BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Tường Vi
YẾU TỐ VĂN HĨA DÂN GIAN
TRONG SÁNG TÁC CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƠN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Tường Vi
YẾU TỐ VĂN HĨA DÂN GIAN
TRONG SÁNG TÁC CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã ngành
: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ
NHÀ VĂN NAM BỘ BÌNH NGUYÊN LỘC ....................... 10
1.1. Giới thuyết các khái niệm .................................................................. 10
1.1.1. Khái niệm văn hóa ...................................................................... 10
1.1.2. Khái niệm văn hóa dân gian ........................................................ 12
1.1.3. Các yếu tố văn hóa dân gian ....................................................... 14
1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết .......................... 17
1.2.1. Mối quan hệ văn hóa và văn học................................................. 17
1.2.2. Văn hóa dân gian và văn học viết ............................................... 20
1.3. Bình Nguyên Lộc – nhà văn Nam Bộ ................................................ 26
1.3.1. Tiểu sử ......................................................................................... 26
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác...................................................................... 27
1.3.3. Bình Nguyên Lộc – bút lực dồi dào của văn học Nam Bộ ........ 29
Chương 2. YẾU TỐ VĂN HĨA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA
BÌNH NGUN LỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI
DUNG ....................................................................................... 38
2.1. Phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian ....................................... 38
2.1.1. Phong tục tập quán dân gian ....................................................... 38
2.1.2. Tín ngưỡng dân gian ........................................................................ 53
2.2. Nghệ thuật dân gian và lễ hội dân gian .............................................. 58
2.2.1. Nghệ thuật dân gian .................................................................... 58
2.2.2. Lễ hội dân gian ............................................................................ 65
2.3. Tri thức dân gian và ngữ văn dân gian ............................................... 67
2.3.1. Tri thức dân gian ......................................................................... 67
Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc, văn hóa dân gian dường như đã trở thành
nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng văn học viết. Văn học viết cũng đã bám “sâu rễ bền gốc”
vào nguồn mạch ấy, khởi nguồn cho việc vận dụng, khám phá và sáng tạo.
Văn hóa dân gian đang được quan tâm và là xu hướng nghiên cứu ở Việt Nam
cũng như trên thế giới. Việc quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam với bề
dày nền văn hóa dân gian truyền thống đặc sắc của dân tộc là thật sự cần thiết. Đó cũng
là mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới “xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ V - Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa VIII. Mặt khác, nghiên cứu văn học viết trong quan hệ với văn
hóa dân gian là hướng nghiên cứu tất yếu của nghiên cứu khoa học hiện đại. Hướng
nghiên cứu này giúp các nhà nghiên cứu có nhiều lựa chọn, nhiều phương pháp hơn
trong quá trình tiếp cận, lý giải thấu đáo tác phẩm hay phong cách tác giả. Đồng thời,
hướng nghiên cứu này tạo điều kiện cho văn học và văn hóa tương tác qua lại và ngày
càng phát triển hồn thiện.
Bình Ngun Lộc là một trong những nhà văn lớn của Nam Bộ. Ông là một
trong ba “tam kiệt” của phương Nam (Bình Nguyên Lộc, Hồ Biểu Chánh và Lê Văn
Trương). Ông là một trong những tác giả có khối lượng sáng tác nhiều nhất nước vào
thời bấy giờ. Văn chương của Bình Nguyên Lộc thấm đẫm chất Nam Bộ, nồng nàn
tình yêu quê cha đất mẹ. Sự diễn đạt tình ý trong mỗi tác phẩm thật giản dị, mộc mạc,
chân chất nhưng cũng rất tinh tế và sáng tạo. Những điều đó cho ta thấy tấm lòng tươi
2
son, bền chặt của ông đối với quê hương, với nơi “chơn nhau cắt rún”. Tấm lịng ơng
cũng như những loại cổ thụ cắm rễ sâu xuống mảnh đất ân tình nồng hậu này.
Là nhà văn của Nam Bộ, của mảnh đất quê hương yêu dấu, trang văn Bình
Nguyên Lộc gợi nhắc đến cả một nền văn hóa cội nguồn. Chính những yếu tố văn hóa
dân gian trong các sáng tác của ông đã làm cho tác phẩm dễ đi sâu vào lịng dân tộc.
