ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ THÚY
NHỮNG YẾU TỐ VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO CỦA THÍCH MINH CHIẾU LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
HÀ NỘI-2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
của cá nhân, được thực hiện trên nghiên cứu lý thuyết, khảo sát trên tác phẩm
cụ thể, không sao chép của ai. Số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực.
Đỗ Thị Thúy
LỜI CẢM ƠN
Để luận văn được hoàn thành, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
PGS. TS Nguyễn Bích Hà – người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt
quà trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo khoa Văn học, trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn đã dạy bảo tôi trong suốt thời gian vừa qua.
Trân trọng cảm ơn các thầy cô phản biện và các thầy cô giáo trong Hội đồng
đã đọc, nhận xét và góp ý về luận văn.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đế gia đình, bạn bè những
người đã tạo điều kiện thuận lợi và cổ vũ, động viên tôi rất nhiều trong quá trình
thực hiện luận văn này.
Dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế. Kính mong nhận được sự chia sẻ, những ý kiến đóng góp quý báu của
Quý thầy cô và các bạn!
Đỗ Thị Thúy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật giáo và yếu tố dân gian. 2
3. Mục đích nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Đóng góp của luận văn 4
3.2.2. Sự trừng phạt do thế lực trung gian là con người 93
3.3. Motif sự chết, hóa thân (motif tái sinh) 96
Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đã từ lâu, Phật giáo trở thành một trong những tôn giáo phổ biến nhất tại
Việt Nam, gắn liền với sự hình thành và phát triển của nước Việt. Tiến trình lịch sử
Phật giáo Việt Nam với dòng chảy xuyên suốt từ thời kỳ du nhập đến nay là một
quá trình mà Phật giáo luôn hội nhập vào sức sống của cả dân tộc. Phật giáo đã trải
qua các thời kỳ gắn liền với quá trình “du nhập”, với công cuộc dựng nước và giữ
nước, sự hưng thịnh của các triều đại Phong kiến và trải qua hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và Mỹ của đất nước. Vì thế, Phật giáo đã và đang trở thành một trong
những tôn giáo hàng đầu, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội, thế giới tâm linh,
chính trị của Việt Nam. Với sự hình thành phát triển của Phật giáo như vậy, một
dòng văn học Phật giáo Việt Nam cũng đã được hình thành và trở thành ngọn cờ
tiên phong trong công cuộc khai phóng văn hóa dân tộc.
Phật giáo mang sức lan tỏa lớn lao, tư tưởng, quan niệm, yếu tố Phật giáo đã bao
phủ trong nhiều yếu tố văn học đặc biệt văn học dân gian. Mối quan hệ qua lại giữa
Phật giáo và văn học được cả thế giới thừa nhận. Mối quan hệ giữa văn học và Phật
giáo là mối quan hệ qua lại hai chiều. Phật giáo ảnh hưởng đến văn học, dùng văn
học để truyền phát tư tưởng và ngược lại văn học cũng đã vay mượn những yếu tố
trong Phật giáo để phổ biến hóa, ly kỳ hóa Văn học dân gian chiụ sự ảnh hưởng,
chi phối của tư tưởng Phật giáo. Ngược lại tư tưởng Phật giáo mang những yếu tố
dân gian đậm đặc, với nhiều hình ảnh, biểu tượng, motif, type của văn học dân gian.
này, chúng tôi hy vọng đóng góp thêm một cái nhìn rõ hơn về mối quan hệ qua lại
giữa Văn học Phật giáo và Văn học dân gian.
2. Lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật giáo và yếu tố dân gian.
Trong lịch sử nghiên cứu, chúng tôi thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu về
yếu tố dân gian trong các tác phẩm của văn học viết, cũng như là nghiên cứu hình
thái học, thi pháp học của văn học dân gian nhưng rất ít công trình nghiên cứu về
mối quan hệ giữa tư tưởng Phật giáo và văn học dân gian. Tiêu biểu ta có thể bắt
gặp công trình nghiên cứu cuả Nguyễn Quang Lê trong bài: Thử tìm hiểu mối quan
hệ giữa lễ hội cổ truyền với Phật giáo qua tín ngưỡng dân gian trên tạp chí văn hóa
3
dân gian số 4 năm 1992. Hay trên tạp chí Văn học số 5 năm 1993 có bài nghiên cứu
của Lê Phong Văn hóa Phật giáo trong cổ tích. Cùng chủ đề đó ta cũng có công
trình Cảm quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam của Lại Phi Hùng, Nguyễn
Hữu Sơn đăng trên Tạp chí văn hóa dân gian số 2 năm 1994. Nguyễn Duy Đăng
cũng có công trình nghiên cứu Phật giáo với văn hóa dân gian Việt Nam năm 1999.
