đó
- Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước
vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương
lai. Giáo dục bao gồm các hoạt động nhằm cải tiến, nâng cao sự thuần thục khéo léo
của một cá nhân một cách toàn diện theo một hướng nhất định nào đó vượt ra ngoài
công việc hiện hành. Giáo dục mang tính chất chung, cung cấp cho học viên các
kiến thức chung có thể sử dụng vào trong các lĩnh vực khác nhau.
- Đào tạo: được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động dó
thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó là quá trình học
tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt
động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm
vụ lao dộng có hiệu quả hơn.Đào tạo bao gồm các hoạt động nhằm mục tiêu nâng
cao tay nghề hay kỹ năng của một cá nhân đối với công việc hiện hành.Đào tạo liên
quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công
việc cụ thể.
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
3
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
- Phát triển: Là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt
của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những
định hướng tương lai của tổ chức. Phát triển bao gồm các hoạt động nhằm chuẩn bị
thông, không cần phải qua đào tạo.
Từ đây chúng ta có thể hiểu công nhân kỹ thuật như sau:
“ Công nhân kỹ thuật là những người được đào tạo và được cấp bằng( đối
với những người tốt nghiệp các chương trình dạy nghề dài hạn từ 1 đến 3 năm)
hoặc chứng chỉ( đối với những người tốt nghiệp các chương trình dạy nghề ngắn
hạn dưới 1 năm) của bậc giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục để có năng
lực thực hành- thực hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu ”.
(Gt Kinh tế nguồn nhân lực).
* Điều kiện để xác định là công nhân kỹ thuật bao gồm:
- Có văn bằng tốt nghiệp các trường dậy nghề, trung học nghề, trung học
chuyên nghiệp, cao đẳng kỹ thuật, có thời gian đào tạo từ 1-3 năm với hình thức
chính quy, tại chức.
- Công nhân kỹ thuật bậc cao ngoài văn bằng tốt nghiệp đã nói trên, còn
phải có các chứng chỉ, chứng nhận đã qua các lớp bồi dưỡng tay nghề của các
trường hoặc trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp.
1.1.3. Phân loại công nhân kỹ thuật
Tuỳ theo tiêu thức xác định mà chúng ta có các loại công nhân kỹ thuật khác
nhau. Sau đây là một vài cách phân loại công nhân kỹ thuật:
1.1.3.1. Phân loại theo tính chất lao động
Theo tính chất của lao động thông thường người ta chia công nhân kỹ thuật
thành hai loại sau đây:
- Công nhân kỹ thuật là những người thừa hành kỹ thuật ở trong các xí
nghiệp, công trường, nông trường , lâm trường.v.v... ví dụ: lái xe, lái cẩu, thợ tiện,
thợ hàn, thợ phay...
- Nhân viên chuyên môn - kỹ thuật là những người thừa hành kỹ thuật ở
các cơ sở dịch vụ và phục vụ xã hội như: Nhân viên buồng, bàn, ba trong
khách sạn, y tá, dược tá, kỹ thuật viên y, dược trong các bệnh viện .v.v...
1.1.3.2. Phân loại theo ngành nghề
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
5
6
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
+ Lớp cạnh xí nghiệp: đây là loại hình đào tạo đặc thù dùng để đào tạo công
nhân kỹ thuật bậc thấp cho các xí nghiệp. Loại hình này thường đào tạo từ 9-12
tháng.
+ Các trường dạy nghề: đây là loại hình trường mà công nhân kỹ thuật có
tính chất chính quy chuyên nghiệp đào tạo lao động kỹ thuật cho các ngành, lĩnh
vực cụ thể. Loại hình này thường đào tạo từ 12-27 tháng.
+ Trường trung học chuyên nghiệp: là loại hình đào tạo nhân viên chuyên
môn kỹ thuật cho các lĩnh vực, ngành nghề, loại này đào tạo từ 2-3 năm.
+ Trường cao đẳng kỹ thuật: đây là loại hình đào tạo công nhân kỹ thuật cao
cấp cho một số ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật công nghệ cao như: cao đẳng
kỹ thuật công nghệ, kỹ thuật điện tử v.v... thường loại này đào tạo từ 3-3,5 năm.
