VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH LAN HƯƠNG
VẤN ĐỀ KHAI THÁC CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội, năm 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH LAN HƯƠNG
VẤN ĐỀ KHAI THÁC CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 62 31 06 40
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS. TS. NGUYỄN XUÂN KÍNH
Hà Nội, năm 2016
TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC VIỆT NAM ................................................... 66
3.1. Các phương thức khai thác ................................................................................ 66
3.2. Mức độ khai thác các thể loại văn học dân gian ............................................... 84
3.3. Xu hướng vận động, biến đổi của việc khai thác chất liệu văn học dân gian
trong sáng tác ca khúc Việt Nam ............................................................................ 89
Chương 4: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC KHAI THÁC
CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC
VIỆT NAM HIỆN NAY ...................................................................................... 110
4.1. Sự lãnh đạo của Đảng, chính sách của nhà nước ............................................ 110
4.2. Chủ thể sáng tạo và biểu diễn ca khúc ............................................................ 114
4.3. Quá trình toàn cầu hóa và sự giao lưu, hội nhập quốc tế ................................ 116
4.4. Yếu tố kinh tế thị trường ................................................................................ 120
4.5. Quá trình đô thị hóa, sự biến đổi hệ giá trị văn hóa truyền thống ................. 122
4.6. Văn hóa đọc .................................................................................................... 129
4.7. Sự khiếm khuyết, bất cập trong công tác quản lý nhà nước về sáng tác,
biểu diễn, giáo dục đào tạo văn hóa nghệ thuật .................................................... 131
4.8. Hoạt động của các cơ quan thông tin, truyền thông ........................................ 133
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 139
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ............................... 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 143
PHỤ LỤC ............................................................................................................. 161
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
I. CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- CLVHDG:
Chất liệu văn học dân gian
- CNXH:
- NSƯT:
Nghệ sĩ ưu tú
- Nxb:
Nhà xuất bản
- PGS
Phó giáo sư
- tr:
Trang
- TS:
Tiến sĩ
- VHDG:
Văn học dân gian
- VHNT:
Văn hóa nghệ thuật
- VN:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn học (trong đó có văn học dân gian) và âm nhạc (trong đó có ca khúc) là
hai loại hình nghệ thuật chuyên biệt, mỗi loại hình có những đặc trưng riêng về chất
liệu để xây dựng hình tượng, về phương thức phản ánh đời sống song chúng tồn tại
và phát triển trong sự tương tác, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau. Từ trước đến nay, việc
khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc của các thế hệ nhạc sĩ
Việt Nam luôn là một thực tế sống động và phong phú, biểu hiện mối quan hệ
khăng khít giữa ngôn ngữ văn học và ca từ trong âm nhạc mới.
Mỗi ca khúc là một chỉnh thể, giai điệu và các yếu tố âm nhạc vốn được coi
là rất quan trọng nhưng không vì thế mà phần ca từ có thể xem nhẹ. Có những bài
hát, giai điệu dù rất đẹp nhưng cũng nhanh chóng bị lãng quên bởi người ta không
muốn nghe những lời ca tẻ nhạt, trống rỗng, tầm thường của nó. Bởi vậy, khi soạn
ca từ, các nhạc sĩ luôn phải dày công chọn lựa những từ ngữ trong vốn ngôn ngữ
của cộng đồng để chuốt ra những lời ca hay. Mỗi ca khúc đều chứa đựng những
“cái mã”, những tín hiệu nghệ thuật, thể hiện thế giới tâm hồn của người sáng tác;
sự đồng điệu cảm xúc, sự yêu thích của người thưởng thức đối với ca khúc chỉ có
được khi họ có thể “giải mã”, hiểu được những tầng vỉa ý nghĩa của những tín hiệu
nghệ thuật đó. Văn học dân gian là sự kết tinh cái hay cái đẹp của ngôn ngữ dân tộc,
kết tinh trí tuệ và tâm hồn con người Việt Nam qua các thời đại. Trong quá trình
sáng tác, các nhạc sĩ Việt Nam đã tìm về kho tàng văn học dân tộc, khai thác vốn
quý văn học dân gian, làm cho cái hay, cái đẹp của văn học dân gian hóa thân vào
ca từ, mang lại cho ca khúc những giá trị và sức sống bền lâu. Đó chính là việc đưa
những mã, những tín hiệu nghệ thuật ngôn từ dân gian đã từng được biết đến, đã trở
nên quen thuộc với nhiều người vào trong một tác phẩm mới. Vậy, dấu hiệu nào để
nhận biết được sự hiện diện của chất liệu văn học dân gian trong ca khúc? Có những
cách thức nào để chuyển hóa văn học dân gian thành ca từ? Các tác giả ca khúc khai
thác chất liệu văn học dân gian nhằm mục đích gì? Trong bối cảnh văn hóa xã hội nước
1
2
những lối đi dẫn tới tính dân tộc, bản sắc dân tộc cho ca khúc có thể sẽ không được
coi trọng, thậm chí bị lãng quên.
