Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
HỒ TRỌNG VIỆT
YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC
CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ THUỘC PHONG TRÀO THƠ MỚI
(NGUYỄN BÍNH, ANH THƠ, ĐOÀN VĂN CỪ)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tp. Hồ Chí Minh, Tháng 5 – 2016
1
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Ngành Sư phạm Văn
chu toàn công việc thực tập và bảo đảm viết khóa luận đúng hạn.
Em xin chúc các thầy cô luôn dồi dào sức khỏe, đạt nhiều thành công tốt đẹp trong
công việc.
Trân trọng
Hồ Trọng Việt
3
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
MỤC LỤC
DẪN NHẬP
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ
1.1 Giới thuyết các khái niệm............................................................................. 19
1.1.1 Khái niệm văn hóa ............................................................................ 19
1.1.2 Khái niệm văn hóa dân gian ............................................................. 21
1.1.3 Các thành tố văn hóa dân gian .......................................................... 22
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết ................................... 26
1.2.1 Lí luận về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học ............................. 26
1.2.2 Ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với một số tác giả văn học viết27
1.2.2.1. Đối với một số tác giả trên thế giới........................................ 27
1.2.2.2. Đối với một số tác giả ở Việt Nam ........................................ 29
1.3. Đôi nét về phong trào Thơ mới và vị trí của ba nhà thơ trong phong trào
Thơ mới ................................................................................................... 38
1.3.1 Đôi nét về phong trào Thơ mới ........................................................ 38
1.3.2 Vị trí của ba nhà thơ trong phong trào Thơ mới ............................... 42
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Văn hóa được xem như là nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương. Hiện
nay, do có sự mở rộng trong quan niệm và các phương diện tiếp cận, văn chương không
chỉ được nhìn nhận dưới góc độ tư tưởng, triết học, mỹ học…mà còn được đặt trong mối
quan hệ với văn hóa. Góc nhìn văn hóa đòi hỏi nhà nghiên cứu phải đặt tác phẩm không
chỉ trên diện rộng mà còn nằm ở chiều sâu, trong mối liên hệ với các hoạt động khác
nhau của con người, dựa vào các qui luật và giá trị thường hằng chi phối cuộc sống con
người trong lịch sử. Trên cơ sở đó, với việc đi sâu khám phá nội hàm văn hóa ẩn chứa
trong lớp vỏ ngôn từ, các nhà nghiên cứu có thể bóc tách hết vẻ đẹp của tác phẩm từ
nhiều khía cạnh khác nhau. Do vậy, việc vận dụng những quan điểm và thành tựu của văn
hóa để lí giải văn học được xem là hướng nghiên cứu khoa học và khá phổ biến hiện nay.
Trong cuốn “Thi pháp văn học Nga cổ”, ĐX.Likhatrop đã lí giải vì sao phải
nghiên cứu thi pháp văn học Nga cổ nói riêng và thi pháp văn học nghệ thuật nói chung:
“Qúa trình văn hóa của mỗi dân tộc, không chỉ là quá trình biến cải, tạo nên cái mới mà
còn là quá trình giữ gìn cái cũ, quá trình tìm thấy cái mới trong cái cũ” 1. Đúng vậy,
không riêng ở Nga, bất cứ nền văn học nào trên thế giới cũng đều chịu ảnh hưởng và chi
phối bởi nguồn mạch dân gian. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh sự ảnh hưởng của văn
hóa dân gian mỗi dân tộc đối với các tác gia lớn trên thế giới như: Shakespeare (Anh),
Tagore (Ấn Độ), Pushkin (Nga), Ngô Thừa Ân, Bồ Tùng Linh (Trung Quốc),
Kawabata (Nhật Bản)…Ở Việt Nam, các tác giả từ trung đại đến hiện đại đều có sự tiếp
thu một cách nhất định đối với “vốn văn học cổ” của dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương…Trở về với văn hóa dân gian là xu hướng chung của lịch sử văn học
và thi pháp văn học không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới.