1.1.3.4. Phân loại theo trình độ
Theo trình độ đào tạo hiện nay, chúng ta cần xác định rõ hai loại sau đây:
+ Phân theo thời gian đào tạo thường có:
- Công nhân kỹ thuật đào tạo từ 1-2 năm
- Công nhân kỹ thuật cao cấp đào tạo từ 2-3 năm
+ Phân theo trình độ lành nghề:
Theo trình độ lành nghề, chúng ta cần phân theo mức độ phức tạp của nghề
nghiệp.Tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của từng nghề nghiệp mà chúng ta có thể
xác định số lượng các bậc thợ khác nhau để phân định và thời gian lưu giữ trung
bình ở các bậc thợ, chứng chỉ, chứng nhận kèm theo cho các bậc thợ. Ví dụ như:
công nhân kỹ thuật may, dệt, chế biến thực phẩm thường có 5 bậc; công nhân kỹ
thuật cơ khí thường có 7 bậc v.v... Chúng ta cần phải xây dựng tiêu chuẩn cấp bậc
kỹ thuật cho mỗi nghề để làm căn cứ cho đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề.
1.1.4. Vai trò của lực lượng công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp.
Trong bất kỳ một doanh nghiệp (DN) xây dựng, sản xuất nào cũng cần có đội
ngũ công nhân kỹ thuật những người lao động trực tiếp làm ra các sản phẩm, những
người đứng máy, đứng theo dây chuyền công nghệ sản xuất.
nghiệp. Tuy nhiên, để phát huy được vai trò các giá trị đó thì doanh nghiệp cần phải
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
8
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
có sự kết hợp nhiều yếu tố trong lĩnh vực quản lý điều hành sản xuất và phân phối
sản phẩm.
* Lực lượng công nhân kỹ thuật là người tạo nên sự hoạt động của DN.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại được thì cần phải có các hoạt động mà
người ta thường gọi là hoạt động sản xuất kinh doanh. Người công nhân là chủ thể
trong quá trình sản xuất, là người tạo nên sự tồn tại của DN thông qua các hoạt
động của mình. Một DN tồn tại khi mà DN đó có sự phản ứng trước sự thay đổi của
thị trường. Điều này phụ thuộc phần nào vào lực lượng công nhân trực tiếp, công
nhân kỹ thuật, lực lượng đông đảo nhất trong các doanh nghiệp.
Từ trên ta thấy công nhân là một phần không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp
là lực lượng quan trọng quyết định sự tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp.
1.2.Đào tạo và phát triển công nhân kỹ thuật.
1.2.1. Vai trò của đào tạo và phát triển công nhân kỹ thuật ngày nay.
1.2.1.1. Đáp úng nhu cầu về công nhân kỹ thuật trình độ ngày càng tăng.
Thời kỳ cơ khí hoá đòi hỏi chủ yếu là kỹ xảo lao động và kinh nghiệm của
họ trong lao động. Thời đại tự động hoá kỹ xảo và kinh nghiệm lao động từng bước
được thay thế bằng máy móc, đòi hỏi người lao động có tri thức cao, hiểu được kỹ
thuật công nghệ của hệ thống máy móc thiết bị tự động phức tạp và vận hành nó có
hiệu quả. Khoa học kỹ thuật, công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, được sử dụng rộng rãi phục vụ cuộc sống hàng ngày. Ở khắp nơi, ở mọi chỗ
luôn cần đến tri thức cao để sử dụng những công nghệ hiện đại một cách hiệu quả.
Do vậy chúng ta luôn cần đến một số lượng lớn lao động kỹ thuật có trình độ để đáp
ứng yêu cầu phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ.
1.2.1.2. Vai trò của đào tạo và phát triển công nhân kỹ thuật đối với doanh
nghiệp.
Nhờ có hoạt động đào tạo, phát triển mà doanh nghiệp mới có thể đảm bảo
độ dân trí, tạo được lực lượng lao động đủ khả năng cung cấp cho sự nghiệp công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước đi vào hội nhập khu vực và thế
giới.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới đào tạo công nhân kỹ thuật.
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
10
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
Đào tạo công nhân kỹ thuật là một nhân tố tác động mạnh đến tăng trưởng
kinh tế và phát triển xã hội. Để nâng cao chất lượng của công tác đào tạo công nhân
kỹ thuật, chúng ta cần phải nghiên cứu và xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới công
tác đào tạo sau đây:
- Quán triệt mục tiêu giáo dục của Đảng vào quá trình đào tạo lao động kỹ
thuật. Cần cụ thể hoá mục tiêu giáo dục nghề nghiệp vào chương trình, nội dung,
phương pháp đào tạo.