Yếu tố văn hóa dân gian được ông vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo đã góp phần
làm cho nền văn hóa dân gian Việt ngày càng trở nên tỏ rõ sự năng động, phát triển
các cơng trình luận văn, luận án.
2.1. Các cơng trình nghiên cứu trên sách, báo, tạp chí, trang web
Bình Ngun Lộc sáng tác nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện dài, thơ, tạp
bút...Với lực viết dồi dào, Bình Nguyên Lộc trở thành nhà văn được giới nghiên cứu
quan tâm sớm:
Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Nguyễn Nam Anh lần lượt có bài Phỏng vấn nhà
văn Bình - Nguyên Lộc (1961, 1965, 1972) đăng trên Bách Khoa, Tin Sách, Văn.
Bàng Bá Lân bày tỏ sự ngưỡng mộ qua bài Bình - Nguyên Lộc (1963), Sơn Nam
viết Đọc tác phẩm đầu tay của Bình Nguyên Lộc (1972). Tuy nhiên các tác giả
mới chủ yếu bàn về khối lượng tác phẩm đồ sộ, cường độ làm việc hơn người và
quan điểm sáng tác của nhà văn.
(Phạm Thị Thu Thủy, 2017)
Năm 1985, Ngọc Thủy Ba viết bài Bình Nguyên Lộc nhà văn tài ba của vùng
đất Tân Uyên. Tác giả bài báo đề cao ý nghĩa tác phẩm Rừng mắm trong việc lay động,
thức tỉnh và nâng cao đời sống tâm hồn, tình cảm, tinh thần của con người. Sau khi
Bình Nguyên Lộc mất vào năm 1987, giới nghiên cứu đánh giá cao sự nghiệp sáng tác
của ông và xếp ơng vào một trong ba cây bút có sức viết lớn của mảnh đất Nam Bộ.
Năm 1988, Viễn Phương viết Thương một nhành mai thể hiện tình cảm của Viễn
Phương với cố nhà văn. Trong giới nghiên cứu về văn chương Bình Nguyên Lộc,
Nguyễn Q. Thắng được xem là người nghiên cứu và tìm hiểu về Bình Nguyên Lộc
một cách bao quát và hệ thống. Trong Từ điển tác gia văn hóa Việt Nam (1999), ơng
trình bày khá rõ nét cuộc đời, sự nghiệp sáng tác Bình Nguyên Lộc. Trong Tuyển tập
Bình Ngun Lộc (2002), ơng giới thiệu Bình Nguyên Lộc một bút lực lớn và tập hợp
trong bốn tập sách các sáng tác tiêu biểu của Bình Nguyên Lộc. Trong Từ điển nhân
4
vật lịch sử Việt Nam (2006), Nguyễn Q. Thắng giới thiệu Bình Nguyên Lộc như nhân
vật lịch sử miền Nam, nhà văn, nhà nghiên cứu hiện đại. Với Văn học Việt Nam nơi
5
Kiêm Đồn trong Vẻ đẹp của ngơn ngữ miền Nam trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc
lại chú ý đến đặc điểm viết truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc. Hồ Trường An (2014)
trong Tổng quan văn chương vùng đất Đồng Nai thể hiện cảm nhận của ơng về tình
đất và ngơn ngữ miền Nam trong văn Bình Nguyên Lộc. Bài viết Bình Nguyên Lộc và
những sáng tác hướng tới đại chúng (Khảo sát qua truyện có yếu tố kinh dị của Bình
Nguyên Lộc) của Lê Hải Anh và Nguyễn Thị Minh Thương (2017) trên trang Nghiên
cứu của Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, đã thể hiện hướng khám mới về ông
ở các truyện kinh dị. Tác giả bài viết cũng nhấn mạnh xu thế viết phù hợp với thời đại
của tác giả: “Trong bối cảnh văn hóa xã hội miền Nam, tác phẩm của Bình Ngun
Lộc có thể dung hợp được cả yếu tố đặc tuyển và đại chúng vừa phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại, vừa là sự sáng tạo và khám phá mới tạo động lực phát triển
cho văn học”.
Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu này khuynh hướng chung là hướng đến
nội dung, nghệ thuật trong các sáng tác của Bình Nguyên Lộc. Trong đó, con người
văn hóa Nam Bộ, ngơn ngữ miền Nam được các nhà nghiên cứu chú ý nhiều.