Vấn đề khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam
càng trở nên cấp thiết hơn khi những năm gần đây (đặc biệt là từ tháng 7/2011), các
phương tiện thông tin đại chúng nhiều lần đề cập tới một tình trạng đáng báo động.
Không ít ca khúc bị coi là “thảm họa” khi ca từ không phù hợp với thẩm mỹ dân tộc,
lai – căng nước ngoài, lời ca thô mộc, tầm thường. Nhiều nhạc sĩ, nhà quản lý, nhà
báo và công chúng yêu nhạc đã bày tỏ sự lo ngại về chất lượng nghệ thuật của những
ca khúc trẻ mà ca từ của nó vẫn giữ nguyên cái vẻ thô nhám, bụi bặm, suồng sã của
thứ ngôn ngữ thường gặp ở nơi lộn xộn, bát nháo... Trong những ca khúc đó, cái ranh
giới của ngôn từ nghệ thuật với ngôn ngữ của đời thường đã bị xóa nhòa, ca từ chỉ
còn là những lời nói đơn điệu, có khi cợt nhảm, phi thẩm mỹ gây nên sự phản cảm,
lệch lạc về thị hiếu thẩm mỹ, tác động tiêu cực tới việc xây dựng nhân cách đạo đức,
lối sống của giới trẻ. Để ca từ không còn là vấn đề “thảm họa”, “đáng báo động”, để
ca khúc của người trẻ viết cho giới trẻ không xa rời mục đích thỏa mãn nhu cầu
thưởng thức cái đẹp, nâng cao sự hiểu biết và thanh lọc tâm hồn cho con người thì
việc phê phán, cảnh báo là chưa đủ; cần phải định hướng cho những người sáng tác
ca khúc (đặc biệt là những người trẻ mới vào nghề) bằng việc gợi ý thêm một hướng
đi với những cách thức có hiệu quả để vận dụng vào quá trình sáng tác, góp phần
nâng cao chất lượng nghệ thuật của ca từ nói riêng và của ca khúc nói chung. Chúng
tôi hy vọng, đề tài luận án kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn nói trên.
Là một giảng viên giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường quân đội thuộc khối
văn hóa nghệ thuật, từng học và biểu diễn chuyên ngành Thanh nhạc, bản thân tôi
nhận thấy rất rõ sức sống và vai trò của văn học (trong đó có văn học dân gian) đối
với các loại hình nghệ thuật khác (trong đó có ca khúc âm nhạc). Thiết nghĩ, nếu
giải quyết tốt những vấn đề đặt ra, đề tài chắc chắn sẽ có tác động tích cực đối với
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về chủ thể sáng tác: phạm vi nghiên cứu là các tác giả ca khúc VN. Việc
phỏng vấn được tiến hành đối với 14 nhạc sĩ tiêu biểu cho các thành phần lứa tuổi,
phong cách âm nhạc, tính chất công việc (nhạc sĩ làm lãnh đạo - quản lý, nhạc sĩ tự
4
do, nhạc sĩ quân đội...); phần lớn trong số 14 nhạc sĩ này là những người nổi tiếng,
có nhiều thành công với những ca khúc mang phong cách dân gian [Phụ lục 02,
tr.168].