- Tuyển dụng đầu vào phù hợp với từng nghề, chuyên môn kỹ thuật. Trong
tuyển dụng cần chú ý tới trình độ văn hoá và đặc tính tâm lý cá nhân. Cần đặt ra tiêu
chuẩn về văn hoá, tâm lý và sức khoẻ. Coi trọng cả ba tiêu chuẩn đó trong việc
tuyển dụng.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào
tạo công nhân kỹ thuật, chúng ta cần huy động mọi nguồn vốn vào nhằm tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt chú trọng đến mở rộng các cơ sở thực hành
tay nghề.
- Chất lượng của thầy cô giáo quyết định rất lớn đến chất lượng đào tạo.
Chúng ta cần có kế hoạch tuyển chọn và đào tạo nâng cao trình độ của giáo viên.
Đặc biệt, cần giải quyết vấn đề tiền lương và các chế độ khác cho giáo viên để họ
thực sự an tâm công tác, dồn hết tâm huyết, trí lực vào việc giảng dạy, nâng cao
trình độ và chất lượng đào tạo.
- Nội dung, phương pháp đào tạo là yếu tố quan trọng tác động đến chất
lượng đào tạo. Sử dụng đa dạng phương pháp giảng dạy, nâng cao tính độc lập, tự
chủ trong học tập của học viên, nâng cao kỹ năng thực hành và khả năng hành nghề
Mục tiêu của đào tạo công nhân kỹ thuật phải đạt được trong Luật giáo dục
quy định là “ Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình
độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công
nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc
làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh” (Luật
giáo dục).
1.2.4. Nội dung của đào tạo công nhân kỹ thuật.
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
12
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
Nội dung của đào tạo công nhân kỹ thuật phải tập trung vào đào tạo năng
lực nghề nghiệp, giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, nâng cao trình độ học vấn
theo yêu cầu đào tạo. Bao gồm những loại kiến thức cơ bản:
- Kiến thức lý thuyết nghề nghiệp bao gồm những môn học cơ sở, công cụ,
kiến thức nghề nghiệp và kiến thức bổ trợ. Yêu cầu lý thuyết phải cơ bản,
hiện đại và phù hợp với thực tế.
- Kỹ năng thực hành phải tập trung tạo ra độ thuần thục của người học ở
những công việc cơ bản cần thiết ban đầu của nghề nghiệp và tạo ra các
phản ứng cần thiết khi sử lý các tình huống đặt ra trong thực tế. Yêu cầu kỹ
năng thực hành phải cơ bản, chuẩn mực, tiết kiệm các thao tác và động tác
lao động.
- Giáo dục chính trị tư tưởng và nhận thức xã hội để tạo ra đạo đức, tác
phong, ý thức tổ chức kỷ luật của người lao động.
- Giáo dục thể chất và quốc phòng hướng vào củng cố và tăng cường sức khoẻ
cho người lao động có thể hoàn thành công việc của mình.
Để tạo ra đội ngũ công nhân kỹ thuật đông đảo có tay nghề cao thì phải kết hợp
đầy đủ hai giai đoạn đào tạo sau đây:
+ Giai đoạn đào tạo cơ bản nghề nghiệp: là giai đoạn đào tạo lý thuyết và kỹ
năng thực hành cơ bản của nghề nghiệp ở các cơ sở đào tạo chính quy. Kết thúc giai
đoạn này, người học nhận được bằng tốt nghiệp nghề nghiệp do các cơ sở đào tạo
- Xác định quy trình dạy học.
- Xác định phương pháp dạy cách tự .
- Xác định cách kiểm tra, tự kiểm tra và đánh giá kết quả học tập.
Việc thiết kế quy trình dạy - tự học một cách tỉ mỉ, khoa học sẽ giúp cho thầy và
trò chủ động linh hoạt trong quá trình dạy và học. Nhờ đó chất lượng giảng dạy
được nâng cao.
• Xác định các phương pháp dạy học.