Rồi nghiên cứu của Thích Đồng Văn năm 2002 với tên Ảnh hưởng của Phật giáo
trong văn học dân gian Việt Nam trong chuyên san Lắng nghe, số 2 trên Website:
thuvienhoasen.org. Trong sách của hòa thượng Thích Trí Quảng chúng ta cũng gặp
công trình mang tên Tinh thần đạo Phật trong dân gian Việt Nam, trên Nguyệt san
Giác Ngộ, số 3 năm 2003. Năm 2005, với luận văn thạc sĩ của Đỗ Văn Đăng cũng
đã nghiên cứu mối quan hệ này trong công trình mang tên Truyện dân gian Việt
Nam về Phật giáo nhìn từ góc độ loại hình. Gần đây vào năm 2010, Nguyễn Quang
Vinh cũng đã nghiên cứu Về hình tượng Quan Âm Thị Kính trong đời sống văn hóa
dân gian Việt Nam được đăng trên sách Hồn quê Việt như tôi thấy. Đặc biệt năm
2012, T.S Đặng Thu Hà đã nghiên cứu đề tài Truyện cổ Phật giáo trong kho tàng
truyện cổ dân gian Việt Nam.
Tất cả các công trình đó đã đưa ra một kết luận giữa văn học dân gian và văn học
Phật giáo có sự tác động, mối quan hệ khăng khít lẫn nhau. Đặc biệt là tư tưởng
Phật giáo đã ảnh hưởng lớn đối với văn học dân gian và văn hóa dân gian. Và công
trình này của chúng tôi muốn tìm hiểu sự tiếp nhận những yếu tố dân gian trong một
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn gồm có 3
chương:
Chương 1: Tổng quan về Phật giáo, Phật giáo ở Việt Nam và Truyện cổ Phật
giáo do Thích Minh Chiếu sưu tầm.
Chương 2: Yếu tố văn học dân gian trong cốt truyện, nhân vật của Truyện cổ
Phật giáo do Thích Minh Chiếu sưu tầm.
Chương 3: Yếu tố văn học dân gian qua những motif trong Truyện cổ Phật giáo
do Thích Minh Chiếu sưu tầm.
5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO, PHẬT GIÁO VIỆT
NAM VÀ TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO DO THÍCH MINH CHIẾU
SƢU TẦM.
1.1. Khái lƣợc về Phật giáo
Những tiếng chuông, hình ảnh của những ngôi chùa, những pho tượng, những tín
đồ Phật giáo đã trở nên quen thuộc, gần gũi trên toàn thế giới. Phật giáo đã tạo nên
sức ảnh hưởng sâu sắc tới toàn thể dân chúng các nước. Phật giáo nhanh chóng trở
thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới.
Phật giáo ra đời khoảng thế kỷ thứ VI, trước Công nguyên (TCN) ở Ấn Độ. Thế
kỷ III, II TCN Phật giáo được coi là quốc giáo ở Ấn Độ, sau đó được truyền bá, lan
tỏa sang các nước lân cận và khu vực. Ngày nay Phật giáo đã có mặt ở nhiều nước
trên thế giới.
Phật giáo ra đời trong hoàn cảnh kinh tế xã hội Ấn Độ có sự chuyển biến sâu sắc.
Chế độ đẳng cấp khắc nghiệt của Ấn độ cổ đại ảnh hưởng tới cuộc sống của người
bình dân Ấn Độ, khiến những con người ấy bất lực, bế tắc trong cuộc sống. Sự phân
hóa đẳng cấp tạo nên mâu thuẫn xã hội gay gắt và là nguyên nhân chính dẫn đến
những cuộc đấu tranh chống lại sự phân hóa đó, chống lại với đẳng cấp cao nhất.
triết học khác đối với Phật giáo; sự thay đổi của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời.