Về tư liệu ca khúc: phạm vi nghiên cứu là ca khúc VN từ thời kỳ Tân nhạc
(1930) cho đến nay. Căn cứ vào những dấu hiệu nhận biết CLVHDG [Phụ lục 03,
tr.170], chúng tôi đề xuất một danh sách gồm 274 ca khúc có khai thác CLVHDG;
từ kiến bình chọn của các chuyên gia (ca sĩ, nghệ sĩ - giảng viên thanh nhạc) chọn ra
150 ca khúc tiêu biểu để tiến hành khảo sát - thống kê [Phụ lục 01, tr.162], [Phụ lục
04, tr.174].
Do tính chất phức hợp của đề tài nên trong quá trình khảo sát - thống kê, các
tác phẩm VHDG in trong Tổng tập văn học dân gian người Việt (Viện Nghiên cứu
văn hóa dân gian, Nxb KHXH, 19 tập, 2002 - 2006) được dùng để so sánh, đối chiếu.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận án luôn quán triệt nguyên lý của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử: sự vật luôn vận động và thường
xuyên có mối liên hệ với các sự vật khác; việc nhận xét, đánh giá bất kỳ sự việc, hiện
tượng nào cũng phải chú ý đến những điều kiện lịch sử cụ thể. Khi xử lý vấn đề về văn
học nghệ thuật, chúng tôi cũng luôn thấm nhuần một yêu cầu có tính nguyên tắc của
+ Phỏng vấn sâu: tiếp cận phỏng vấn 14 nhạc sĩ sáng tác thuộc phạm vi
nghiên cứu của đề tài luận án để lý giải một số khía cạnh liên quan của vấn đề khai
thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN bằng “cái nhìn của người trong cuộc”.
Đây là phương pháp định tính quan trọng, khi sử dụng kết hợp với kết quả khảo sát
- thống kê và bảng hỏi sẽ có thể đi đến những kết luận, nhận định khả dĩ thuyết
phục trong nghiên cứu.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia. Trong quá trình thực hiện luận án,
NCS đã gặp gỡ 5 nhà quản lý về VHNT và 4 nhà khoa học am hiểu về các lĩnh vực
liên quan đến đề tài. Có khi, sau một buổi làm việc, ý kiến của họ gợi mở thêm ý
tưởng mới hoặc ý kiến phản biện, giúp bổ sung và hoàn thiện luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án nghiên cứu làm sáng tỏ những nội dung khoa học và giá trị khoa học
của vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN. Cụ thể như sau:
6
Qua việc giới thuyết các khái niệm, trình bày quan niệm về “khai thác
CLVHDG” và “bản sắc dân tộc”, tác giả luận án đóng góp ý kiến bàn luận, trao đổi
dưới góc độ lý luận, góp tiếng nói vào đời sống học thuật hiện nay về vấn đề bản
sắc dân tộc nói riêng và vấn đề văn hóa xã hội nói chung.
Khi nghiên cứu mục đích khai thác CLVHDG, luận án góp phần lý giải điều
gì đã thôi thúc những chủ thể sáng tạo nghệ thuật sử dụng CLVHDG một cách có chủ
ý, tự giác. Đây là lần đầu tiên vấn đề này được xem xét từ góc độ chủ thể sáng tạo.
Với việc nhận diện các phương thức khai thác, nghiên cứu mức độ khai thác
các thể loại VHDG, xu hướng vận động, biến đổi về phương thức khai thác và về
nội dung chủ đề CLVHDG qua các thời kỳ lịch sử ca khúc..., luận án đi đến những
nhận xét, nhận định khái quát, làm căn cứ ban đầu cho những nghiên cứu tiếp theo
về từng tác giả, tác phẩm cụ thể nhìn từ vấn đề này.
