nguyễn duy với tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa trong phong trào thơ mới - Pdf 16

Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA NGỮ VĂN
MÔN : LÝ LUẬN VĂN HỌC II
ĐỀ TÀI :
Nguyễn Duy với tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa
trong phong trào thơ mới
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Cô: Trang
Lớp: Cử nhân văn 2B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2013
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA NGỮ VĂN
MÔN : LÝ LUẬN VĂN HỌC II
ĐỀ TÀI :
Nguyễn Duy với tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa
trong phong trào thơ mới
DANH SÁCH NHÓM
STT Họ và tên MSV
1 Nguyễn Thị Cẩm Ly K38.606.067
2 Vũ Trần Gia Huy K38.606.054
3 Trần Nguyễn Phương Mai K38.606.068
4 Đặng Thanh Mẫn K38.606.009
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
MỤC LỤC
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học

Thanh Hóa.
Năm 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin,tham gia chiến đấu ở
nhiều chiến trường.
Sau năm 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ năm 1977, Nguyễn
Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống
Mỹ cứu nước của dân tộc và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu.
Thơ ông gần gũi với văn hóa dân gian, nhưng sâu sắc mà rất đỗi tài hoa, đi sâu vào cái
nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam.
“ Thơ Nguyễn Duy sâu lắng, thắm thiết cái hồn cái vía của ca dao, dân ca Việt
Nam.Những bài thơ của ông không cố gắng tìm kiếm những hình thức mới mà đi sâu vào
cái nghĩa cái tình muôn đời của con người Việt Nam. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy cũng
không bóng bẩy mà gần gũi, dân dã, đôi khi hơi “bụi”, phù hợp với ngôn ngữ thường
nhật”. ( Theo “Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ”).
2. Sự nghiệp
Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
Tác phẩm tiêu biểu: Cát trắng (1973), Mẹ và em ( 1987), Đường xa (1990), Về (1994)…
III. TÁC PHẨM
1. Dạ hương
• Xuất xứ
Bài thơ “Dạ hương” là bài thơ thứ 19 trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy- tập
thơ đạt giải A của Hội nhà Văn Việt Nam năm 1984
• Phân tích
Dạ hương
Sẽ rất nhớ dáng người vừa thoáng gặp

5
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
Chiều Lạng Sơn súng nổ rụng hoa đào

người con gái thì phải được nâng niu, được nương tựa, được hưởng những gì một người
con gái đáng được hưởng nhưng ở đây cô phải làm “tấm lưng” làm chỗ dựa , làm nơi
nương tựa cho người khác cho những chú chim non bé bỏng-những học sinh của cô và từ
“ ngỡ” thể hiện sự ngờ hoặc, nghi vấn nhằm nhấn mạnh bản lĩnh của người con gái. Ở hai
câu thơ cuối” Dáng điệu ấy chốt lại lòng ta mãi.
Như dạ hương thoáng gặp một đêm nào

6
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
Ở câu đầu tác giả lại sự dụng từ “chốt lại” nhưng là lòng được chốt lại kết hợp với
biện pháp so sánh qua từ như và hình ảnh “dạ hương” biểu tượng của mùi thơm không
nồng nàn nhưng thoang thoảng, da diết; không sang trọng nhưng dịu dàng, tha thiết là
biểu tượng của người con gái Việt Nam thời hậu chiến.
Về nội dung:qua bài thơ chúng ta thấy được, hình tượng người con gái Việt Nam
không còn là những hình tượng “cầm, kì, thi, họa” hay “ công, dung, ngôn, hạnh”, mà
thay vào đó là một hình tượng anh hùng, dám đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù.Đồng
thời bài thơ “Dạ hương” cũng diễn tả nỗi niềm thương thớ của Nguyễn Duy với một
người con gái, về tình yêu đôi lứa- đây cũng là một đặc trưng cơ bản của thơ Việt sau
1975. Về nghệ thuật:sử dụng thể thơ tám chữ nhưng mới mẻ và được biến tấu(chữ đầu
câu không viết hoa); kết hợp các biện pháp tu từ một cách nhuần nhiễn sử dụng nhiều
hình ảnh ẩn dụ.
2. Đò lèn
• Xuất xứ
Bài thơ sáng tác 9 -1983, trong một dịp tác giả trở về thăm quê ngoại, sống với những
hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu. Bài thơ là sự trỗi dậy của ý thức tự nhìn lại
bản thân, hướng tới những giá trị nhân bản trong thời đại mới.
• Tác phẩm
Nhan đề bài thơ giản chỉ là tên gọi một địa danh, nhưng lại mang hình
ảnh giàu sức gợi tả. Đò Lèn là quê ngoại, nơi tác giả Nguyễn Duy sống cùng

