1
Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng Đại học s phạm H Nội
_____________________________
Trơng Tuyết Minh
Chuyên ngành : Lý luận văn học
Mã số : 62.22.32.01
Tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Th viện Quốc gia Hà Nội
3
- Th viện trờng Đại học S phạm Hà Nội. Danh mục các công trình đ công bố của tác giả
1. Trơng Tuyết Minh (2001), Thơ Huy Thông - Sự thử
nghiệm về thể loại, Tạp chí Khoa học, ĐHSP Hà Nội, (2), tr.15 -25.
2. Trơng Tuyết Minh (2001), Huy Thông trong phong trào
Thơ Mới, Văn học và Tuổi trẻ, (6) ,tr.7 - 12.
3. Trơng Tuyết Minh (2002), Hình tợng âm nhạc trong thơ
Huy Thông, Tạp chí Khoa học, ĐHSP Hà Nội (2), tr.3 - 8.
4. Trơng Tuyết Minh (2005), Hội hoạ trong thơ Huy Thông,
Tạp chí chí Khoa học, ĐHSP Hà Nội (5), tr.27 - 32.
5. Trơng Tuyết Minh (2006), Thơ Huy Thông - Một cảm
hứng sáng tác độc đáo, Tạp chí Nhà văn (5), tr.146 - 153.
6. Trơng Tuyết Minh (2006), Huy Thông, ngời đặt nền móng
cho kịch thơ Việt Nam, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật (8), tr.58 - 61.
7. Trơng Tuyết Minh (2006), Bài thơ Con voi già - Khúc
trờng ca dữ dội của Huy Thông, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền (9),
tr.54 -56.
4
Mở đầu
1. Mục đích v ý nghĩa của đề ti
1.1. Về lý luận văn học: Nghiên cứu một cách hệ thống hồn thơ, thế giới
nghệ thuật độc đáo và đa dạng trong thơ Huy Thông, tất yếu sẽ phải huy động
nhiều kiến thức và phạm trù lý luận văn học; từ đó sẽ kiểm tra lại sự hiểu biết và
rèn luyện năng lực vận dụng lý luận văn học vào việc phân tích một hiện tợng
văn học tiêu biểu.
1.2. Về văn học sử: Nghiên cứu thơ Huy Thông về các mặt cảm hứng thơ
ca, thể loại thơ ca, mối quan hệ giữa thơ ca và các loại hình nghệ thuật khác, vai
trò của Huy Thông với nền kịch thơ Việt Nam không những sẽ giúp xác định vị
trí của nhà thơ trong phong trào Thơ Mới mà còn góp phần cung cấp những kết
luận làm cho sự khái quát lý thuyết về Thơ Mới trở nên sâu sắc và đầy đủ hơn.
5
1.3. Nh là hệ quả của cả hai mặt trên, luận án này còn mang một ý
nghĩa nghiệp vụ ở chỗ sẽ tạo thêm những điều kiện cho tác giả khi phải đứng trên
bục giảng trình bày những vấn đề hữu quan; nhất là những vấn đề này lại đúc kết
từ sự nghiệp thơ ca của vị Hiệu trởng đầu tiên của trờng Đại học s phạm Hà
Nội, chiếc máy cái trong sự nghiệp giáo dục của cả nớc.
2. Lịch sử vấn đề
1.1. Trớc cách mạng tháng Tám
Các ý kiến về thơ Huy Thông không nhiều, nhng nói chung tơng đối
xác đáng. Đó là các ý kiến của Khái Hng trong lời Tựa tập thơ Tiếng sóng- Yêu
đơng (1934); của Thế Lữ trên báo Phong Hóa (21/1/1935); của Lê Tràng Kiều
trên Hà Nội Báo, số 14 (8/4/1936); của Dơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn
học sử yếu (1941); nhất là ý kiến của ông Lê Thanh trên Tạp chí Tri Tân
(6/1941)và ý kiến của Hoài Thanh- Hoài Chân đánh giá về thơ Huy Thông trong
Thi nhân Việt Nam (1941) Các ý kiến trên khá thống nhất khi cho rằng: thơ
Huy Thông có nhiều sáng tạo trong cách dùng hình ảnh, ngôn từ, nhiều t tởng
hay, một hồn thơ hùng tráng với những ham muốn khát vọng dị thờng và ông còn
là ngời khởi xớng ra lối viết kịch bằng thơ ở Việt Nam.
2.2. Thời kỳ 1945- 1975
diện thế giới nghệ thuật của thơ và kịch thơ Huy Thông.
3. Nhiệm vụ v đối tợng nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ:
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của ngời đi trớc và không tránh khỏi
sự trao đổi lại ở những điểm cần thiết, chúng tôi cố gắng đi sâu nghiên cứu thơ Huy
Thông ở các bình diện liên quan đến nhau nh trong một chỉnh thể: cảm hứng thơ ca,
thể loại thơ ca, nghệ thuật thơ ca cùng những ảnh hởng của ông ngay trong phong
trào Thơ Mới, nhất là ở thể loại kịch thơ. Ngoài ra, để phục vụ cho việc làm đề tài
nghiên cứu toàn diện thơ Huy Thông, chúng tôi phải và đã su tầm thêm một số tác
phẩm của ông còn rải rác trên các báo và sẽ đa vào phần phụ lục của luận án.
3.2. Đối tợng nghiên cứu:
* Tài liệu xác thực và trọn vẹn: Tiếng sóng - Yêu đơng, Anh Nga,
Tiếng địch sông Ô, Tần Hồng Châu, Huyền Trân công chúa, Cùng mặt trời,
Nguyễn Du, Kinh Kha, Đêm xuân, Tứ tuyệt, Giờ gặp mặt, Lăng Ngô, Du kí:
Từ Hà Nội tới Toulouse , Chào sứ giả của tự do, Cái én, Xuân đ sang, Đón
ngời anh em nớc Việt, Ca một mùa xuân chiến thắng và một tài liệu viết tay
của ông về thể loại trờng ca do Trung tâm III Cục lu trữ Quốc gia cung cấp.
* Tài liệu xác thực nhng cha trọn vẹn (Những tài liệu này, trong quá trình
su tầm, tìm kiếm cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi có những căn cứ đích thực đây
là sáng tác của Huy Thông nh
ng chỉ có trích đoạn mà không có toàn bộ tác phẩm):
Khúc tiêu thiều, Giấc mộng Lê Đại Hành, Tần Ngọc, Hận chiến sỹ, Con voi già
* Tài liệu cha xác thực (Những tài liệu này, trong quá trình tìm kiếm,
chúng tôi thấy có ghi là của Huy Thông, nhng kèm theo lại ký một tên khác):
Theo chân Lu Nguyễn, Tiếng ái Ân, Chiều hôm qua (ký tên cô H. V Tần Ngọc
đăng trên báo Phong Hoá tháng 5 - 1935), theo ông Phan Canh, ba bài đó là của
Huy Thông.