Ngoài ra, luận án còn đánh giá những tác động (thuận chiều và nghịch chiều)
trương, đường lối của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
- Chương 2: Mục đích của việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN
- Chương 3: Thực tế việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN
- Chương 4: Những yếu tố tác động đến việc khai thác CLVHDG trong sáng tác
ca khúc VN hiện nay
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Giới nghiên cứu phê bình âm nhạc VN đã sớm quan tâm tìm hiểu về thể loại
ca khúc từ nhiều góc độ khác nhau, trong đó có vấn đề khai thác, vận dụng vốn quý
cổ truyền của dân tộc. Số lượng bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề trên khá
dồi dào: Mấy ý kiến về vấn đề nghiên cứu dân ca và vận dụng dân ca vào sáng tác
(1962) của Lê Lôi, Xung quanh vấn đề vận dụng dân ca miền Trung vào một số sáng
tác mới (1966) của Đào Việt Hưng; các bài viết của Nguyễn Viêm: Dùng chất liệu
âm nhạc cổ truyền dân tộc cho tác phẩm mới (1979), Ứng dụng chất liệu dân ca
Bình Trị Thiên vào tác phẩm mới (1979), Âm nhạc dân gian với tác phẩm chuyên
nghiệp (1982); luận văn Đại học chuyên ngành Lý luận âm nhạc của Biện Thị Lộc,
Nhạc viện HN: Tìm hiểu việc sử dụng chất liệu hát ví và giặm Nghệ - Tĩnh trong một
số ca khúc mới Việt Nam (1985); luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học của
Trần Bảo Lân, Viện Nghiên cứu văn hóa: Những yếu tố dân gian trong ca khúc Việt
Nam thời đổi mới (2007); luận văn Đại học chuyên ngành Lý luận âm nhạc của Tạ
Xuân Sơn, Nhạc viện HN: Nhạc sĩ An Thuyên và một số ca khúc mang phong cách
Tác giả Tạ Xuân Sơn khi nghiên cứu đề tài Nhạc sĩ An Thuyên và một số ca
khúc mang phong cách dân gian đã viết: “Lời ca trong các ca khúc thường thấm
đượm ca dao, tục ngữ dân gian” [122, tr.52]. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nhận
định khái quát, tác giả chưa khảo sát cụ thể về vấn đề này.
Trong luận văn thạc sĩ của Trần Bảo Lân Những yếu tố dân gian trong ca
khúc Việt Nam thời đổi mới (1986 - 2007), những yếu tố dân gian được nghiên cứu
gồm: thang âm - điệu thức, âm điệu, tiết tấu, thủ pháp ca từ, lối cấu trúc đan xen
giữa kiểu nhạc có tiết nhịp và không tiết nhịp, yếu tố dân gian trong phần đệm, phần
biểu diễn. Khi tiến hành khảo sát khá toàn diện các yếu tố đó, tác giả đã đề cập đến
một số thể loại VHDG được dùng làm chất liệu để sáng tác ca khúc và đi đến nhận
định: “Ca khúc thời đổi mới tiếp tục khai thác những hình tượng văn học dân gian
từ nhiều nguồn khác nhau như: ca dao, tục ngữ, dân ca, các tích truyện dân gian...”
[79, tr.56].
10
Vấn đề này còn tiếp tục được Trần Bảo Lân đề cập tới trong luận án Văn hóa
dân gian Bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam. Tác giả khẳng định: trong
giai đoạn ca khúc VN thời đổi mới, các yếu tố dân gian tiếp tục được khai thác từ
nhiều góc độ, từ đời sống dân gian của người dân, từ ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích,
truyền thuyết... và được sử dụng với mức độ gia tăng so với ca khúc VN trước thời
đổi mới [80].