2.2. Các cơng trình nghiên cứu như luận văn, luận án
Các cơng trình luận văn, luận án về Bình Ngun Lộc cũng thường tập trung
vào văn hóa Nam Bộ, ngơn ngữ và đặc điểm văn xuôi trong các sáng tác của ông. Một
số công trình nghiên cứu như: Nguyễn Lương Hải Khơi (2004) chọn Đặc trưng văn
xi nghệ thuật Bình Ngun Lộc, luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh, làm đề tài nghiên cứu. Nguyễn Lương Hải Khôi đã đi sâu vào các đặc trưng
cơ bản trong văn xi của Bình Ngun Lộc như quan niệm về con người, ngôn từ
nghệ thuật, không gian và thời gian nghệ thuật. Nguyễn Thị Thu Trang (2008) nghiên
cứu Con người và những giá trị văn hóa truyền thống trong văn xuôi đô thị miền Nam
giai đoạn 1954 - 1975, luận án tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn. Nguyễn Thị Thu Trang đi vào nghiên cứu các giá trị văn hóa nổi bật trong dịng
văn xi đơ thị miền Nam. Trong đó, tác giả chủ yếu nhấn mạnh vào bản sắc văn hóa
con người Nam Bộ. Trần Thị Thúy Hằng (2012) nghiên cứu về Từ ngữ địa phương
trong sáng tác Bình Nguyên Lộc, luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
biến, bảo tồn và phát triển văn hóa dân gian Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
7
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này người viết tập trung nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong
sáng tác của Bình Nguyên Lộc từ hai phương diện: nội dung và hình thức nghệ thuật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình khảo sát, người viết tiếp cận tác phẩm qua ba nguồn tài liệu
chính gồm Truyện ngắn Bình Nguyên Lộc, Nxb Trẻ; trang http://binhnguyenloc.de;
Tuyển tập Bình Nguyên Lộc gồm 4 tập của Nguyễn Q. Thắng, Nxb Văn học, 2002.
Tuy nhiên, nghiên cứu đề tài này, người viết tập trung khai thác nguồn tư liệu từ Tuyển
tập Bình Nguyên Lộc do Nguyễn Q. Thắng tuyển chọn và giới thiệu. Lí do người viết
chọn tuyển tập này vì Nguyễn Q. Thắng đã lựa chọn và giới thiệu cho bạn đọc những
tác phẩm tiêu biểu nhất gồm truyện ngắn, tạp văn và tiểu thuyết, được đánh giá cao
trong giới phê bình và bạn đọc của Bình Nguyên Lộc. Truyện ngắn gồm Thầm lặng
(15 tác phẩm), Nhốt gió (13 tác phẩm), Mưa thu nhớ tằm (17 tác phẩm), Ký thác (16
tác phẩm), Những bước lang thang trên phố của gã Bình Nguyên Lộc (17 tác phẩm),
Cuống rún chưa lìa (17 tác phẩm), Ma rừng (9 tác phẩm). Tiểu thuyết gồm Đò dọc,
Khi Từ Thức về trần, Gieo gió gặt bão, Tì vết tâm linh, Xô ngã bức tường rêu. Đây là
những tác phẩm tiêu biểu vừa mang đậm phong cách viết văn của ơng vừa phong phú
các yếu tố văn hóa dân gian.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu văn hóa – văn học
Sử dụng phương pháp này vì đề tài luận văn tiếp cận tác phẩm của Bình Ngun
Lộc trong quan hệ với văn hóa dân gian. Đây là cách tìm hiểu xem các sáng tác của
ơng đã tiếp thu, vận dụng những yếu tố văn hóa dân gian nào. Sự sáng tạo trong cách
- Thấy được sự vận động, tác động qua lại của văn hóa dân gian và văn học
trong quá trình phát triển của văn học dân tộc.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ NHÀ
VĂN NAM BỘ BÌNH NGUYÊN LỘC
Trong Chương 1, người viết giới thuyết về các khái niệm văn hóa, văn hóa dân
gian, các thành tố của văn hóa dân gian; chỉ ra mối quan hệ giữa văn học và văn hóa
9
cũng như mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết; giới thiệu về nhà văn
Nam Bộ Bình Ngun Lộc.