* Tác phẩm hữu quan của một số nhà thơ khác đợc sử dụng để so sánh:
Chiến tợng của Chế Lan Viên Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội của Hàn Mặc Tử; các
tác phẩm của Phan Khắc Khoan: Trần Can (1941), Lý Chiêu Hoàng (1942), Phạm
phơng diện khác nhau.
5. Những kết luận mới v cấu trúc của luận án
5. 1. Những kết luận mới:
Một là, thơ Huy Thông có cảm hứng phát triển đa dạng; từ tình yêu trai gái
đến tinh thần yêu nớc, lòng ngỡng mộ sự nghiệp và vận mệnh ngời anh hùng Các
dạng cảm hứng đó có khi đợc thể hiện một cách đơn lập , có khi liên kết cặp đôi
nh: giữa tình yêu và lòng yêu nớc, giữa tình yêu và bi kịch của ngời anh hùng, giữa
tinh thần yêu nớc và lòng ngỡng mộ ngời anh hùng chiến bại.
Hai là, cả một quá trình kịch hoá trong thơ Huy Thông từ thơ đối
thoại đến thơ kịch và kịch thơ.
Ba là, mối quan hệ giữa thơ ca và các loại hình nghệ thuật khác, nhất là
hội hoạ và âm nhạc trong thơ Huy Thông, tuy không phải là hoàn toàn độc đáo
nhng vẫn có những thành tựu và sắc thái riêng.
Cuối cùng, Huy Thông đã có những ảnh hởng đến các nhà thơ khác ngay
trong phong trào Thơ Mới, nhất là việc mở đầu cho kịch thơ hiện đại ở nớc ta.
5. 2. Cấu trúc của luận án:
Ngoài các phần Mở đầu (14 trang); Kết luận (5 trang); T
liệu tham khảo
(17 trang), Phụ lục (37 trang); phần nội dung chính của luận án gồm bốn chơng
nh sau:
Chơng 1:
Cảm hứng phát triển đa dạng và liên kết trong thơ Huy Thông
(40 trang).
Chơng 2:
Từ thơ đến kịch thơ trong sáng tác của Huy Thông (46 trang).
Chơng 3:
Thơ Huy Thông với một số loại hình nghệ thuật khác (53 trang).
Chơng 4:
ảnh hởng của Huy Thông ngay trong phong trào Thơ Mới (48
trang).
sẽ quyết xông pha đờng tình ái Một cuộc đời trởng giả không đắm say.
(Đờng tình ái). Tất nhiên, nh
các nhà Thơ Mới, do "tồn tại một cách bơ vơ
trong dòng chảy lịch sử, cái tôi Thơ Mới còn là cái tôi cô đơn" [42,tr. 230], ở Huy
Thông, cái tôi cô đơn ấy biểu hiện ở cách xng hô của chủ thể trữ tình dù là cái
"tôi", "ta", "anh" nhng vẫn là tâm trạng luôn kiếm tìm và bị ám ảnh về sự chia
ly (Gió đêm xuân,Thu, Hơng Xuân, Giờ gặp mặt). Nhng cái làm nên giọng
điệu riêng trong cách thể hiện cảm hứng tình yêu của thơ Huy Thông là dù cô đơn,
dù ám ảnh chia ly nhng cha bao giờ u sầu, não nề, bi luỵ: Tôi muốn quên cả quãng
đời dĩ vãng; Để xây lên một tơng lai tơi sáng; Tôi cố công, tôi gắng sức, tôi cời
vang. (Trên bi bể). Ngay cả khi viết: "Ta buồn rầu tởng tiếc bóng đêm tan"
(Một giấc mơ) thì đó cũng chỉ là nỗi buồn thoáng qua vì ngay lập tức ông đã lấy
lại đợc tâm thế: "Ta vui bớc trên đờng đời gió bụi Ta dấn thân vào cuộc đời
rộng rãi ". Có lẽ chính vì vậy mà cảm hứng về tình yêu trong thơ Huy Thông
mang một vẻ mới, không nằm trong cái "nhức nhối, dai dẳng, trùng điệp"[42,tr.