Có thể thấy, trong những công trình, bài viết nêu trên, vấn đề các thể loại
VHDG và sự tham gia của chúng vào quá trình sáng tác ca khúc mới chỉ được điểm
qua một cách khái lược. Tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, trong bài viết Bước đầu
tìm hiểu việc khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam,
chúng tôi đã dành một phần nội dung để trình bày về tình hình khai thác chất liệu
VHDG nhìn từ góc độ thể loại. Trên thực tế, các thể loại VHDG được khai thác,
vận dụng với mức độ không như nhau. Qua khảo sát ca khúc của Nguyễn Xuân
tr.1017]. Có chung quan niệm đó, nhạc sĩ Bùi Đình Thảo khẳng định: “Trong sáng
tác bài hát, phổ thơ là một cách làm rất dân tộc và kế thừa một truyền thống tốt đẹp”
[124, tr.1037]. Chi tiết hơn, từ kinh nghiệm của bản thân, nhạc sĩ Văn Chung nói
đến một số kỹ thuật, thủ pháp phổ thơ: nhắc lại, thêm câu thêm từ, hoặc đảo câu đảo
từ để phát triển, biến hóa, mở rộng bài ca dao [20, tr.72].
Liên quan đến vấn đề này, đáng chú ý là ý kiến của Nguyễn Viêm, Nguyễn
Thị Minh Châu về ca khúc của nhạc sĩ Văn Chung. Nguyễn Viêm viết:
(...) trong bài Gái thôn Đoài trai thôn Thượng: Lời ca duyên dáng, tình
tứ mở đầu bài hát: “Mình về có nhớ ta chăng”... cho người nghe liên tưởng
đến điệu cò lả quen thuộc vốn khó quên được lời ca: “Mình về có nhớ ta
chăng/ Ta về ta nhớ hàm răng mình cười” [146, tr.646].
Nguyễn Thị Minh Châu nhận xét:
Lời ca của Văn Chung rất tự nhiên và mang nhiều nét “mộc” của dân
gian. Ông có cái duyên riêng trong cách diễn tả theo lối dân dã (...) Những câu
ca dao “nguyên chất” - như “Trâu ơi ta bảo trâu này”, “Mình về có nhớ ta
chăng? - hay “pha chất” ca dao với những hình ảnh thôn dã cây đa giếng nước
mái đình đã được phổ nhạc với khá nhiều “gợi ý” của các cụ ta xưa [17, tr.53].
12
Có thể thấy, trong những bài viết, những công trình nghiên cứu nêu trên, mặc
dù chưa trực tiếp khái quát thành vấn đề phương thức khai thác CLVHDG trong
sáng tác, song các tác giả đã đề cập đến những câu ca dao “nguyên chất”, những lời
hát “pha chất” ca dao, đề cập đến việc “phổ thơ”, thêm câu thêm từ, đảo từ... để mở
rộng, biến hóa bài ca dao. Đó thực ra là sự khẳng định: các nhạc sĩ VN đã khai thác
CLVHDG với những phương thức khác nhau, khiến cho ca từ trong ca khúc có khi
phảng phất nét ca dao, “pha chất” ca dao hoặc chứa đựng những câu ca dao
“nguyên chất”.
Vấn đề này tiếp tục được quan tâm nghiên cứu và trình bày trong sách Sức
thừa và phát huy những tinh hoa của âm nhạc truyền thống dân tộc” [97, tr.975].
Thống nhất với quan niệm nêu trên, trong bài viết Về tính kế thừa truyền
thống của ca khúc mới Việt Nam 1945-1975, tác giả Nguyễn Thị Nhung cũng đã
đúc kết những phương pháp khai thác dân ca: những giai điệu đặc trưng, cách sử
dụng thang âm, điệu thức, âm hình tiết tấu đặc trưng, cách phổ thơ... Sự “tăng
cường những đặc điểm truyền thống” đã biểu hiện bản sắc dân tộc, mang lại thành
công cho nhiều ca khúc mới [112, tr.1013 - 1017].