Trong phong trào Thơ mới, bên cạnh các nhà thơ chịu ảnh hưởng của văn hóa
Nghiên cứu về văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính
• Từ góc độ nội dung
Thơ Nguyễn Bính như chiếc giếng khơi, càng đào sâu càng tìm được nhiều điều
mát ngọt. Có nhiều công trình nghiên cứu về chất dân gian trong thơ của ông nhưng sự
đánh giá của Hoài Thanh – Hoài Chân trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” (1942) đến nay
vẫn được xem là ý kiến cơ bản nhất, mở đầu cho lịch sử nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính:
“Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta bỗng thấy
vườn cam bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân
quê là những tính tình căn bản của ta” [55, 336-337]. Nguyễn Bính là một nhà thơ nằm
7
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
trong giai đoạn 1932 – 1945 – giai đoạn có sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp ít nhiều vào
thơ dù trong ý thức của các nhà thơ luôn muốn quay trở về với nguồn cội. Hoài Thanh –
Hoài Chân cũng đã “phàn nàn” về điều này: “Đáng trách chăng giữa những bài giống hệt
ca dao người bỗng chen vào một đôi lời quá mới. Ta thấy khó chịu như khi vào một ngôi
chùa có những ngọn đèn điện trên bàn thờ Phật. Cái lối gặp gỡ ấy của hai thời đại rất dễ
trở nên lố lăng” [55, 338]. Đây cũng là cơ sở để ta thấy được cảm hứng tư tưởng của
Nguyễn Bính, trong thơ ông luôn có sự đấu tranh: một mặt, bất đồng với phong trào Âu
hóa và mặt khác là ý thức trân trọng ngợi ca những giá trị văn hóa tinh thần. Có thể nói,
những nhận định của Hoài Thanh – Hoài Chân là tiền đề để đi sâu khai thác chất dân gian
trong thơ Nguyễn Bính.
Năm 1996, trong lời tựa cuốn Thơ tình Nguyễn Bính, Kiều Văn đã đặt lên bàn cân
giữa Nguyễn Bính và các nhà thơ trong phong trào Thơ mới để xác định bản sắc riêng
trong thơ Nguyễn Bính. Ông cho rằng giữa cái hào hoa lãng tử của Thế Lữ, cái bay bổng
và cách xử sự trong quan hệ giữa người với người. Đó cũng là nền thẩm mĩ đượm màu
dân tộc, giản dị chân quê trong sinh hoạt hằng ngày, lòng hiếu thảo, giấc mơ quan trạng.
Tình yêu thề bồi tình cảm gia đình sâu nặng. Cho đến những ngày hội xuân những đêm
hát chèo, buổi lễ chùa, lớp học thầy đồ…Tất cả đều là những bộ phận nhỏ của văn hóa
làng quê. Chính tầng văn hóa này đã thâu giữ sâu kín hồn quê và thơ Nguyễn Bính khai
thác thành công nếp văn hóa lành mạnh, giàu chất thẩm mĩ” [3, 135].
Tác giả Đoàn Hương trong bài viết Nguyễn Bính – thi sĩ nhà quê (2000) cũng nhận
định Nguyễn Bính: “là người đem nhiều nhất những mã ngôn ngữ của đời sống dân dã
vào thơ Việt Nam hiện đại. Những giậu mồng tơi, giăng sáng, vườn chè, trống chèo, hoa
xoan, hoa bưởi, hoa cam, cánh buồm nâu, vườn dâu, vườn cam, tất cả đã vào trong thơ
Nguyễn Bính một cách trữ tình, duyên dáng như ca dao”. [35, 162]. Bên cạnh đó, bà còn
có những phát hiện mới mẻ, đó là mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, giữa văn hóa
làng xã với văn hóa quốc gia “một mảng đề tài khác mà nhà thơ không chú tâm lắm
nhưng đã đem lại bộ mặt tinh thần riêng cho thơ ông, đó là sự chuyển tải nghệ thuật đời
sống làng quê Việt Nam vào đời sống văn hóa chung của dân tộc” [3, 194]
Như vậy, về mặt nội dung Nguyễn Bính đã đưa vào thơ những đề tài bình dị, dân
dã, cũng như cách cảm, cách nghĩ của dân gian. Ông luôn có ý thức suy tôn cái đẹp thuộc
9
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
về nguồn cội như những giấc mộng đẹp, cuộc tình quê đẹp, cảnh quê hữu tình. Ở mức độ
khái quát, các bài nghiên cứu cơ bản đã khẳng định thơ Nguyễn Bính có dấu vết của văn
hóa dân gian trên phương diện nội dung.