Chương 2. YẾU TỐ VĂN HĨA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA BÌNH
NGUYÊN LỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Trong Chương 2, người viết tập trung nghiên cứu các yếu tố văn hóa dân gian
trong tác phẩm của Bình Ngun Lộc như phong tục tập qn, tín ngưỡng, nghệ thuật,
lễ hội, tri thức và ngữ văn dân gian; khảo sát sự vận dụng cũng như sự sáng tạo, hiệu
quả các yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của Bình Ngun Lộc.
Chương 3. YẾU TỐ VĂN HĨA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA BÌNH
NGUYÊN LỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT
Với Chương 3, người viết nghiên cứu vai trị của các yếu tố văn hóa dân gian
trong xây dựng nhân vật, khơng gian văn hóa; vai trị trong tổ chức giọng điệu và kết
cấu truyện; sự sáng tạo, hiệu quả trong nghệ thuật vận dụng các yếu tố dân gian của
Bình Ngun Lộc.
Ngồi ra, luận văn cịn có ba phụ lục. Bảng phụ lục 1 thống kê các yếu tố văn
hóa dân gian dựa trên sự khảo sát tần số và bối cảnh yếu tố văn hóa dân gian được sử
dụng. Bảng phụ lục 2 gồm hai bảng thống kê tần số vận dụng các yếu tố văn hóa dân
gian trong tác phẩm của nhà văn. Phụ lục 3 là hình ảnh chân dung nhà văn và một số
gồm những kiệt tác trong lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn
hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản
phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao
động” (Dẫn theo Lê Văn Chưởng, 1999). Cách hiểu thứ hai của ông Federico Mayor
làm cho văn hóa trở thành đối tượng đích thực của văn hóa học. Năm 1994, UNESCO
tiếp tục đưa ra định nghĩa về văn hóa. Hiểu theo nghĩa rộng:
11
Văn hóa hơm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và thể chất,
trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người
trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những
quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng.
Theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu)
chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù
riêng” (Dẫn theo Lê Minh Hạnh, 2006). Tuy nhiên, hai cách hiểu đều hướng đến tính
đặc trưng của mỗi cộng đồng.
Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Phan
Ngọc đã thống kê có khoảng 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức
sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và văn minh đó tức là văn hóa”.
(Dẫn theo Lê Minh Hạnh, 2006)
Giáo sư Trần Quốc Vượng khẳng định: “Văn hóa là tồn bộ phức thể bao gồm
hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và
tập quán khác nhau mà con người có được với tư cách là một thành viên xã hội” (Trần
thế hệ.
Thuật ngữ văn hóa dân gian được nhà khoa học người Anh, William J. Thomas
đề cập lần đầu tiên trên tạp chí “The Atheneum” năm 1846. Ngày nay, thuật ngữ này
vẫn còn gây tranh cãi về nội hàm của nó. Ở phương Tây, khái niệm folklore được hiểu
rất rộng. Từ điển bách khoa của Anh xác định: “Folklore là tên gọi chung, thống nhất
của những tín ngưỡng, truyền thống, thiên kiến, đạo lí, nghi lễ, mê tín của dân gian.
Những câu truyện cổ, những bản tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong
khái niệm này…, nó bao gồm cả những yếu tố văn hóa vật chất mà ban đầu nó khơng
tính đến” (Dẫn theo Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), 2000). Bonas Buleys thì lại cho rằng:
“Folklore bao gồm những sáng tác truyền thống của dân tộc cả nguyên thủy và văn
13
minh. Những dạng sáng tác này có được bằng cách sử dụng âm thanh và từ ngữ dưới
dạng thơ và văn xi. Chúng bao gồm cả các tín ngưỡng dân gian hay mê tín, phong
tục và hội diễn các điệu múa và các trò chơi” (Dẫn theo GN.Poxpelop, 1998). Trong
khi đó, học giả người Mỹ George Hervey quan niệm “Folklore bao gồm những phương
tiện văn học và tri thức của văn hóa được giữ gìn vĩnh viễn chủ yếu bằng truyền miệng:
huyền thoại, truyện cổ dân gian và những hình thức khác của văn học truyền miệng
truyền thống” (Dẫn theo GN.Poxpelop, 1998). Những quan niệm của phương Tây đã
nêu lên những cách hiểu khác nhau về văn hóa dân gian. Từ điển bách khoa của Anh
định nghĩa tương đối rộng về văn hóa. Trong đó, các nhà nghiên cứu khác đang mới
chỉ đề cập folklore như là các sáng tác truyền thống, phương tiện văn học, tri thức văn
hóa… Họ chưa đề cập đến bộ phận khác nhau về văn hóa dân gian: lối sống, đạo đức,
văn hóa vật thể, kiến trúc… làm nên nét đặc sắc của văn hóa dân gian của các dân tộc.