Phương pháp dạy học là cách thức người thầy truyền đạt cho học sinh nhằm
đạt được chất lượng cao trong quá trình đào tạo. Hiện nay đang có nhiều phương
pháp dạy học được áp dụng là:
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
14
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
+ Dạy lý thuyết gồm có các phương pháp:
- Phương pháp giảng giải là phương pháp người thầy sử dụng sự giải
thích của mình để học sinh hiểu được bản chất của vấn đề. Có nhiều cách giảng giải
như: giảng giải bằng lời nói thuần thuý, giảng giải bằng lời nói kết hợp với hình
ảnh, với mô hình.
- Phương pháp đối thoại là phương pháp thầy và trò cùng nêu lên vấn đề,
cùng tranh luận để đi đến thống nhất cách hiểu bản chất vấn đề. - Phương
pháp nghiên cứu tình huống là phương pháp đặt ra tình huống như trong thực tế để
thầy và trò cùng tìm ra giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề. - Phương
pháp nghiên cứu khoa học là phương pháp vận dụng các lý thuyết đã học để nghiên
cứu một vấn đề cụ thể trong thực tế để giải quyết vấn đề đặt ra một cách bài bản và
khoa học.
+ Dạy thực hành tay nghề gồm các phương pháp:
- Phương pháp dạy theo đối tượng là phương pháp người học được thực
hành trên một đối tượng cụ thể theo một trật tự thực hiện đã xác định.
- Phương pháp dạy theo thao tác là phương pháp người học chỉ thực hiện
một hay một số thao tác, động tác nào đó cho đến khi thuần thục cao và chuẩn xác
xuyên.
+ Đào tạo từ xa là hình thức đào tạo trong đó người học nhận được tài liệu
học tập từ cơ sở đào tạo và tự nghiên cứu, nghe giảng trên các phương tiện thông tin
đại chúng đến kỳ thi đánh giá kiến thức thì đến một địa điểm đã xác định để thực
hiện thi đánh giá kiến thức.
1.2.6.2. Bên cạnh cách phân chia trên các doanh nghiệp thường sử dụng các
hình thức đào tạo sau:
(1) Kèm cặp trong sản xuất:
Kèm cặp trong sản xuất là phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc,
người học sẽ học được những kỹ năng cần thiết thông qua sự hướng dẫn của công
nhân lành nghề hơn.
Kèm cặp trong sản xuất được tiến hành theo trình tự sau:
- Phân công những công nhân có trình độ lành nghề cao vừa sản xuất vừa chỉ dẫn
cho người học.
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
16
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
- Người học nghe, nhìn người hướng dẫn làm việc
- Giao việc làm thử cho người học.
- Giao việc hoàn toàn cho người học làm.
Ưu điểm của hình thức này là :
- Có khả năng đào tạo nhiều công nhân cùng một lúc, thời gian đào tạo ngắn.
- Không đòi hỏi yêu cầu về trường lớp, giáo viên chuyên trách, cán bộ quản lý
đào tạo và thiết bị thực tập riêng.
- Tạo ra sản phẩm trong quá trình học tập, học viên nắm vững kỹ năng tay nghề.
Nhược điểm của hình thức này là:
- Học viên học lý thuyết không có hệ thống.
- Giáo viên không chuyên trách, thiếu kinh nghiệm.
- Học viên có thể học cả những phương pháp, thói quen không hợp lý, không tiên
tiến của người dạy.
Nhược điểm của hình thức này :
- Đòi hỏi hệ thống cơ sở vật chất tương đối đầy đủ,
- Cần có đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, bộ máy quản lý đào tạo chuyên
nghiệp.
- Chi phí tốn kém, thời gian đào tạo dài.
1.3. Kế hoạch hoá công tác đào tao.
1.3.1. Xác định nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật.
Nhu cầu là đòi hỏi làm thoả mãn sự mong muốn, khát vọng của mỗi cá nhân,
tổ chức trong xã hội về một hay nhiều mặt của cuộc sống.
Nhu cầu đào tạo là nhu cầu phát triển có thể được thoả mãn bằng con đường
đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện… Như vậy,có thể nói nhu cầu đào tạo là một bộ
phận của nhu cầu phát triển.
Xác định nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật là cơ sở để lập kế hoạch đào
tạo. Xác định nhu cầu không chính xác sẽ dẫn đến sự mất cân đối giữa yêu cầu và
đào tạo, giữa đào tạo và sử dụng.