9
235] của cô đơn và thất vọng nh phần lớn các nhà Thơ Mới khác. Điều này dễ lý
giải, bởi bớc vào tình yêu, ông đã hăm hở với "con đờng tình chói lọi ánh hào
quang. Trong thơ tình yêu của ông đã sớm có bóng dáng của chí làm trai thời
xa cũ đợc đặt vào hoàn cảnh cụ thể Lòng ngây ngất ta lên đờng sán lạn; Tìm
tri âm trong khoảng trời vô hạn. Một dự cảm chăng, để sau những bài thơ mang
cảm hứng về tình yêu, cảm hứng sáng tác trong thơ Huy Thông đã có một sự mở
rộng tiến triển khác với xu thế chung của nhiều nhà Thơ Mới
1.1.2. Cảm hứng về tinh thần yêu nớc.
Bớc vào thi đàn Thơ Mới, dù tuổi còn rất trẻ, Huy Thông đã mang đến
một không khí thật khác thờng: "Tôi muốn hoá con chim để cùng gió; Bay lên
cao mơn trớn sợi mây hồng" (Trên bi bể). Đó là khát khao đợc sống mạnh mẽ
giữa cuộc đời (dù khát khao ấy có mơ hồ) vẫn thật là đáng quí. Ông hăm hở: Tôi
vui bớc trên đờng đời gió bụi. Ông hớng vùng cảm xúc của mình vào một
10
1.2. sự liên kết "cặp đôi" giữa các cảm hứng
1.2.1. Sự "liên kết cảm hứng" giữa tình yêu và tinh thần yêu nớc.
Cảm hứng trong thơ Huy Thông còn là sự hoà quyện nhuần nhuyễn giữa
tình yêu lứa đôi và lòng yêu nớc (Huyền Trân công chúa). Nếu cảm hứng thơ
chỉ dừng lại ở một mối tình Huyền Trân- Trần Khắc Chung thì tác phẩm sẽ mang
dáng dấp một bi kịch tình yêu. Nhng trong cuộc biệt ly và nỗi khóc than này,
không ít lần xuất hiện hình ảnh non nớc: Nam quốc hỡi từ nay xin vĩnh biệt ,
Công chúa đi rồi! Non nớc hỡi. Cùng với cảm hứng về tình yêu, mợn lời cuộc
giã biệt, Huy Thông đã bày tỏ một cảm hứng thầm kín mà vô cùng sâu sắc: cảm
hứng về lòng yêu nớc. Ông gạt bỏ mọi chi tiết về cuộc sống trong cung đình nhà
Trần mà chỉ chọn nhặt một sự kiện là công chúa Huyền Trân đã gạt bỏ tình
riêng; làm thiếp của chúa Chiêm để đổi về cho đất nớc hai châu Ô - Lý. Trong
khúc biệt ly, lý trí và trách nhiệm với đất nớc đã đặt lên trên chữ tình. Hành động
của Huyền Trân trớc hết là vì nghĩa lớn, sau đó là một tất yếu của số phận một
con ngời trớc đất nớc, dân tộc. Trong tác phẩm, phải rất tinh ý ta mới thấy cảm
hứng yêu nớc xuyên suốt từ đầu đến cuối khúc biệt ly. Đặc biệt là nhân vật Khắc
Chung, dù là một tình nhân đắm sayvà rất đau đớn khi mất ngời yêu nhng chàng
không bao giờ đợc phép níu giữ ngời yêu. Chàng chỉ có một cách duy nhất là để
cho Huyền Trân ra đi. Nhà thơ đã rất kín đáo khi thể hiện nỗi niềm tâm sự lớn lao
của Khắc Chung, qua đó là của Huyền Trân và của chính mình trong cảm hứng
thứ hai: cảm hứng yêu nớc. Sự cặp đôi cảm hứng có tác dụng làm cho tác phẩm
mang một ý nghĩa nhân văn cao cả: chỉ có thể giải thoát nỗi đau bằng một hành
động vì cái chung, vì nghĩa vụ.
2.2.2. Sự liên kết cảm hứng giữa tình yêu và bi kịch của ngời anh hùng.
Trung thành với t cách nhà Thơ Mới, nhng Huy Thông còn mang cảm
hứng về tình yêu kết hợp với bi kịch của ngời anh hùng chiến bại (Tiếng địch
sông Ô). Là ngời anh hùng trong lịch sử, nhng khi đợc tái hiện trong thơ Huy
Thông, Hạng Võ mang dáng dấp của ngời anh hùng thời đại, ngời có chí lớn
một hôm, biết mình đã tới cõi , voi bèn quả quyết theo con đờng cũ trở về
với quê hơng. Trớc khi trút hơi thở cuối cùng, voi đã thu chút sức thừa đứng
dậy để cất tiếng rít vang. Voi ngỡ tiếng kêu giã biệt sẽ thoang thoáng bay đi
, sẽ tan vào h không và vô vọng. Nhng tiếng kêu ấy của voi già đã vang động
đến nhiều tấm lòng, trong đó có Huy Thông: Đã than lại lời than đau đớn ấy;
Đã khiến cho ở cõi mịt mùng xa; Tấm lòng ta thổn thức hỡi voi già. Chính những
tình cảm cao đẹp, mạnh mẽ ấy đã làm nên tâm sự yêu nớc thầm kín trong thơ
Huy Thông. Con voi già vừa là khúc trờng ca dữ dội về cuộc đời của chúa tể
rừng xanh , vừa là nỗi niềm của nhà thơ gửi gắm qua một hình tợng nghệ thuật.
Điều đáng quí là nhà thơ đã rung động, xúc cảm, đã cảm phục và ngợi ca nhân vật
lịch sử ấy ngay trong những ngày thoái trào của cách mạng.
*
* *
Nằm trong văn mạch của trào lu Thơ Mới, thơ Huy Thông, tr
ớc hết là
những sáng tác có cảm hứng về tình yêu (Tiếng sóng- Yêu đơng) nhng đã phát
triển đần đến cảm hứng về tinh thần yêu nớc (Giấc mộng Lê Đại Hành); cảm
hứng về số phận và vận mệnh ngời anh hùng chiến bại (Kinh Kha). Những cảm
hứng này lại đợc phát triển một cách đa dạng và "liên kêt" trở thành cảm hứng về
tình yêu và lòng yêu nớc (Huyền Trân công chúa), cảm hứng về tình yêu và bi
kịch của ngời anh hùng (Tiếng địch sông Ô); cảm hứng về lòng ngỡng mộ
ngời anh hùng chiến bại (Con voi già). Hành trình của cảm hứng thơ Huy Thông
nh sự khẳng định cho một tất yếu: thơ ca không chỉ có thể nói về tình yêu, mà
hoàn toàn có thể nói về những tình cảm cao đẹp khác, cùng sự liên kết giữa chúng
với nhau miễn là nhà thơ thực sự có những rung động từ tình cảm chân thành và
tài năng của một thi sĩ.
chữ (Vọng phu, Một giấc mơ ). Và những cách kết cấu câu thơ dài ngắn khác
nhau; dờng nh đã có sự mở rộng về thể loại, ngôn từ.
Cùng với thể thơ, trong thơ Huy Thông còn có một cách tân đáng kể là
việc gieo vần. Ông đã kế thừa tất cả các cách gieo vần trong thơ truyền thống,
đồng thời ông làm mới thơ mình bằng các lối gieo vần có trong thơ Pháp (liên kết,
cặp đôi, hỗn hợp): bốn câu ba vần (Tiếng đàn khuya), gieo vần gián cách, bất ngờ
ngắt thành khổ hai câu và đơng nhiên tạo nên một cách gieo vần khác (Dăm bài
ca), kết hợp lối gieo vần trong thơ cũ và Thơ Mới tạo nên cảm giác không đơn
điệu- sản phẩm tối u của cách chuyển đổi vần (Tiếng hoạ mi ca).
Đặc biệt phải nói đến quá trình kịch hoá trong thơ Huy Thông theo các
nấc thang: thơ đối thoại , thơ kịch và kịch thơ. Những nội dung đó sẽ đợc
trình bày ở các phần tiếp theo.
2.2. Thơ Đối Thoại
Xa nay, đối thoại thờng đợc coi là một trong những dấu hiệu hình thức
của thể loại kịch, và trong thơ Huy Thông, dần dần xuất hiện khá nhiều hiện tợng
này. Đó thờng là những bài thơ tơng đối dài hơi, từ 7 -8 chục câu (Chiều hôm
qua, Lòng son sắt ) đến hơn ba trăm câu (Trên bi bể). Trong những tác phẩm
13
này, thờng nhân vật đối thoại không xuất hiện trực tiếp ngay từ đầu mà lần lợt
theo sự dẫn dắt của tứ thơ - của chủ thể trữ tình. Cách xây dựng đối thoại trong thơ
thích hợp với việc nhà thơ thể hiện nhiều giọng điệu trong một bài thơ. Nhất là trong
tác phẩm xuất hiện một kiểu trữ tình điệu nói - nhiều khổ thơ đợc mở rộng bằng
cách các câu trên dùng chữ cuối cùng treo ý nối với chữ đầu tiên của câu tiếp theo.