Ở Liên Xô, folklore được hiểu theo hai hướng. Hướng thứ nhất, folklore được
hiểu theo cách như của phương Tây. Hướng thứ hai, folklore được cho rằng về cơ bản
là “nghệ thuật ngôn từ”. Ở đây, folklore có thể đồng nhất với văn học truyền miệng.
Tuy nhiên, càng về sau này, quan niệm bó hẹp folklore trong nghệ thuật ngơn từ khơng
cịn nhiều. Tổng bách khoa tồn thư Xơ Viết xuất bản năm 1974 quan niệm rằng:
thức tự nhiên và xã hội, quan niệm đạo đức, nhận thức và tình cảm về thế giới và
nhân sinh.
(Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Vũ, 2002).
Cả hai định nghĩa trên thể hiện cách nhìn rộng về văn hóa dân gian bao trùm cả đời
sống vật chất và tinh thần của con người.
Như vậy, theo đa số các nhà nghiên cứu hiện nay, văn hóa dân gian có rất nhiều
thành tố đặc trưng, bao gồm tất cả những yếu tố vật chất và tinh thần được hình thành
và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong nhân dân. Văn hóa dân gian
biểu hiện trong nhiều lĩnh vực, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành, đặc biệt là
ngành thi pháp folklore. Văn hóa dân gian làm nên nét đặc trưng độc đáo của mỗi dân
tộc, ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội và là nền tảng của sự phát triển văn hóa.
1.1.3. Các yếu tố văn hóa dân gian
Văn hóa dân gian mang nhiều yếu tố đặc trưng. Mỗi yếu tố dân gian gắn bó
chặt chẽ với nhau tạo nên một chỉnh thể tồn vẹn. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân
gian Việt Nam dựa trên những thành tố của văn hóa dân gian, các tiêu chí về phương
15
thức lưu truyền, đặc trưng ngôn ngữ, chất liệu cấu tạo đã chỉ rõ các yếu tố cơ bản của
nó. Chu Xuân Diên (2001) cho rằng Folklore bao gồm những thành tố là những sáng
tạo nghệ thuật có ý thức như các tác phẩm văn học dân gian, âm nhạc và múa dân gian,
hội họa dân gian. Trong đó có cả những thành tố là những sản phẩm vừa mang tính
ích dụng vừa mang tính thẩm mĩ (kiến trúc, đồ thủ công mĩ nghệ…), những thành tố
là những giá trị văn hóa khơng bao hàm ý nghĩa thẩm mĩ hiểu theo nghĩa đích thực của
nó (văn hóa ẩm thực, những tri thức về môi trường tự nhiên..). Cách chia này của ông
cũng khá rộng về các yếu tố của văn hóa dân gian có trong những sản phẩm ích dụng,
những sáng tạo nghệ thuật và các giá trị văn hóa về ẩm thực, thiên nhiên...
Tuy thế, trong phần giới thuyết về các yếu tố văn hóa dân gian, người viết xin trình
bày hai cách phân chia các yếu tố dân gian của hai nhà nghiên cứu là Lê Ngọc Canh và
các loại hình như tự sự dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, vè, ngụ
ngơn, sử thi, truyện thơ); trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); câu nói dân gian: (thành ngữ,
tục ngữ, câu đố dân gian). Nghệ thuật dân gian bao gồm: nghệ thuật tạo hình dân gian
(kiến trúc dân gian, đền, chùa, miếu, tháp…), nghệ thuật hội họa dân gian (như làng tranh
Đơng Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Kim Hồng); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc,
múa dân gian và các trò chơi, trò diễn dân gian như múa rối nước, chèo, tuồng). Tri thức
dân gian bao gồm: tri thức mơi trường tự nhiên (địa lí, thời tiết, khí hậu); tri thức về con
người (bản thân); y học và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân
và ứng xử cộng đồng); trí thức sản xuất (kĩ thuật và công cụ sản xuất). Cuối cùng là tín
ngưỡng, phong tục và lễ hội. Lễ hội là nơi tụ các loại hình văn hóa khác nhau, phản ánh
những khía cạnh khác nhau nhưng đều là sáng tạo tinh thần, niềm tin, tín ngưỡng của nhân
dân lao động. Tín ngưỡng hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là “tin theo một tơn giáo nào đó”.