Trong khóa luận chuyên ngành Lý luận âm nhạc Nhạc sĩ An Thuyên và một
số ca khúc mang phong cách dân gian, Tạ Xuân Sơn đã phân tích các phương diện
về lời ca và âm nhạc trong sáng tác của nhạc sĩ An Thuyên để đi đến kết luận: Tính
dân tộc trong lời ca luôn được tác giả đề cao. Lời ca trong những ca khúc của nhạc
sĩ An Thuyên luôn gần gũi với thơ ca dân tộc, thấm đượm ca dao, tục ngữ dân gian,
giàu vần điệu và các thủ pháp dùng hư từ, điệp từ... Đây là một hướng đi giàu tiềm
năng và việc “vận dụng những câu ca dao, tục ngữ để diễn đạt nội dung lời ca là
một phương pháp đem lại tính dân tộc” cho những sáng tác An Thuyên [122].
Gần đây, trong luận án Bản sắc dân tộc trong ca khúc Việt Nam (2013), khi
nghiên cứu mối liên hệ giữa việc sử dụng yếu tố dân gian với bản sắc dân tộc trong
ca khúc, qua khảo sát thống kê, Trần Bảo Lân rút ra kết luận: Văn hóa hay âm nhạc
dân gian bao giờ cũng là nền tảng cho việc tạo nên bản sắc dân tộc trong ca khúc.
Số lượng các yếu tố dân gian được sử dụng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với mức độ
đậm nhạt của bản sắc dân tộc [80, tr.67 - 73].
14
Cũng quan tâm đến mối quan hệ giữa việc khai thác CLVHDG với tính dân
tộc, bản sắc dân tộc của ca khúc (nói riêng) và của âm nhạc (nói chung), trong bài
viết Âm nhạc thời kinh tế thị trường và thời hội nhập, Nguyễn Thị Minh Châu đã
phân tích sự phát triển của đời sống âm nhạc VN trong sự tác động của các yếu tố
“thời kinh tế thị trường”, “thời hội nhập” và nhận thấy tính dân tộc là kết quả từ ý
Nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu chính của luận án - “Những chủ thể sáng tạo
ca khúc VN đã khai thác CLVHDG nhằm mục đích gì? Trong tiến trình phát triển
nền ca khúc VN, việc khai thác CLVHDG đã vận động, biến đổi ra sao và nguyên
nhân nào dẫn tới sự biến đổi đó?”, chúng tôi tìm kiếm cơ sở lý luận từ nhiều lý
thuyết. Trong đó, lý thuyết làm nền tảng cho việc phân tích, giải quyết các vấn đề
thuộc phạm vi nhiệm vụ nghiên cứu được lựa chọn là lý thuyết hệ thống của L.V.
Bertalanffi. Cùng với đó, lý thuyết diễn ngôn, lý thuyết hành động xã hội cũng được
vận dụng khi tìm hiểu, nhìn nhận một số khía cạnh cụ thể của vấn đề.
1.2.1.1. Lý thuyết hệ thống
Từ lâu, giới nghiên cứu khoa học trên thế giới đã vận dụng lý thuyết hệ thống
(L.V. Bertalanffi - tác giả công trình Lý thuyết hệ thống tổng quát, 1950) như một
hướng tiếp cận hiệu quả đối với cả ngành khoa học tự nhiên và KHXH. Ở VN, khi
tìm hiểu các vấn đề thuộc văn hóa dân gian, các nhà nghiên cứu cũng rất chú trọng
vận dụng lý thuyết này. Có thể kể đến các bài viết của tác giả Phan Đăng Nhật, Ngô
Đức Thịnh trong cuốn Văn hóa dân gian - Những phương pháp nghiên cứu [155].