hề bận tâm đến hiện thực cuộc sống nghèo khó, cơ cực, bữa đói, bữa no đây
là sư vô tư lự của tuổi trẻ, sự ngô nghê đáng yêu; thậm chí tác giả cũng
không để ý tới người bà của mình cơ cực, vất vả vật lộn với cuộc sống mưu
sinh thế nào. Tuy khá đáng trách nhưng ấy là một điều không tránh khỏi.
Tôi đâu có biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.
Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực
giữa bà tôi và tiên phật, thánh, thần
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương thầm.
Sự vô tư tới mức “cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng” mà vẫn cứ
“nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm”; tác giả vô tư đến mức người bà ở
ngay bên mình phải lam lũ “mò cua, xúc tép” ở đồng Quan, hàng ngày đi
“gánh chè xanh” bươn chải khi Ba Trại, khi Quán Cháo, Đồng Giao “thập
thững” bước thấp, bước cao trong những đêm giá lạnh cốt để nuôi nấng đứa
cháu nhỏ là mình mà vẫn không hề hay biết. Và cứ thế tuổi thơ của tác giả
trôi qua một thật bình dị, êm ả, bình thản và tuổi thơ ấy cứ “trong suốt giữa
hai bờ hư- thực”. Thực là bà, là năm đói, là củ dong - riềng luộc sượng và
Hư là mùi huệ trắng, hương trầm, tiên, Phật, thánh, thần…

8
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
Có thể xem đây là khúc trữ tình độc thoại nội tâm sâu lắng, đến xót xa
của đứa cháu nhỏ giờ đã trưởng thành và khôn nguôi tự trách sự “vô tư” đến
“vô tâm” trước những hy sinh cao cả của người bà kính yêu .Hay nói cách
khác những câu thơ trên cũng chính là lời ăn năn, hối lỗi dẫu có hơi muộn
mà Nguyễn Duy gửi đến bà, vì mình quá ngây thơ, trong sáng, không phân

dành cho người bà:

9
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
Tôi đi lính lâu ngày không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
Bốn câu thơ là tiếng lòng ngậm ngùi nhưng không kém phần thành kính
của người cháu, nó đong đầy những tiếc thương vô bờ bến, được bộc lộ chân
thành, xúc động. Khi đã là người lính, đã phải nếm trải bao thăng trầm của
cuộc đời, nhận thức của con người cũng sẽ lớn dần cùng năm tháng, chính
điều đó đã giúp nhà thơ nhận ra quy luật của tự nhiên là vĩnh hằng “dòng
sông xưa vẫn bên lở, bên bồi” còn cuộc đời con người là ngắn ngủi, hữu hạn
“bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”. Và khi nhà thơ nhận ra mình biết thương bà
thì “muộn” rồi, bà không còn nữa. Sự hiện hữu của bà bây giờ chỉ còn là một
“nấm cỏ”, an thường giữa trời đất. Bà đi vào cõi vĩnh hằng nhưng trong lòng
cháu hình ảnh bà đã chạm khắc vĩnh cửu cùng với niềm yêu thương da diết
và sự ăn năn, hối lỗi chân thành. Đoạn thơ còn như lời tự thú về sự vô tư đến
vô tâm của người cháu và trong lời tự thú đó chất chứa một nỗi niềm ân hận,
một niềm đau, niềm xót xa, day dứt tận cõi lòng.
Bài thơ được xây dựng bằng vô số những hình ảnh mang tính “biểu
tượng” với ngôn từ mộc mạc, giản dị nhưng không kém phần tinh tế nên dễ
đi vào lòng người. Đồng thời tâm trạng nhân vật trữ tình được xây dựng ,thể
hiện rất sâu sắc với những biến chuyển vô cùng chặc chẽ hợp lí.
Khép bài thơ lại, nhưng âm vang tiếng lòng của người cháu vẫn khiến
bao người đọc xúc động. Bài thơ có sức giáo dục con người hướng về cội
không giáo điều mà chỉ bằng một câu chuyện rất thật, rất giản dị, tự nhiên,
chân thành tác giả Nguyễn Duy đã thực sự chinh phục trái tim người đọc.

là một đề tài xuất hiện trong nhiều tác phẩm của biết bao tác giả nổi tiếng
trong nhiều thế kỉ qua như Lí Bạch với “Tĩnh dạ tứ” tả cảnh đêm trăng sáng
tuyệt đẹp gợi lên nổi niệm nhớ quê hương. Trăng trong “Vọng nguyệt” của
Hồ Chí Minh gợi lên phong thái ung dung, tự tại, lạc quan và thể hiện tâm
hồn yêu thiên nhiên tha thiết của Bác, hay với Hàn Mạc Tử “ thuyền ai đậu
bến sông trăng đó. Có chở trăng về kịp tối nay” “trăng” như là nỗi niềm yêu
thương của ông thì đến với “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp
hình ảnh ánh trăng mang một triết lí sâu sắc. Đó là đao lí “uống nước nhớ
nguồn”.
Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức tuổi thơ của nhà
thơ và trong chiến tranh”:
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông và với bể
hồi chiến trang ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”