Tất cả nguyên nhân chủ quan và khách quan trên dẫn tới sự phân phái của Phật
giáo, nổi lên là hai tông phái chính: Thứ nhất là phái Thượng tọa bộ (Tiểu thừa) bao
gồm các vị trưởng lão chủ trương bám sát kinh điển, giữ nghiêm báo luật, phái này
chỉ thờ Phật Thích cao, chủ trương Phật tử phải tự giác ngộ cho bản thân mình và
chỉ tu tới bậc La Hán. Phái thứ hai là Đại chúng bộ – Đại Thừa chủ trương không cố
chấp theo kinh điển, khoan dung trong thực hiện giáo luật. Phái này chủ trương thờ
nhiều Phật, thu nạp tất cả những người muốn quy y, tự giải thoát cho mình và giúp
giải thoát cho nhiều người có thể tu thành Phật.
7
Giáo lý mà Phật Thích Ca và các đệ tử của Ngài truyền bá đến quần chúng nhân
dân có nội dung đề cập đến các vấn đề về “Tứ diệu đế” và “Niết Bàn” Đó là quá
trình xoay quanh nguồn gốc của nỗi khổ, sự diệt khổ dẫn đến cõi Niết Bàn. “Tứ
diệu đế” cắt nghĩa bản chất và nguyên nhân gây ra đau khổ và con đường khắc
phục sự đau khổ, bao gồm tứ đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Khổ đế: bản chất
của nhân sinh là khổ, nỗi khổ do con người tự gây nên, gồm “bát khổ” sinh khổ, lão
khổ, bệnh khổ, tử khổ, sở cầu bất đắc khổ, ái thụ biệt khổ, oán tăng hội khổ, ngũ
uẩn khổ. Tập đế giải thích nguyên nhân đau khổ do vô minh, ái dục của con người
vì thế con người sống suy nghĩ và hành động không đứng đắn nên thấy được thực
tướng của vạn vật là giả, là huyễn hoặc Diệu đế là kết quả của hạnh phúc, giải
thoát và an lạc. Đạo đế là con người tu dưỡng để trở thành đạo, gồm tám con đường
lớn gọi là “Bát chánh đạo”. Giáo lý nhà Phật được tập trung trong cả Tam tạng gồm
có Kinh tạng (ghi lại những lời thuyết pháp của Phật và một số đệ tử), Luận tạng
(những lời bàn luận về kinh sách nhà Phật) và Luật tạng (lời Phật dạy về giới luật và
nghi thức sinh hoạt của chúng tăng). Ngoài ra Phật giáo luôn hướng tới cõi “Niết
bàn”, vậy “Niết bàn” theo quan điểm của Phật giáo là trạng thái vắng lặng, tịch diệt,
nếu con người đạt tới thì sẽ sống an nhiên tự tại, vô ngã vị tha, đây là trạng thái lý
tưởng. Niết bàn có thể được hiểu là một thế giới sau khi con người chết, nếu tu hành
đắc đạo linh hồn sẽ được siêu thoát về thế giới lý tưởng đó. Niết bàn cũng có thể tồn
tại ngay trong thế giới trần tục, con người có thể đạt tới khi loại bỏ được “tham, sân,
Quan điểm của dã sử cho rằng Phật giáo được truyền từ Ấn Độ vào Việt Nam
vào khoảng thế kỷ thứ III TCN, hay cuối thời đại Hùng Vương (2879 – 258TCN),
dựa trên sự kiện lịch sử trong truyện “Chử đồng tử” – trong Lĩnh Nam Chích Quái
của Trần Thế Pháp chép lại:
“ Tiên Dung bảo Chử Đồng Tử rằng”
- Vợ chồng ta do trời định khiến, ăn mặc là của trời cho, bây giờ nên lấy một thỏi
vàng, cùng với người nhà buôn đi ra biển mà mua hàng đen về làm kế sinh nhai.
Đồng Tử bèn cùng đi với nhà bán buôn; ngoài biển có một hòn núi tên là Quỳnh
Viên sơn; trên núi có một chiếc am nhỏ (chùa nhỏ), người đi buôn ghé thuyền ở đấy
mà lấy nước ngọt. Đồng Tử lên chơi trên am, có một Tăng Sĩ tên là Phật Quang
truyền pháp cho Đồng Tử. Đồng Tử mới lưu lại am nghe thuyết pháp, trao vàng cho
9
người đi buôn mua hàng, dặn lúc nào trở về, thì nghé lại am để chở Đồng Tử cùng
về. Nhà sư mới tặng cho Đồng Tử một cái gậy và một cái nón, bảo rằng: Linh thông
ở tại những vật này đó.