Cách diễn đạt ấy làm cho cả khổ thơ chỉ là một hoặc hai câu theo cấu trúc câu văn
tiếng Việt. Có khi câu thơ thờng dài thêm tới mời chữ, mời hai chữ và có thể xây
dựng những đối thoại nh văn xuôi khẩu ngữ: rồi ba cô thiếu nữ đắm say nói hay
tình quân hỡi! Chúng em đây vì tình quân Nhà thơ không cần "phân vai" mà chỉ
qua các tín hiệu ngôn ngữ, ngữ pháp vẫn có thể phân biệt khá rạch ròi đâu là lời của
"nhân vật" nào. Có thể đó là những "gạch đầu dòng" (-) ở đầu các dòng thơ để chỉ sự
chúng tôi vẫn căn cứ vào tất cả những điều đã nói ở trên (âm hởng, nội dung )
nhng chú ý hơn cả là ở kết cấu và cách tổ chức tác phẩm.
14
Trong thơ kịch Tiếng Địch sông Ô, Huy Thông đã xây dựng một kết
cấu tơng đối phức tạp. Tác phẩm không có sự phân vai, dàn cảnh nhng theo các
biến cố, các sự kiện nó đợc trình bày gần nh một vở kịch có phần tự mộ - mở
đầu, phần vĩ thanh -kết thúc và ba phần ở giữa. Phần tự mộ gồm 40 câu giới
thiệu các sự kiện và hoàn cảnh cụ thể của nhân vật. Còn phần vỹ thanh là lời kết
lại một số phận, một cuộc đời anh hào. Trọng tâm của kịch thơ là ở 187 câu ở
giữa, chia làm ba đoạn với ba nhân vật: Hạng Võ, Ngu Cơ và một nhân vật chỉ
xuất hiện dới dạng âm thanh: tiếng địch. Đoạn thứ nhất đã có xung đột: một bên
là ý chí phá vây của Hạng Võ; một bên là Ngu Cơ và tiếng địch của Trơng Lơng
(từ câu 41 - 103). Đoạn tiếp theo, Hạng Võ trở thành trung tâm và một bên là Ngu
Cơ khảng khái quyết liệt. Nàng không muốn vì mình mà Hạng Võ hy sinh nghiệp
lớn (câu 104 - 180). Đoạn thứ ba, xung đột đã lên đến đỉnh điểm: tiếng địch của
Trơng Lơng lại âm vang: " Trầm trầm bổng bổng trên Ô giang; Địch Trơng
Lơng vẫn vô hình nức nở". Tiếng địch đã giáng một đòn ghê gớm vào cân não
Hạng Võ. Chàng quyết định ở lại khiến Ngu Cơ phải hành động quyết liệt: tự vẫn
(181- 224).
Tuy nhiên, trong tác phẩm, các nhân vật đối thoại không nhiều (Hạng Võ
4 lần, Ngu Cơ 4 lần). Đặc biệt, trong Tiếng địch sông Ô, Huy Thông còn rất dụng
công ở các phơng thức trần thuật, các thủ pháp nghệ thuật hoặc các đoạn ngoại
đề trữ tình chiếm một tỷ lệ khá lớn. Đặc biệt, việc sử dụng thể thơ tự do rất có tác
dụng để nhà thơ thể hiện một chất thơ hùng tráng - chất liệu hiếm có trong thơ ca
đơng thời.
Huy Thông đã ra sức thơ hoá cốt truyện kịch này. Cho nên, điểm nổi
bật ở tác phẩm là giọng thơ khi trữ tình, khi hùng tráng, vang vọng thể hiện một sự
kiện nổi bật đầy xung đột kịch tính trong cuộc đời nhân vật. Tất cả những nội dung này
chỉ có thể ngâm, chứ không thể diễn trên sân khấu, có nghĩa ở đây chỉ là thơ chứ không
sân khấu đặc trng của kịch; ngoài phân vai, đối thoại, đã xuất hiện xung đột, mâu
thuẫn kịch tính nhng nhà thơ quan tâm thể hiện tình yêu dữ dội của Tần Hồng
Châu, điều đó khiến tác phẩm không thể hiện đợc hết "tầm của cốt truyện.
Huyền Trân công chúa (1935). Kịch thơ có 4 nhân vật và tất cả cùng tham gia
đối thoại trực tiếp. Có điều, khi xây dựng đối thoại, Huy Thông không quan tâm đến diễn
biến tình tiết, mà ra sức thể hiện tâm trạng của nhân vật qua lời thoại. Đối thoại trong
kịch thơ thờng là những đối thoại đa thanh, đợc thể hiện ở những hoàn cảnh giàu kịch
tính. ở đây, nhà thơ đã xây dựng đợc hai nhân vật có tính cách gần nh đối lập: Huyền
Trân và Khắc Chung.
Kinh Kha (1936). ở kịch thơ này, số lợng các nhân vật đã tăng hơn so
với các kịch thơ trớc (7 nhân vật) và cùng với sự "phân vai" ấy là ít nhiều chỉ dẫn
sân khấu: (Cao Tiệm Ly đánh trúc nhịp những lời ca; Tần Vũ Dơng cầm
cơng ngựa đứng trên xe ) Tính chất sân khấu của kịch đã đ
ợc chú ý, các
nhân vật lần lợt xuất hiện theo vai trò của mình trong kịch. Và qua lời các nhân
vật mà không gian, thời gian kịch đợc ấn định; đồng thời cũng xác định hành
động kịch.
Nói thơ kịch thì dù sao chủ yếu vẫn là thơ; còn nói kịch thơ thì cơ
bản đã chuyển sang thể loại kịch rồi. Nhng khi bớc sang thể loại này, Huy
Thông không thành công lắm (điều này sẽ còn trở lại ở sau). Ta thấy Anh Nga,
Tần Hồng Châu và Huyền Trân Công Chúa, Kinh Kha không thể sánh kịp với giá trị
thẩm mỹ của Tiếng địch sông Ô.
Kịch thơ Huy Thông, ở những mặt thành công và cha thành công nh
chúng tôi nói tới ở trên, vẫn đánh dấu sự tìm tòi về mặt thể loại của tác giả. Ông
vẫn "là ngời mở đầu cho kịch thơ ở Việt Nam".