• Từ góc độ nghệ thuật
Về thể thơ, năm 1968 trong cuốn Việt Nam thi nhân tiền chiến, phần viết về tác giả
Nguyễn Bính, Nguyễn Tấn Long so sánh với nguồn mạch Thơ mới và nhận ra thơ
Nguyễn Bính có “mạch thơ như nguồn nước chảy tuôn, tác giả đã sử dụng thơ lục bát tạo
Tiếp tục ý kiến của Hà Minh Đức, Đoàn Hương trong bài viết Nguyễn Bính – thi sĩ
nhà quê (2000) nhận định: “Chính cái thi pháp thơ của thơ ca dân gian đã mang đến sự
phóng khoáng và sức mạnh cho bút pháp của Nguyễn Bính…Có lẽ ở thế kỉ này, Nguyễn
Bính là một trong những nhà thơ thành công lớn khi đem thi pháp của thơ ca dân gian
vào trong thi ca hiện đại”. [4, 200].
Chất văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính biểu hiện ở rất nhiều khía cạnh,
nhiều góc độ khác nhau, cả trên phương diện nội dung lẫn phương diện nghệ thuật. Đó là
do ý thức muốn tìm về cội nguồn dân tộc, về những nét văn hóa truyền thống của nhà
thơ. Các ý kiến đánh giá thơ Nguyễn Bính của những nhà nghiên cứu đi trước là kết quả
của tâm huyết và trí tuệ, đã gợi mở cho người viết nhiều vấn đề khi làm đề tài này. Tuy
vấn đề văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính đã được một số nhà nghiên cứu đề cập
đến nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các tác giả chỉ mới dừng ở mức độ khái
quát hoặc chưa có sự so sánh, đối chiếu với những tác giả khác. Do đó, người viết sẽ đi
vào tìm hiểu cụ thể vấn đề trên.
2.2.
Nghiên cứu về văn hóa dân gian trong thơ Anh Thơ
Anh Thơ đến với làng Thơ mới với giải khuyến khích của Tự Lực Văn Đoàn cho
tập thơ Bức tranh quê của mình năm 1939. Nhận xét về tập thơ của bà, Nhất Linh cho
rằng: “Bức tranh quê của cô Anh Thơ là một tập ba mươi bài thơ. Bài nào cũng mười hai
câu. Tác giả đã tả cảnh thôn quê từ đầu năm cho đến Tết. Mùa nọ sang mùa kia. Tác giả
nhất định tả cảnh theo thời tiết. Nhất định dùng một thể thơ giống nhau. Tự đặt mình vào
con đường khó khăn, hình như để cốt tỏ rõ sự tài tình và khéo léo của mình. Lối ấy làm
11
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
2.3.
Nghiên cứu về văn hóa dân gian trong thơ Đoàn Văn Cừ
Được xếp vào nhóm các nhà thơ “tả chân” cùng với Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ đã
đến với thi đàn Việt Nam bằng những vần thơ đậm sắc màu và đường nét về làng quê và
các phong tục tập quán của dân tộc. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu một cách
chuyên sâu về thơ Đoàn Văn Cừ nói chung cũng như về vấn đề văn hóa dân gian trong
thơ ông còn hạn chế. Có chăng là những bài viết nhỏ lẻ, rải rác chưa có hệ thống. Với
Đoàn Văn Cừ, cũng như Nguyễn Bính và Anh Thơ, những nhận định về phong cách của
ông trong cuốn Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh – Hoài Chân vẫn là những
nhận định mang tính chất mở đầu và định hướng cho các bài viết về Đoàn Văn Cừ sau
này. Hoài Thanh – Hoài Chân khẳng định làng quê trong thơ ông là làng quê đầy rẫy sự
sống và sắc màu tươi vui. Có những tập tục quen thuộc của dân tộc như chợ Tết, đám
hội…Hai ông cũng cho rằng Đoàn Văn Cừ không chỉ biết nhận xét rất tinh mà hồn thơ
ông cũng rất phong phú: “Trong các nhà thơ đồng quê, không ai có ngòi bút dồi dào mà
rực rỡ như Đoàn Văn Cừ” [55, 176].