- Đồng Tử trở về, đem chuyện đạo Phật nói với Tiên Dung. Từ đó, giác ngộ, bỏ
chợ búa, nghề buôn, và đem nhau đi tìm thầy học đạo”.
Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trụ sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung
tâm Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương
Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng
các năm 168-189.
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được
phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân gian.
Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa [3], Bụt được coi như một
vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này, vào thế kỷ thứ 4-5,
do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị mất đi và được thay
thế bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành "Phật đà",
"Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật”.
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà Trần,
Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn
mọi nơi và có mặt từ rất lâu đời. Mật tông là một tông phái Phật giáo chủ trương sử
dụng những phép tu tụng niệm các mật chú để đạt đến chân lý giác ngộ. Khi vào
Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng
hòa lẫn vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, pháp thuật,
yểm bùa, trị tà ma, chữa bệnh,
Với hai con đường trên, Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ khoảng đầu Công
nguyên. Với việc sử dụng những phương pháp thuyết phục, dẫn dụ để truyền bá
cùng với việc giáo lý của Phật giaó không đối kháng với tín ngưỡng bản địa nên
Phật giáo được người dân Việt Nam thu nhận và phạm vi ảnh hưởng của Phật giáo
ngày càng trở nên sâu rộng. Và dần dần, Phật giáo chiếm vị thế quan trọng trong
nền văn hóa Việt Nam đúng như lời của Lê Quát sống vào cuối đời nhà Trần đã nói:
“Từ trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm,
không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin, hễ nơi nào có nhà ở
11
là ắt có chùa chiền Dân chúng quá nửa nước là sư ” [31, tr.106-107] . Trong đời
sống tinh thần của người Việt Nam thì “đạo Phật thân thiết đến nỗi dường như một
người Việt Nam nếu không theo một [39, tr.248] tôn giáo nào khác thì ắt là theo đạo
Phật hoặc chí ít là có cảm tình với đạo Phật . Có lẽ vì vậy, chúng ta không hề ngạc
nhiên khi Phật giáo trở thành tôn giáo chính thống đời Lý – Trần và để rồi: “…Phật
giáo với tư cách là quốc gia, là biểu tượng tinh thần của dân tộc Việt Nam thời Lý
Trần, một trong những đặc trưng văn hóa của văn hóa Việt Nam truyền thống, là
một khuôn mẫu ứng xử của phép “đối nhân xử thế” Việt Nam và đạo đức Việt Nam
cổ truyền ” [31, tr.106-107].
1.2.2. Đặc điểm riêng của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo Việt Nam mang đầy đủ các đặc điểm của đạo Phật nói chung. Nhưng
cũng như các tôn giáo khác khi vào một đất nước lạ, do quá trình thích nghi với địa
bàn, người bản địa sẽ có sự thay đổi phù hợp với môi trường. Chính vì vậy, Phật
giáo khi được truyền vào Việt Nam, đặc điểm Phật giáo ở Việt Nam sẽ khác so với
Phật giáo các nước khác. Phật giáo đã hòa nhập, thích nghi và kết hợp với đời sống
tâm linh, văn hóa của người dân Việt nên có những đặc điểm riêng biệt làm cho
Phật giáo mới có đặc điểm khác biệt các nước khác mà Phật giáo của Trung Quốc,
Phật giáo của Ấn Độ, Phật giáo của Campuchia cũng sẽ vừa mang những nét chung
lại mang những đặc điểm cá thể mà tính bản địa này quy định, tác động và tạo nên.
Một số các nhà nghiên cứu đã cho rằng ngay từ buổi đầu Phật giáo vào Việt
Nam, tuy ở Luy Lâu, Phật giáo đã “ không hoàn toàn giống với Phật giáo của đức
Thích ca, cũng không hoàn toàn giống với Phật giáo của Ấn Độ đương thời. Nó đã
bị biến dạng đi do truyền thống tư tưởng và tín ngưỡng của người Châu Giao, người
Á đông”. [39, tr. 38].