*
* *
Nghiên cứu thơ Huy Thông về phơng diện thể loại, chúng tôi thấy thơ
ông là một quá trình vận động không ngừng từ những thể thơ thông thờng đến
"thơ đối thoại", "thơ kịch" và kịch thơ. Ông đã đặc biệt thành công ở thể loại thơ
không hề xa lạ với Thơ Mới. Mối quan hệ này, do đó, không thể trở thành độc đáo
riêng biệt trong thơ Huy Thông. Tuy nhiên, Tiếng địch Trơng Lơng và Chân
dung Ngu Cơ trong Tiếng địch sông Ô, một là nhạc, một là hội hoạ, nếu không
muốn nói là độc nhất vô nhị thì cũng thật là quí hiếm trong Thơ Mới. Nhng núi
cao bởi có đất bồi , chúng tôi muốn nói chất nhạc và chất hoạ quả thật có phần
phong phú hơn trong thơ Huy Thông. Chẳng hạn, có tới 1/2 những sáng tác của
ông có những bức cảnh rực rỡ sắc mầu; rồi vô vàn hình ảnh vầng ô, hồ nớc,
đôi mắt (trong tập Tiếng sóng yêu đ
ơng có tới 19 lần nhà thơ nhắc tới đôi mắt;
ở Tần Ngọc là 11 lần, còn ở các kịch thơ có tới 25 lần xuất hiện hình ảnh đôi
mắt); cũng thế, có tới 3/4 số bài sáng tác của Huy Thông có nhạc. Hình tợng âm
nhạc bao gồm nhạc tự nhiên, nhạc nhân tạo, nhạc nhân hoá Dới đây, chúng tôi
tập trung trình bày thành hai phần: hội hoạ và âm nhạc trong thơ Huy Thông.
3.1. Hội hoạ trong thơ Huy Thông
Hội hoạ trong thơ Huy Thông biểu hiện chủ yếu ở hai khía cạnh: thiên
nhiên và con ngời, đợc khắc hoạ ở nhiều dáng vẻ với những nét riêng biệt.
3.1.1. Những bức tranh thiên nhiên
Nhiều sáng tác của Huy Thông đã thể hiện đợc những bức tranh đầy màu
sắc. Từ những cái rất mơ hồ của gió xuân , sơng mờ , với sự phối màu, hoà sắc
tinh tế: Bên bờ hồ hiu quạnh, gió nhu mì; Lớt bay qua tấm thảm cỏ xanh rì; Lấm
17
tấm điểm những hạt sơng bằng bạc (Thu). Cũng có những cảnh thiên nhiên đợc
miêu tả bằng nét bút trau chuốt, tỉ mỉ: Vơ vất đáy hồ, mơ hồ, giăng mọc; Tắm sắc
xanh màu ngọc bên lầu (Huyền Trân Công chúa). Timôphêép nói: Khả năng
nghệ thuật thể hiện ở tính hình tợng của ngôn từ [212,tr. 28], đó là khả năng
nghệ thuật đa ta đến thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc, xúc động của thi
sĩ. Mà trong thơ Huy Thông, đó là những hình ảnh thiên nhiên nh đợc chạm khắc,
đẽo gọt, gân guốc, xù xì: Nhiều đêm tối đen nh địa phủ; Sóng dữ dội nh ma
thiêng kêu rú (Tiếng sóng). Nhiều hơn cả, ở những câu thơ tả cảnh là trạng thái
chọn làm điểm tựa cho những cảm xúc vui tơi, dạt dào hứng khởi trớc thiên
nhiên và cuộc đời. Trong thơ Huy Thông, ta không thấy những cảnh u buồn gợi
cảm giác về một sự u sầu, não nền; ngay cả lúc ông ngắm nhìn "trời sầu chan
chứa gió" thì đã ngay lập tức thấy "vầng ô lộng lẫy" chan hoà và nhà thơ lại náo
nức "lên đờng sán lạn".
3.1.3. Chân dung phái nữ
18
Huy Thông còn là bậc thầy về tranh chân dung. Đây là hình ảnh Tiên
nữ: Mắt em nh nớc mơ màng; Môi em hồng thắm phải nhờng thắm hơn
(Lòng son sắt). Ngời thiếu nữ trong thơ Huy Thông không bị gò bó bởi các ớc
lệ của những bức tranh tố nữ xa; ông tả ngời thiếu nữ bằng những cảm nhận trực
quan mới mẻ, nhng so sánh táo bạo. ở chân dung Anh Nga, nhà thơ có cái nhìn
từ xa đến gần: từ vẻ ngời "yểu điệu, tơi thắm, dịu dàng" đến "đoá môi, mái tóc"
rồi cuối cùng mới là cái nhìn cận cảnh: "đôi mắt". Nhiều khi nhà thơ không "vẽ" tỉ
mỉ mà chỉ đa vài nét phác một hình thể qua những "điểm nhấn" nhiều gợi tả:
Môi xinh tơi với mắt mơ hồ; Với tấm thân dịu dàng tha thớt (Chiều hôm
qua). Nhà thơ không vẽ "môi hồng", "môi thắm", mắt "đen", "mắt nhung" mà ông
gọi "môi xinh, mắt mơ hồ", "tấm thân dịu dàng" .
Đỉnh cao của tranh chân dung trong thơ Huy Thông phải kể chân dung
Ngu Cơ trong Tiếng địch sông Ô. Nhà thơ đã vận dụng rất nhiều biện pháp nghệ
thuật, vừa so sánh: cặp mày thanh êm ái nh mây cong; tóc óng đen nh ao trong
dới bóng đêm mù mịt; vừa ẩn dụ vầng trán bâng khuâng , cặp mắt nồng nàn
mà xa xăm, mà say đắm Vẽ chân dung Ngu Cơ, Huy Thông chấm phá mấy nét
về mắt, cặp mày, vầng trán và mái tóc. Nhà thơ đã vẽ chân dung này bằng sự
hòa phối kỳ diệu của hội hoạ và thơ ca. Có thể coi những câu thơ tả Ngu Cơ trong
Tiếng địch Sông Ô là bức vẽ "chân dung" phái nữ bằng ngôn từ hoàn hảo của ông.
3.2. Âm nhạc trong thơ Huy Thông
Về mối quan hệ giữa âm nhạc và thơ ca, ở phơng Đông có quan niệm
Thi trung hữu nhạc; còn ở phơng Tây, Edgar Poe cho rằng: "Chính từ trong âm
tới cách gieo vần, ngắt nhịp, ông gieo vần theo lối cặp đôi với những độ dài ngắn
khác nhau của các câu thơ, để cho còn lại rất nhiều khoảng trống (ánh trăng
xuân ; Hỡi giai nhân ), đó là những dấu "lặng" làm cho chất thơ lan toả.