Trong bài viết Cảm quan văn hóa dân gian trong thơ Tết, thơ hội hè đình đám của
Đoàn Văn Cừ (1995), Cao Xuân Thử đã xác định vị trí riêng biệt của Đoàn Văn Cừ so
với các nhà thơ cùng thời: “Đoàn Văn Cừ là người tiêu biểu hơn cả trong các nhà văn
nhà thơ cùng thời với mình, đã thể hiện rõ rệt nhất nhân sinh quan và thế giới quan
thuần khiết của nền văn hóa dân gian đình đám, hội hè, tết nhất.” [47, 137]. Ông cũng
cho rằng, thơ Đoàn Văn Cừ đã bén rễ sâu với tầng tục ngữ, thành ngữ của ngôn ngữ dân
tộc như “vui như Tết”, “vui như hội”, “sang như cơm cỗ”, “đông như trẩy hội”…[47,
139]. Đặc biệt, ông phát hiện ra Đoàn Văn Cừ chú ý nhiều tới đám đông, các hành động,
cử chỉ của các nhân vật, thi sĩ cố gắng tạo nên nhiều người đông đúc…điều đó được tác
giả lí giải xuất phát từ ý thức và cảm quan dân gian. “Cảm quan này trước hết lấy sự đa
về những vấn đề có liên quan đến đề tài, người viết rút ra một số nhận xét sau:
− Các bài viết và công trình nghiên cứu với tính chất riêng biệt về từng tác giả đã đề
cập một cách trực tiếp sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian với thơ của Nguyễn
Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ. Tuy nhiên, nếu như Nguyễn Bính có số lượng công
trình nghiên cứu trước đó khá đồ sộ thì Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ lại là những tác
giả mà công trình nghiên cứu về họ còn khá ít ỏi. Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của
14
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
văn hóa dân gian với thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ trên phương diện
so sánh cũng chưa có công trình nào trước đó đề cập đến. Từ những điều trên,
người viết nhận thấy đề tài Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà
thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ) là một đề
tài khá mới mẻ, góp phần giúp người đọc hiểu hơn về phong cách sáng tác của ba
tác giả, đồng thời hiểu sâu sắc hơn qui luật ảnh hưởng của văn hóa đối với văn
học.
− Vì vậy, với những gợi ý và định hướng mang tính chất khái quát làm tiền đề của
các tác giả trước đó, người viết mong muốn góp thêm tiếng nói khiêm nhường
trong việc nghiên cứu các yếu tố văn hóa dân gian trong thơ của Nguyễn Bính,
Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ. Từ những điểm chung, nét riêng, chỉ ra sự độc đáo của
từng tác giả trong việc kế thừa, tiếp thu văn hóa dân gian và qui luật chung của sự
ảnh hưởng qua lại giữa văn hóa và văn học.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.
Đối tượng
− Phương pháp nghiên cứu liên ngành để vận dụng các quan điểm và thành tựu văn
hóa nói chung, đặc biệt là văn hóa dân gian vào việc tìm hiểu, lí giải thơ của ba tác
giả trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật để có cái nhìn toàn diện và sâu
sắc nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu.
− Phương pháp phân tích, tổng hợp được người viết sử dụng sau khi tiếp cận văn
bản, dùng phương pháp này để phân tích đưa ra những luận điểm mang tính chất
tổng hợp về sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian với thơ của họ và từ đó người viết
rút ra những nhận xét chung mang tính khái quát, tiêu biểu về vai trò, tác dụng của
các yếu tố này trong thơ ba nhà thơ.
− Phương pháp thống kê được người viết sử dụng để khảo sát hiện tượng lặp lại ở
một số yếu tố văn hóa dân gian trong thơ ba nhà thơ. Từ đó, người viết dựa vào
tần số xuất hiện của các yếu tố đó để hệ thống và khái quát hóa lên thành những
đặc điểm riêng biệt và ổn định trong thơ ba nhà thơ.
Những phương pháp này sẽ được vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình
nghiên cứu.
5. Đóng góp của khóa luận
− Góp phần khảo sát và lí giải một cách hệ thống, khách quan về sự ảnh hưởng của
văn hóa dân gian với thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, qua đó góp
phần khẳng định cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa dân gian là một trong
những hướng nghiên cứu cần thiết trong nghiên cứu văn học hiện nay.