Nhu cầu đào tạo xác định gồm hai loại là đào tạo mới và đào tạo lại.
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
18
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
Đào tạo mới: bao gồm những người chưa tham gia sản xuất, hoặc những
người đã tham gia sản xuất nhưng chưa được có nghề. Đào tạo mới là để đáp ứng
nhu cầu tăng thêm lao động có nghề.
Đào tạo lại: là đào tạo đối với những người đã có nghề, chuyên môn. Do yêu
cầu sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi ngành nghề,
trình độ chuyên môn.
Một số phương pháp xác định nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật:
Để xác định nhu cầu đào tạo, cần phải tiến hành phân tích tổ chức, phân tích
con người và phân tích nhiệm vụ. Nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật được xác
định cho từng nghề trong doanh nghiệp.
Việc xác định nhu cầu đào tạo được thực hiện qua các bước sau;
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
q
i
: Số lượng sản phẩm loại i kỳ kế hoạch.
: Toàn bộ lượng lao động hao phí để hoàn thanh nhiệm vụ sản xuất.
T
n
: Quỹ thời gian lam việc BQ của một công nhân kỹ thuật kỳ KH.
K
m
: Hệ số hoàn thành mức lao động dự tính kỳ kế hoạch.
- Phương pháp2: Dựa vào số lượng máy móc thiết bị, mức phục vụ của một công
nhân kỹ thuật và hệ số ca làm việc của máy móc thiết bị.
CNKT
ct
= M Χ P Χ K
Trong đó:
CNKT
ct :
Số công nhân kỹ thuật cần thiết kỳ kế hoạch.
M : Số lượng máy móc thiết bị cần phục vụ.
P : Mức phục vụ của một công nhân kỹ thuật.
K : Số ca làm việc của thiết bị trong một ngày đêm kỳ kế hoạch.
- Phương pháp chỉ số:
Theo phương pháp này, nhu cầu công nhân kỹ thuật cần thiết để hoàn thành
nhiệm vụ sản xuất được xác định căn cứ vào số công nhân kỹ thuật hiện có; chỉ số
máy móc thiết bị, chỉ số ca làm việc và chỉ số năng suất lao động kỳ kế hoạch.
S
hc
Χ I
quan như : Lãnh đạo, cán bộ quản lý trực tiếp, người lao động... Bên cạnh đó, phải
căn cứ vào đánh giá kết quả thực hiện công việc, những sáng kiến, tay nghề…; Đối
với lao động tuyển mới, để đào tạo thì doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch thi
tuyển đào tạo rõ ràng, cụ thể, đảm bảo chất lượng đầu vào của công tác đào tạo.
Xác định đối tượng đào tạo là lựa chọn người cụ thể để đào tạo, dựa trên
những vấn đề:
- Nghiên cứu nhu cầu và động cơ đào tạo;
- Tác dụng của đào tạo đối với người được đào tạo;
- Triển khai nghề nghiệp của từng người.
Việc lựa chọn người để đào tạo đảm bảo phải đào tạo đúng người cần đào
tạo, tức là phải lựa chọn đúng khả năng, nguyện vọng học tập… để tránh tình trạng
đào tạo nhầm đối tượng làm tổn thất về thời gian và khoản chi phí không cần thiết.
1.3.3. Xác định mục tiêu đào tạo
Là việc xác định kết quả cần phải đạt được của hoạt động đào tạo, bao gồm:
- Cần xác định người công nhân đạt được trình độ nào?
- Số lượng đào tạo hoàn thành là bao nhiêu?
- Thời gian hoàn thành khi nào?
- Cơ cấu lao động như thế nào?
Mục tiêu đào tạo phải rõ ràng, cụ thể và có thể đánh giá được.
Việc xác định mục tiêu đào tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực và là cơ sở để đánh giá trình độ chuyên môn của
học viên trong tổ chức. Như vậy ta thấy, việc đào tạo rất cần thiết để góp phần vào
việc nâng cao hiệu quả làm việc của người được đào tạo.
1.3.4.Xây dựng nội dung chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo là một kế hoạch giảng dậy tổng quát cho biết những
kiến thức, kỹ năng nào cần dậy và trong bao lâu trên cơ sở đó lựa chọn phương
pháp đào tạo thích hợp.
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
21
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
22
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
1.3.7.Tính toán kinh phí đào tạo.