3.2.2. Nhạc tự nhiên
Nhạc tự nhiên là những giai điệu của tự nhiên mà thi sỹ nghe, cảm đợc
từ thiên nhiên sống động và dạt dào chất thơ của cuộc sống. Đa nhạc ấy vào
trong thơ, khiến rất nhiều tác phẩm của Huy Thông luôn ríu rít những âm thanh
của Tiếng hoạ mi ca, của Tiếng sóng dạt dào. Từ tiếng sóng đến tiếng gió dào
dạt của Gió xuân, từ tiếng vàng anh trên cành liễu thiết tha tô điểm cho
Hơng xuân rực rỡ, ngọt ngào ta lại lắng nghe hoạ mi dìu dặt tiếng vàng Nh
là sự "trở về với thiên nhiên"để nhà thơ lãng mạn lắng nghe Tiếng hoạ mi ca sẻ
chia, cảm thông với tâm tình hoạ mi nh một tri kỷ.
3.2.3. Nhạc nhân tạo
Nhạc nhân tạo là thứ âm nhạc từ một loại nhạc cụ nào đó đan xen trong
suốt bài thơ và có vai trò thể hiện một mạch cảm xúc trong tác phẩm (tiếng tiêu,
tiếng trúc, tiếng đàn). Trong các tập thơ của Huy Thông số lần xuất hiện của nhạc
nhân tạo tơng đối lớn. ở Tiếng sóng - Yêu đơng là 37 lần có tiếng tiêu, tiếng
trúc, tiếng tre, tiếng đàn. ở Tần Ngọc là 13 lần; riêng bài Khúc tiêu thiều (Tây
Thi), có 18 câu thì 10 lần xuất hiện tiếng tiêu. Điểm đặc biệt ở loại âm nhạc này
trong thơ Huy Thông là ông không miêu tả tiếng nhạc - hoặc nếu có thì chỉ lớt
qua theo kiểu ta say gẩy khúc hoàng kỳ nàng nghe hoặc trúc cao thỉnh thoảng
du dơng hát , nghe dơng cầm thổn thức nơi xa Viết về nhạc, Huy Thông,
đã biểu hiện nó trong những câu chữ nhiều khi hay đến mức độ tuyệt vời [50 -
62], ông đã mợn tiếng nhạc để bày tỏ, dùng nhạc để lay động lòng ngời. Rất
nhiều cuộc gặp gỡ, chia ly, nhiều tâm tình trong thơ Huy Thông đều có nhạc nhân
tạo. (Dăm bài ca, Bấy nhiêu đêm, Đợi chờ . ). Nhạc nh một thứ "vật liệu" quan
trọng trong cấu trúc, nội dung và cảm xúc của thơ Huy Thông.
3.2.4. Nhạc nhân hoá
Nhạc nhân hóa là âm nhạc đợc nhân hoá - trở thành nh một nhân vật
của thơ mang những tâm t, say đắm của tâm hồn thi nhân, của cảnh thơ và trở
nhiên, nhạc nhân tạo và nhạc nhân hoá. Có thể thấy trong thơ Huy Thông, việc kết
hợp dần dần các loại hình nghệ thuật (hội hoạ, âm nhạc) đã hoàn thiện một phong
cách thơ mới mẻ và độc đáo trong cuộc cách mạng trong thơ ca của dân tộc. Chơng 4
ảnh hởng của Huy thông
ngay trong phong tro thơ mới
Mặc dù có những phẩm chất và giá trị đáng quý nh đã đợc trình bày ở
ba chơng trên, nhng thơ Huy Thông vẫn còn ít nhiều những nhợc điểm đáng
tiếc nh: thiếu sự cô đúc, hàm súc, câu thơ th
ờng rờm rà, rất nhiều h từ và liên
từ (và, là, mà, rồi, vì chng ), ý và cảnh ít khi hoà quyện vào nhau. Nhng
những nhợc điểm ấy không che lấp đợc những giá trị to lớn cơ bản tác động
ngay đến phong trào Thơ Mới ở giai đoạn tiếp theo của thơ Huy Thông. Điều này
đã đợc ngời đơng thời công nhận: "Cha bao giờ thi ca Việt Nam có những lời
hùng tráng nh trong các tác phẩm của ngời" [217,tr. 81] và Huy Thông "đã lập
nên một trờng thơ nho nhỏ, trong ấy có Lam Giang, Phan Khắc Khoan và một
nhà thơ sau này sẽ đi rất xa: Chế Lan Viên"[217,tr. 30 ]. Quả thật, Huy Thông đã
mở đầu cho một dòng thơ chan chứa cảm hứng anh hùng đầy tính chất bi tráng
không những gây ảnh hởng đến thơ mà cả đến kịch thơ của ngời đi sau (chẳng
hạn những điểm tơng đồng trong bài thơ Con voi già của Huy Thông và bài thơ
21
Chiến tợng của Chế Lan Viên). Nhng, chính Huy Thông lại là ngời mở đầu
cho nền kịch thơ hiện đại ở nớc ta. Điều này cũng đợc ngời đơng thời công
nhận: "Ngời khởi xớng ra lối viết kịch bằng thơ là thi sĩ Huy Thông ông đã có
ảnh hởng và vạch lối đi cho những nhà viết kịch thơ sau này" [225]. Vì thế trong
chơng cuối này của luận án chúng tôi sẽ tập trung vào vấn đề ảnh hơng của thơ Huy
Thông đối với nền kịch thơ, vốn có một phần bao hàm luôn sự ảnh hởng về cảm hứng
4.1.1. Viết về tình yêu lãng mạn.
Viết về tình yêu lãng mạn, Huy Thông có kịch thơ Anh Nga. Sau Anh
Nga là Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội của Hàn Mặc Tử. Cả hai vở kịch đều chỉ
có hai nhân vật, ở Duyên kỳ ngộ là Hàn Mặc Tử và Thơng Thơng, ở Quần tiên
hội là Quỳnh Tiên và Huyền Tiên; ngoài ra là các "nhân vật phụ trợ". Nói về hai
tác phẩm này, Quách Tấn cho rằng đây là hai kịch thơ "có cốt truyện thanh tao;
lời thơ thanh tú" [310,tr. 171]; còn Trần Thị Huyền Trang thì coi "đây là những
dòng mau mắn tràn đầy niềm vui về một hạnh phúc thần tiên hiếm có" [310,tr.