− Giúp các bạn sinh viên trong học tập, nghiên cứu và đánh giá về những đóng góp
của ba thi sĩ trong tiến trình văn học dân tộc. Đồng thời, là tư liệu tham khảo cho
việc giảng dạy về ba tác giả trong chương trình Ngữ Văn THCS và THPT.
16
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
không chỉ với nội dung mà còn trên phương diện nghệ thuật. Từ đó góp phần
khẳng định được vẻ đẹp của văn hóa dân gian trong thơ, góp phần nâng cao hiệu
quả nghệ thuật của câu thơ
Ngoài ra, khóa luận còn có phần phụ lục với 11 mục ( 85 trang) thống kê sự
lặp lại của các yếu tố văn hóa dân gian trong thơ ba nhà thơ.
• Phụ lục 1: Bảng thống kê yếu tố tín ngưỡng dân gian trong thơ ba nhà thơ
• Phụ lục 2: Bảng thống kê yếu tố phong tục tập quán dân gian trong thơ ba
nhà thơ
• Phụ lục 3: Bảng thống kê yếu tố lễ hội dân gian trong thơ ba nhà thơ
• Phụ lục 4: Bảng thống kê yếu tố nghệ thuật dân gian trong thơ ba nhà thơ
• Phụ lục 5: Bảng thống kê yếu tố tri thức dân gian trong thơ ba nhà thơ
• Phụ lục 6: Bảng thống kê yếu tố ngữ văn dân gian trong thơ ba nhà thơ
• Phụ lục 7: Bảng thống kê nhân vật cô gái – chàng trai trong thơ ba nhà thơ
• Phụ lục 8: Bảng thống kê biện pháp ẩn dụ trong thơ ba nhà thơ
• Phụ lục 9: Bảng thống kê biện pháp so sánh trong thơ ba nhà thơ
• Phụ lục 10: Bảng thống kê yếu tố ngôn ngữ: thành ngữ, tục ngữ, ca dao
trong thơ ba nhà thơ
• Phụ lục 11: Bảng thống kê hình ảnh chỉ cảnh vật làng quê trong thơ ba nhà
thơ
18
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
CHƯƠNG 1:
19
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
mình, con người tạo ra giá trị nhân bản (chân, thiện, mĩ). Những giá trị mà con người tạo
ra ấy chính là “văn hóa”.
Cùng ý kiến với Trần Ngọc Thêm và Trần Quốc Vượng nhưng Phùng Qúy Nhâm
nhấn mạnh thêm tính dân tộc của văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử và mang đậm bản sắc dân
tộc” [14, 249]
Trong nhiều năm qua, đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa nhưng quan niệm
của Liên hợp quốc (Unesco) đưa ra từ năm 1982, trong Hội nghị quốc tế được sử dụng
nhiều hơn cả: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và
vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người
trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.
Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng
ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một
cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự
biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản
thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt
trội lên bản thân” [80, 23-24]. Liên hợp quốc đã khẳng định văn hóa không phải là một
lĩnh vực riêng biệt mà nó chính là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra, đồng thời văn hóa cũng là nền tảng của sự phát triển trong xã hội loài
người. Như vậy, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
nhưng tất cả đều chung qui nhận định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sản
phẩm được sáng tạo bởi riêng con người. Hoạt động sáng tạo đó bao trùm lên mọi lĩnh
vực hoạt động của đời sống con người: đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh
kiến trúc, nghệ thuật trang trí thực hành, hội họa được nhân dân sáng tạo ra và sống
trong nhân dân” 3
Đinh Gia Khánh chú ý đến tính thẩm mĩ của văn hóa dân gian: “Văn hóa dân gian
bao gồm toàn bộ văn hóa tinh thần của nhân dân được tiếp cận dưới giác độ thẩm mĩ”.
[26, 05]
2
3
Dẫn theo Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (1990), Quan niệm về folklore, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
Dẫn theo Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (1990), Quan niệm về folklore, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
21
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
Trần Quốc Vượng cho rằng văn hóa dân gian không phải là những điều xa lạ, nó
hiện hữu ngay trong những vật nhỏ bé nhất, gần gũi nhất với cuộc sống của chúng ta.