Nó liên quan đến phong tục thờ cúng, niềm tin tâm linh của nhân dân. Phong tục là tồn
bộ những hoạt động sống được hình thành theo thời gian, trong quá trình lịch sử và trở
thành nề nếp của con người. Phong tục ổn định được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Phong tục độc đáo riêng theo vùng miền, dân tộc. Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội
là những yếu văn hóa dân gian quan trọng góp phần hình thành bản sắc của dân tộc.
Như vậy, văn hóa dân gian có thể chia thành các yếu tố cơ bản sau: tín ngưỡng,
phong tục tập quán, lễ hội, nghệ thuật, tri thức, ngữ văn. Tuy nhiên, trên thực tế, văn
hóa dân gian hình thành, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp.
Hoạt động sáng tạo nghệ thuật và thực hành, hưởng thụ trong đời sống, lao động của
nhân dân còn chưa phân định rạch ròi. Các giá trị của văn hóa dân gian ln có sự đan
17
xen vào nhau, khó có thể bóc tách. Chính vì vậy, phân chia ra các yếu tố văn hóa dân
gian như trên chỉ mang tính tương đối và thuận lợi cho vấn đề nghiên cứu. Trong luận
văn này, người viết đi theo cách phân chia của Ngô Đức Thịnh để khảo sát các yếu tố
văn hóa dân gian.
Văn học khơng chỉ là một bộ phận của văn hóa, chịu ảnh hưởng văn hóa mà
toàn thể cấu trúc văn hóa. Vì vậy, văn hóa thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con
người trước thế giới. Trong khi đó, văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó
một cách sinh động nhất. Văn hóa phải trải qua nhiều chặng đường thăng trầm tìm
kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội. Văn
học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị đã hình
thành. Văn hóa chính là tiếng bằ ng ngôn ngữ nghệ thuật trong văn học. Như vậy, ơng
khẳng định giữa văn hóa và văn học ln có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi. Cả văn
học và văn hóa đều chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau. Văn học là một
bộ phận văn hóa, biểu hiện các giá trị văn hóa, bị chi phối bởi văn hóa. Trong tập
truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, người đọc có thể biết được vẻ đẹp của
những thú vui tao nhã của người xưa, vẻ đẹp của một nền văn hóa cổ truyền dân tộc.
Khi văn hóa phát triển thì u cầu tất yếu của lịch sử là văn học cũng phải đổi mới đề
tài, khuynh hướng sáng tác. Khi dân tộc ta chống giặc ngoại xâm, văn học yêu nước
phát triển mạnh mẽ thành dòng văn học chủ lưu (như giai đoạn văn học những năm
1945-1975). Khi hịa bình, con người trở về với cuộc sống đời thường thì văn học đi
sâu vào khám phá đời sống, đặc biệt là đời sống cá nhân của con người (văn học từ
sau 1975 đến nay). Nhà văn cũng như người đọc, sống trong xã hội, chịu sự chi phối
của văn hóa xã hội đó nên quan niệm sáng tác, tiếp nhận cũng chịu sự chi phối bởi mơi
trường văn hóa mà họ đang sống.
Tuy nhiên, văn học cũng có sự tác động trở lại đối với văn hóa. Đỗ Thị Minh
Thúy đã viết về vị trí của văn học trong văn hóa có tính hai mặt: “Thứ nhất, bản thân
văn học trong văn hóa là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính
quyết định của văn hóa. Thứ hai là nói đến tính đại diện cho văn hóa của văn học, sự
tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hóa” (Đỗ Thị Minh Thúy, 1997).
Huỳnh Như Phương cũng cho rằng: “Văn học là một bộ phận hợp thành của văn hóa,
có mối quan hệ hữu cơ với các bộ phận khác, vừa tác động đến cấu trúc chỉnh thể của
văn hóa, lại vừa chịu ảnh hưởng của cấu trúc ấy” (Huỳnh Như Phương, 2010). Qua
19