GS. TSKH. Phan Đăng Nhật đã đề cập đến lý thuyết hệ thống trong nghiên
cứu văn hóa dân gian:
Hệ thống là một sự tập hợp nào đó những yếu tố có mối liên hệ lẫn
nhau, tạo ra sự thống nhất ổn định, tức là một chỉnh thể... Mọi hệ thống đồng
thời là một bộ phận của một hệ thống khác rộng hơn, còn những thành phần
và những phân hệ của hệ thống đến lượt mình lại có thể xem như những hệ
thống [99, tr.142].
Văn hóa dân gian là một chỉnh thể, là một hệ thống nhiều tầng bậc: các thành
tố của văn hóa dân gian (ngữ văn, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn...), các
loại hình nghệ thuật dân gian (truyện cổ, thần thoại, sử thi, tranh, tượng, múa rối,
chèo...). Giữa các tầng bậc đó có mối quan hệ qua lại, ảnh hưởng chi phối lẫn nhau.
16
Vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN là một đề tài mang
tính phức hợp. Đó không phải là sự nghiên cứu về từng thành tố riêng biệt (văn học,
âm nhạc) mà là nghiên cứu mối quan hệ giữa hai thành tố đó trong bối cảnh lịch sử
xã hội cùng với nhiều thành tố khác. Vận dụng lý thuyết hệ thống để nắm bắt được
sự vận động, biến đổi của việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN, tác
giả luận án không thể chỉ xem xét trên một số ít ca khúc của một vài tác giả ở một
giai đoạn, thời điểm nhất định mà cần thiết phải nghiên cứu trên một phạm vi ca
khúc tiêu biểu, ứng với từng thời kỳ phát triển của nền âm nhạc VN.
Nghiên cứu vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN, đặt hiện
tượng văn hóa này trong môi trường điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa, kinh tế xã
hội... của dân tộc, lý thuyết hệ thống được vận dụng để lý giải nguyên nhân dẫn tới
những biến đổi của việc khai thác CLVHDG qua các thời kỳ phát triển của ca khúc
đồng thời cũng được vận dụng để phân tích sự tác động của các yếu tố đối với việc
khai thác CLVHDG trong giai đoạn hiện nay.
Ca khúc VN là một hệ thống, VHDG VN là một hệ thống. Khi khai thác, sử
dụng một yếu tố của hệ thống này đưa vào hệ thống khác phải có sự phù hợp bởi các
từ ngữ trong hệ thống của một ngôn ngữ này không phải bao giờ cũng có vị trí tương
đương trong hệ thống ngôn ngữ khác. Một lưu học sinh VN (rồi sau trở thành nghiên
cứu sinh, thực tập sinh cao cấp) ở Mat-xcơ-va đã phải đổi một tiếng trong họ tên cho
phù hợp với tiếng Nga. Đồng bào Thái và người Lào khi nghe, xem hát Chèo có
những lúc bưng miệng cười bởi những luyến láy đặc trưng trong lời hát Chèo lại là
tiếng tục trong ngôn ngữ của họ. Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Phan Cảnh nhận xét:
những từ ngoại nhập như “A-liêu-sa”, “Smô-lăng”, “Bô-ri-xôp”... trong bản dịch thơ
từ nguyên tác tiếng Nga rất “xa lạ” đối với ngôn ngữ thơ tiếng Việt nên bạn đọc khó
mà yêu, hiểu và nhớ được [15, tr.224 - 225]. Trong lĩnh vực âm nhạc, đàn tranh, đàn
nhị có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng đã được du nhập thành công vào hệ thống
nhạc khí của dân tộc VN vì các nhạc khí ấy phù hợp với ngôn ngữ âm nhạc của dân
tộc VN. Đàn tỳ bà từ Tây Á du nhập vào Trung Quốc qua mấy ngàn năm đã trở
quan, diễn ngôn chính trị [208]. Trong đó, diễn ngôn chính trị được hiểu là “tất cả
các loại diễn ngôn có đối tượng là cách thức quản lý của nhà nước, của các tổ chức
chính trị, của các nhân vật chính trị (…), một diễn ngôn được xếp vào kiểu loại diễn
19