22
205]. Không gian kịch đợc miêu tả qua lời các "nhân vật phụ trợ". Ngôn ngữ
trong kịch mang màu sắc h ảo. Năm 1942, Vũ Hoàng Chơng viết kịch thơ Vân
Muội, vở kịch gồm 3 hồi. Kịch thơ đợc ban kịch Hà Nội diễn ở nhà hát Tây Hà
Nội lấy tiền gây quĩ cứu tế quốc gia ngày 12-12-1942 và đợc đánh giá là "một
bức tranh hoạt động đủ màu ánh bóng, đầy thi vị"[254]. Qua kịch thơ Vân Muội,
ban kịch Hà Nội đã "tỏ bày bằng Pháp văn và quốc âm rằng: Kịch không thể lẫn
với tuồng, chèo đợc cần hết sức phục hng kịch và truyền bá để ai nấy đều hiểu
kịch theo chính nghĩa của nó" [254]. Năm 1943, Vũ Hoàng Chơng lại cho in hai
kịch thơ ngắn: Trơng Chi và Hồng Điệp (đến nay, vở Hồng Điệp cha tìm thấy).
Viết kịch thơ Trơng Chi, Vũ Hoàng Chơng hớng tới một bi kịch tình yêu gắn
với nền nếp gia phong, giáo lý phong kiến; những cung bậc khác nhau của tình
cảm con ngời.
4.1.2. Viết về ngời anh hùng.
Viết về ngời anh hùng, Huy Thông có kịch thơ Kinh Kha; Thao Thao có
kịch thơ Quán biên thuỳ cũng viết lại đề tài này với lời chú: "Chuyện xảy ra vào hồi
Xuân Thu Chiến Quốc" và đợc chia thành ba hồi, mỗi hồi gồm nhiều cảnh. Nội
dung của kịch thơ là nhằm khắc hoạ chân dung ngời anh hùng với những mâu
thuẫn nội tâm gay gắt; đồng thời cũng qua đó mà ít nhiều tái hiện lịch sử. Nhận xét
về kịch thơ này, ông Hội Thống đã viết trên tạp chí Tri Tân: "Qua Quán biên thuỳ,
ta kỳ vọng nhiều ở ngọn bút sắc sảo, mạnh mẽ của ông Thao Thao" [225].
mà ông sáng tạo nên một câu chuyện từ lịch sử. Xuyên suốt kịch thơ là mối tình
ngang trái của một cung phi với Trần Can. Làm nền cho mối tình ấy với sự dẫn dắt
không gian, thời gian kịch là vai trò của tiếng ca, tiếng trúc xa xa (nh là tiếng
ca, tiếng tỳ bà trong kịch thơ của Huy Thông).
4.2. Những cách tân của các nh viết kịch thơ sau
Huy Thông.
Nói "khởi xớng", "vạch lối đi" là nói chuyện ảnh hởng. Nhng việc
chịu ảnh hởng không phải chỉ ở chỗ theo nguyên xi sự "khởi xớng", tuân thủ
một cách máy móc sự vạch sẵn mà còn gián tiếp thể hiện qua việc bổ sung, phát
triển những lối đi đã đợc vạch sẵn ấy. Kịch thơ Huy Thông còn rất yếu về tính
chất sân khấu (ít xung đột kịch tính, không có chỉ dẫn sân khẩu mà nhà thơ rất chú
ý khắc hoạ tâm trạng nhân vật, chất thơ, chất chữ tình, qua ngôn ngữ, hình ảnh
thơ ), mà những ngời đi sau đã chú ý khắc phục dần. Có thể xét vấn đề theo
những mặt sau:
4.2. 1. Đề tài, cốt truyện.
Nói đến kịch, là phải nói đến cốt truyện giàu kịch tính của tác phẩm.
Nghiên cứu kịch thơ Việt Nam sau Huy Thông, chúng tôi thấy cốt truyện trong
các tác phẩm đã có sự biến đổi rõ rệt, theo xu hớng ngày càng phức tạp hơn,
nhiều kịch tính hơn; triển khai sự kiện và nhân vật lịch sử toàn diện hơn, đặc biệt
là việc tăng cờng thêm những phần h cấu về mặt tình tiết cốt truyện (Kiều Loan
của Hoàng Cầm, Trần Can của Phan Khắc Khoan, Hận Nam quan của Hoàng
Cầm, Lý Chiêu Hoàng của Phan Khắc Khoan).
Một số kịch thơ khác, các tác giả cũng sử dụng nhiều cốt truyện lịch sử
và rất nhiều h cấu, từ đó mà tạo nên những mâu thuẫn, xung đột kịch (Dơng
Quý Phi của Thế Lữ và Vi Huyền Đắc, Yêu Ly của Lu Quang Thuận). Viết về
lịch sử nh vậy, các tác giả vừa đảm bảo đợc tính chân thực của lịch sử, giữ đợc
cái tinh thần của lịch sử; vừa thoả mãn sức mình trong việc h cấu nghệ thụât mà
không làm sai lạc lịch sử.
Nh vậy, sự h
cấu để tạo nên những cốt truyện mới cho kịch thơ là một
cha thể so sánh đợc với ngôn ngữ của kịch nói.
4.2.4. Chỉ dẫn sân khấu.
Chỉ dẫn sân khấu là những "hớng dẫn" của tác giả về bài trí không gian,
thời gian, việc ra vào sân khấu của nhân vật; đôi khi cả về giọng nói, dáng điệu
của nhân vật trên sân khấu cũng đợc hớng dẫn. Điều này chứng tỏ các tác giả đã
"nhìn thấy sân khấu trớc mắt" khi viết kịch bản.
Các kịch thơ sau này, càng về sau, các tác giả càng rất hay sử dụng các
chỉ dẫn sân khấu để mở rộng không gian, thời gian thực tại trong kịch. Chính
những chỉ dẫn sân khấu về hồi, cảnh này giúp ngời ta có thể đa kịch thơ lên sân
khấu nh các thể loại kịch nói, ca kịch. Nhờ những chỉ dẫn sân khấu, mà một thời
gian thực tại rất ngắn lại có thể trải thành những tr
ờng đoạn trên sân khấu (Kiều
Loan, Bóng giai nhân ), hoặc một thời gian thực tại rất dài có thể thu lại trong
một cảnh (Ngời Hoa L, Quán biên thùy ) Càng những sáng tác về sau, chỉ
dẫn sân khấu càng rõ ràng cụ thể hơn. Đó là chỉ dẫn về bài trí sân khấu (Trần
Can, Quán biên thuỳ ), chỉ dẫn về cử chỉ, thái độ, nét mặt, hành động của
nhân vật (Dơng Quý Phi, Yêu Ly ). Còn Viễn khách Hoà Thu lại có chỉ dẫn
"bên lề đối thoại": Lão Sơng Đầu: (tháo bầu rợu uống và nói); sau đó: uống
rợu, cất tiếng ngâm). Viễn khách (vái, nhìn quanh vờn, có vẻ buồn và nói. Sau
đó, nếm rợu rồi ngâm ).