“Nó có thể là một ngôi đền, một cái đình mà cũng có thể là một mẩu huyền thoại hay câu
chuyện thần kì. Nó có thể là một cái lư hương gốm sứ cổ, một cỗ kiệu sơn son thếp vàng
ngày xưa mà cũng có thể là một câu tục ngữ cổ, một khúc hát dân ca…”. Ông đã đưa ra
nhận định khá bao quát: “Sáng tạo dân gian bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, từ đời sống
làm ăn thường ngày (ăn, mặc, ở, đi lại) đến đời sống vui chơi (thể thao dân gian, võ, vật,
đánh cầu, hát phết), hát hò (hát đò đưa, hò giã gạo, đúm, ví, xoan, ghẹo), đến đời sống
tâm linh (giỗ, tết, lễ hội)” 4. Như vậy, so với các ý kiến trên, nhận định của Trần Quốc
Vượng đã mở rộng thêm các thành tố thuộc phạm trù văn hóa dân gian.
Khái quát lại từ các nhận định trên của các nhà nghiên cứu, người viết cho rằng
khi nói đến folklore, người ta nghĩ đến các tác phẩm văn học và nghệ thuật dân gian như
tạo văn hóa của quần chúng nhân dân được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Khi nói
tới truyền thống văn hóa dân tộc là nói tới văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất do nhân
dân sáng tạo ra.
-
Văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể): là những di sản văn hóa đem lại
nguồn cảm hứng thẩm mĩ cho con người bằng những hoạt động của các
loại hình nghệ thuật. Cụ thể là văn, thơ, hát, múa, nhạc, sân khấu, diễn
xướng, điêu khắc, kiến trúc, hội họa nghề mỹ nghệ thủ công, lễ hội trò
chơi nghệ thuật…Cùng với các loại hình trên là phong tục, tập quán, lễ
nghi, tín ngưỡng, tết, lễ, luật tục và những hương ước, định ước và tri
thức dân gian
-
Văn hóa vật chất (văn hóa vật thể): Dưới góc độ của khoa học văn hóa
dân gian là tiếp cận hiện tượng văn hóa dân gian dưới góc độ thẩm mĩ,
trong chỉnh thể nguyên hợp. Vậy, văn hóa vật chất có tính thẩm mĩ, tính
nghệ thuật, đó cũng là một phần của đối tượng nghiên cứu văn hóa dân
gian. Những ngôi đền, chùa, đình, miếu, điện, đền, tháp, lăng tẩm,
những loại y phục, những chiếc thuyền, những công cụ, những đạo cụ
để phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người và xã hội. Chúng tồn tại
khách quan, có ý nghĩa thực dụng, ích dụng trong đời sống của nhân
dân. Những ngôi đình, chùa, miếu, đền, điện…là những hình thù ngôi
nhà cụ thể để sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đồng thời cũng là nơi thờ
23
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
Tích, trò, con rối
Đặc trưng thành tố văn học
Lời, chữ, vần điệu, tiết tấu, nhịp điệu…
Như vậy, kết hợp các nhận định trên về văn hóa dân gian và việc phân chia các
thành tố văn hóa dân gian, người viết đưa ra cách phân chia các thành tố văn hóa dân
gian, bao gồm:
24
Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới
(Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
a. Tín ngưỡng dân gian: phản ánh những ước nguyện tâm linh của con người
và cả cộng động, là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ, gắn
liền với phong tục tập quán, truyền thống.
b. Phong tục tập quán dân gian: là những thói quen được đưa vào nếp sống
hằng ngày. Gồm cả hội hè, lễ tết, trang phục, ăn uống, cưới xin, ma
chay…và hàng loạt các trò chơi giải trí.
c. Lễ hội dân gian: là hoạt động văn hóa, thể hiện quan niệm và tâm linh của
cộng đồng về những gì người ta tín ngưỡng. Thường tổ chức để cầu xin,
cầu mong làm ăn phát đạt, sung túc; tạ ơn thần linh, tổ tiên đã che chở phù
hộ cho cuộc sống của mình…
d. Nghệ thuật dân gian: gồm nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian,
hội họa dân gian, trang trí dân gian...); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm
nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn...).