11
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
Hình ảnh vầng trăng được trải rộng êm đềm với tuổi thơ trong sáng của
nhà thơ. Những vần thơ tuy ngắn gọn nhưng đã diễn tả được khái quát về sự
vận động cả cuộc sống của con người. Đối với mỗi con người ai ai cũng có
những thứ để gắn bó và liên kết và với tác giả vầng trăng đã gắn bó ngày từ
thời thơ ấu. Hình ảnh trăng, cánh đồng , sông và bể là nơi chôn cất bao kỉ
niệm của nhà thơ. Với cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ “ với”
đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc
ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế
không phải ai cũng có được.
Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc
tới’.Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt

Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là
còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà. Thế
nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó. Trước đây tác giả
sống với “sông” với “rừng” với “bể” thì giờ người lính năm xưa nay cũng
làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa gương”. Và rồi trong
chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người
bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà
mình nhưng mình lại xem như không quen không biết. Con người ta thường
hay thay đổi là như vậy. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có
cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một
con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương
cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên.
Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật
chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy,
một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở
thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật
chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ
bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người. Nhưng rồi một tình
huống bất ngờ xảy ra buộc ngươi lính phải đối mặt:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn – đinh tối ôm
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy
đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm. Trong
cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ
nhận ra một cái gì đó. Khoảng khắc ấy, phút giây ấy người lính bàng hoàng
nhận ra đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của

13

bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng
khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ
bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người.
Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình

14
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho người ta giật mình”
Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí.
“Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy
suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói
gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủù khiến cho con người giật mình. Ánh trăng
như một tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để
thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm
hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn
vậy bọc và che chở cho con người.
“Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ bởi cách diễn đạt bình
dị như lời tâm sự, lời tự thú lời tự nhắc chân thành và nó như một lời nhắc
nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị
tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó. còn ai chưa biết
coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình
ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn. Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung
mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật. Thể thơ năm chữ được vận
dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc
liền mạch của nhà thơ. Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâmtình dã
gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc

biến hóa khôn lường. Nguyễn Duy còn sử dụng nhiều thủ pháp đặc biệt để biểu hiện cái
tâm trạng, cái đau đớn, xót xa trước tình cảnh hiện thực để phản ánh cái hiện thực nghiệt
ngã mà nhân dân đang gánh chịu, Nguyễn Duy thường dùng lối liệt kê, thống kê sự việc
khi viết về những năm tháng ấy.
3. Nghệ thuật thơ sau năm 1975
Vì sau 1975 là giai đoạn Đất nước được thống nhất nên mọi người nói chung và các
thi sĩ nói riêng có điều kiện thuận lợi để làm công việc của mình và đề tài sáng tác trong
giai đoạn này cũng được đổi mới. Thường giai đoạn trước 1975 thì các nhà thơ viết về
kháng chiến, ca ngợi Đảng và Đất nước nhưng sau 1975 thì chủ đề sáng tác lại là tình yêu
đôi lứa, ca ngợi cuộc sống mới và con người mới.
Thơ tự do phát triển mạnh, lối sáng tác phóng khoáng hơn.
Cái tôi trữ tình thể hiện rõ nét trong thơ của tác giả tiêu biểu là Xuân Diệu và Xuân
Quỳnh.
Có lối suy nghĩ và quy luật phá cách hơn tiêu biểu là Nguyễn Duy với tập thơ “ Ánh
trăng”.

16
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Tiểu luận
Lý luận văn học
V. TỔNG KẾT
Qua ba bài thơ của tác giả Nguyễn Duy – một tác giả tiêu biểu trong phong trào thơ
mới trong gia đoạn sau năm 1975 đã cho thấy thơ ca Việt Nam sau năm 1975 phát triển
rất mạnh cả về số lượng, nội dung và hình thức, với nhiều tên tuổi tác giả mới đã góp
phần cho nền văn học Việt Nam thêm đa dạng và phong phú . Chủ đề thơ văn trong giai
đoạn này cũng đa dạng hơn, lối viết, ngôn từ, phong cách cũng phóng khoáng gần gủi và
tự nhiên hơn.
Thơ ca Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo chắc chắn sẽ có những bước phát
triển và ngày càng đa đạng hơn với nhiều tên tuổi mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status