Các chỉ dẫn sân khấu tuy là một yếu tố bên ngoài nhng cũng góp phần
thể hiện nội dung kịch, tính cách nhân vật và hơn tất cả là làm cho tính chất sân
khấu của kịch đợc tô đậm hơn. Đây là một trong những lý do khiến các kịch thơ
sau Huy Thông có thể đa lên sân khấu trình bày trớc công chúng
*
* *
25
Thơ Huy Thông, bên cạnh những u điểm còn có những nhợc điểm.
Nhng những nhợc điểm đó cũng không che lấp đợc những giá trị to lớn của
lập" một mạch cảm hứng. Sáng tạo độc đáo của thơ Huy Thông là ở chỗ thể hiện
những "liên kết cặp đôi" cảm hứng: tình yêu và tinh thần yêu nớc (Huyền Trân
công chúa), cảm hứng về tình yêu và bi kịch anh hùng (Tiếng địch sông Ô), cảm
hứng yêu n
ớc và lòng ngỡng mộ ngời anh hùng chiến bại (Con voi già). Sự
"liên kết cặp đôi cảm hứng" giúp nhà thơ mở rộng tứ thơ, dễ dàng giãi bày tâm sự
yêu nớc thầm kín. Đây là một hiện tợng hiếm có ở Thơ Mới. "Liên kết cặp đôi"
cảm hứng đã góp phần dẫn đến sự mở rộng thể loại trong thơ Huy Thông.
2. Huy Thông là một trong số ít nhà thơ mà ngay từ buổi đầu đến với Thơ
Mới đã "luôn có ý thức tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật". Cũng nh các nhà thơ cùng
thời, Huy Thông đã đổi mới thơ ca ở việc thể hiện cảm xúc, cách nhìn và cảm
nhận thế giới, ở việc mở rộng câu chữ và cách gieo vần, ngắt nhịp, ông còn có
những tìm tòi thử nghiệm đi từ thơ đến kịch thơ.
26
Mở đầu cho thử nghiệm này là "thơ đối thoại (Chiều hôm qua, Trên
bi bể, Lòng son sắt). ở đây, tuy cha có sự "phân vai" nhng có hai "nhân vật"
thờng tự bộc lộ cảm xúc thông qua đối thoại. ở loại đối thoại này, hình thức và
ngôn ngữ đối thoại cha đợc phân chia rành mạch, rõ ràng nhng chắc chắn
không phải là thể thơ tự sự hay trữ tình thông thờng nữa.
Tiếp theo là "thơ kịch" mà tiêu biểu là Tiếng địch sông Ô. ở đây, có yếu
tố cốt truyện với mâu thuẫn xung đột, những hoàn cảnh kịch tính và đối thoại.
v.v nhng nhà thơ chú ý nhiều đến chất thơ, dụng công ở các phơng thức trần
thuật, các thủ pháp nghệ thuật hoặc các đoạn trữ tình ngoại đề với bút pháp diễn tả
táo bạo, hùng hậu thể hiện một tính chất trữ tình mạnh mẽ. Nhà thơ thể hiện "lời"
của các nhân vật qua những tín hiệu ngôn ngữ cụ thể, qua các dấu câu hoặc qua lời
ngời kể truyện. Các "lớp" của xung đột đợc diễn tả liền mạch không có sự phân
vai, chia hồi dàn cảnh.
Cuối cùng là "kịch thơ". Huy Thông là ngời mở đầu cho thể loại kịch
thơ ở Việt Nam, với những đề tài tơng đối phong phú: kịch viết về tình yêu (Anh
27
sáng tác của Phan Khắc Khoan, Chế Lan Viên. v.v là những biểu hiện. Đặc biệt
Huy Thông đã khởi xớng ra lối viết kịch bằng thơ (Lê Thanh), chỉ trong vòng
3-4 năm (từ 1934 đến 1937) ông đã sáng tác sáu kịch thơ, những kịch thơ này đều
có nội dung và đề tài tơng đối phong phú, với những thử nghiệm tìm tòi cho
một thể loại mới. Sau những kịch thơ Huy Thông, từ năm 1939, kịch thơ xuất hiện
và nở rộ trên thi đàn. Nối tiếp Huy Thông, các nhà viết kịch thơ sau này cũng viết
về tình yêu, anh hùng chiến bại, tình yêu và tinh thần yêu nớc, tình yêu và sự
nghiệp ngời anh hùng Nhng ở họ, có sự mở rộng về đề tài tơng đối phong
phú và nhiều sáng tạo. Tuy viết nhiều về lịch sử, nhng họ chú ý tăng cờng thành
phần h cấu (Hận Nam Quan, Yêu Ly )
Trong kịch thơ đã có sự phân vai và đối thoại rất rõ. ở nhiều tác phẩm,
các đối thoại đã chủ yếu để giải quyết mâu thuẫn, xung đột kịch (Dơng Quý Phi
- Thế Lữ; Vân Muội - Vũ Hoàng Chơng ). Vì thế, nhiều khi đối thoại trong
kịch thơ gần với câu thơ điệu nói, có khi gần nh chuyển hẳn thành lời thoại, văn
xuôi (Kiều Loan - Hoàng Cầm; Yêu Ly - Lu Quang Thuận ).
Tính cách nhân vật trong kịch thơ đã đợc thể hiện tơng đối rõ, trở
thành một yếu tố không thể thiếu trong việc thể hiện cốt truyện. Các tác giả diễn
tả tính cách nhân vật không chỉ thông qua ngôn ngữ thơ mà chủ yếu là qua hành
động của nhân vật kịch (Kiều Loan - Hoàng Cầm; Bài thơ làm trong tửu quán-
Hoà Thu ).
Ngoài ra, kịch thơ đã có những chỉ dẫn sâu khấu tơng đối cụ thể. Đó là
những lời hớng dẫn của tác giả về thời gian, không gian, bài trí sân khấu và việc
ra vào sân khấu của nhân vật Điều này đã làm cho các kịch thơ phần lớn diễn
đợc trên sân khấu và dần trở thành một thể loại quen thuộc với công chúng đơng
thời. Kịch thơ Huy Thông, do đó, đã bị vợt qua ngay từ trớc cách mạng, mặc dù
vị trí đặt nền móng của ông là bất biến và vĩnh tồn.
*
* *
Những thành tựu nói trên của thơ Huy Thông không những làm vinh quang