Chi phí cho đào tạo quyết định việc lựa chọn các phương án đào tạo. Chi phí
cho đào tạo đó là khoản chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội liên quan đến chương
trình đào tạo. Người lập kế hoạch đào tạo phải tính toán các chi phí:
1.3.7.1. Chi phí cơ hội
Là khoản thu mất đi khi người lao động đi học nhưng không phải khoản thu
cụ thể có thể xác định mà là những khoản thu không cụ thể như: những việc ở tổ
chức giao cho người khác làm không được bảo đảm ảnh hưởng đến những tổ chức
cấp dưới…Chi phí cơ hội khó xác định nên khi dự tính chi phí đào tạo người ta chủ
yếu xét tới chi phí trực tiếp.
1.3.7.2. Chi phí trực tiếp cho Đào tạo.
Là khoản chi phí bỏ ra để đào tạo cho người lao động, bao gồm:
- Tiền lương và học phí trả cho người lao động khi tham gia đào tạo;
- Tiền lương trả cho người quản lý trong thời gian họ quản lý những người
đang đào tạo;
- Tiền thù lao trả cho giáo viên đào tạo và bộ phận giúp việc;
- Những khoản trả cho cố vấn, cho những tổ chức liên quan và bộ phận bên
ngoài khác;
- Chi phí mua sắm các dụng cụ giảng dạy và trang thiết bị học tập;
Muốn đào tạo, tổ chức cần dự tính được các loại chi phí này và phải dự trù
thêm các khoản chi phí phát sinh trong quá trình tiến hành đào tạo. Đồng thời phải
xác định các nguồn kinh phí cho đào tạo bao gồm:
- Ngân sách Nhà nước;
- Quỹ đào tạo của doanh nghiệp;
- Đóng góp của các tổ chức, cá nhân;
- Tài trợ của các tổ chức, cá nhân;
- Chương trình dự án;
- Vốn vay ngắn hạn và dài hạn…
Sinh viên: Nguyễn Thị Mơ Lớp: HCKT- QTNL – K8.
24
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp.
2.1.1.1. Tên đầy đủ của công ty.
CÔNG TY CP XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI AN PHÁT.
Tên giao dịch: AN PHÁT TRADING CONSTRUCTION JOINT STOCK
COMPANY.
Điện thoại : 04. 6366827 Fax: 04. 6366827.
Địa chỉ: Số 4/2/23 Giếng Mứt- Bạch Mai – Trương Định- Hai Bà Trưng – Hà
Nội.
Văn phòng: Số 393 Kim Ngưu- P. Vĩnh Tuy- Hai Bà Trưng- Hà Nội.
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển.
Công ty Cổ Phần Xây dựng Thương mại An Phát được thành lập từ năm 2004,
hoạt động theo luật doanh nghiệp và các quy định hiện hành khác của nước Cộng
Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Ngày đầu mới thành lập công ty chỉ có 10 người. Vốn điều lệ: 4.500.000.000 đ (
Bốn tỷ, năm trăm triệu đồng). Nhưng sau 5 năm hoạt động với những nỗ lực vượt
khó khăn thử thách bước đầu cho đến nay công ty đã hội nhập được các kiến trúc
sư, kỹ sư chuyên viên kỹ thuật, cán bộ công nhân viên tâm huyết yêu nghề, đã có bề
dãy kinh nghiệm. Công ty đã tham gia xây dựng, tư vấn, sửa chữa nhiều hạng mục
công trình : Xây dựng các khu đô thị, thiết kế công trình dân dụng…với chất lượng
cao.
Hội đồng quản trị và các thành viên trong công ty không ngừng phấn đấu nỗ lực
hết mình khai thác tiềm năng vốn có của công ty, tranh thủ mọi nguồn lực, đưa hoạt
động kinh doanh của công ty đạt hiệu quả và liên tục phát triển, từng bước mở rộng
liên doanh liên kết mang lại thương hiệu uy tín, chất lượng.
Mọi thành viên trong công ty luôn tự hào về truyền thống của dân tộc không
ngừng học hỏi và phát triển sẵn sàng hướng tới tương lai khẳng định chất lượng: “
Đáp ứng mọi yêu cầu khắt khe nhất của khách hàng”.
Công ty luôn phấn đấu trở thành một doanh nghiệp mạnh, mở rộng kinh doanh