Có nhiều yếu tố tác động, dẫn đến sự khác biệt trong Phật giáo, tính bản địa sẽ
bao gồm các yếu tố về đời sống của từng vùng miền, tư tưởng nhập thế của những
con người nơi đây, cùng theo đó là ngưỡng kiến thức của họ khi họ tiếp thu, đồng
thời họ có sự giao thoa văn hóa với các tín ngưỡng dân gian, tự giao thoa với các
loại tôn giáo ngoại lai. Tất cả những cái đó sẽ tạo ra tính bản địa, chi phối đến Phật
giáo khi vào Việt Nam. Không chỉ có tính bản địa hóa, Phật giáo Việt Nam còn chịu
ảnh hưởng nhỏ hơn bởi tính khu vực hóa, vùng miền hóa. Ứng với mỗi vùng miền,
13
khu vực tại Việt Nam ta lại thấy Phật giáo được phân hóa và mang những đặc điểm
khác nhau như với Miền Nam và Miền Bắc Việt Nam là một điển hình.
Trong cuốn sách nghiên cứu Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, ông Nguyễn Duy
Hinh cũng đã chỉ ra: “Dù là Phật giáo dạng nào, khi thâm nhập vào một lãnh thổ có
truyền thống văn hóa bản địa, thì sẽ kết hợp với nhau tạo thành dạng Phật giáo phi
truyền thống, nghĩa là không hoàn toàn rập khuôn Phật giáo Ấn Độ” [23, tr.81].
Như vậy, Phật giáo mỗi nước sẽ có những đặc trưng riêng dựa trên một nền tảng
chung của Phật giáo gốc tại Ấn Độ và Việt Nam cũng vậy. Tính bản địa của Phật
giáo ở Việt Nam được thể hiện rất nhiều trong những truyện cổ Phật giáo tại Việt
Nam. Ta có thấy rõ điều nay trong nhiều truyện cổ dân gian, về mặt cốt truyện
chính sẽ có sự giống hệt so với nguyên bản cổ nhưng sau khi vào mỗi nước tính bản
địa hóa đã khiến cho truyện có nội dung khác biệt thiên về đặc điểm của mỗi nước
như: Xẩm sờ voi, Mèo lại hoàn mèo, Hai con cò và con rùa, Cây nêu ngày Tết Đặc
biệt chúng tôi đề cập đến Xẩm sờ voi. Đây là một câu chuyện xuất hiện cả trong
canh gác xung quanh, nhưng thực chất Tứ Pháp không phải Phật mà chỉ được
khoác cho tấm áo Phật, đây là thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp gắn liền với tín
ngưỡng dân gian. Hay Thạch Quang Phật chính là thần đá, liên quan tới tín
ngưỡng thờ đá của người Việt Cổ.
Tín ngưỡng thờ thần được phát triển rộng rãi ở khắp đất nước Việt nam từ cấp độ
làng. Thần làng, ấp là những vị có công đánh giặc ngoại xâm, những vị có công lập
thành làng, khai hoang mở đất, những vị tổ nghề, thần còn là hồn thiêng sông núi.
Từ đó, đã dẫn tới một số nhà sư trở thành thần thánh được thờ trong chùa, theo kiểu
“tiền Phật hậu Thần”. Nhà sư Từ Đạo Hạnh được tôn làm Thánh, vì ông đã hóa
phép đầu thai sinh ra vua Lý Thánh Tông. Ông được thờ trong chùa Láng (Hà Nội),
quê ông là ở chùa Thầy (Hà Tây). Ngoài ra các vị thần thánh là những người có
công đánh giặc cũng được đưa vào thờ trong chùa. Điều đó nói lên một thực tế nước
ta liên tiếp phải chống giặc ngoại xâm mà Phật giáo không thể không thừa nhận.
Đồng thời, trong đời sống tâm linh người Việt, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên diễn
ra sâu rộng nhất so với các loại hình tín ngưỡng khác. Sự nhớ về nguồn cội, biết ơn
cha mẹ, tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, nhớ công ơn sinh thành, nuôi dưỡng, dạy
dỗ của cha mẹ, ông bà luôn được đề cao. Đối với Phật giáo lý tưởng cao quý nhất là
15
mong thành Phật để được lên cõi Niết Bàn, không có gì vương vấn ở cõi trần thế
này. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tác động vào chùa thành hình thức Thờ Sư Tổ như
chùa Diện Phúc thời Lý, nhưng mạnh mẽ là phải kể từ khi Nho giáo được đề cao,
với việc coi trọng hiếu đễ.
Ở Việt Nam, Đức Phật được đồng nhất với các vị thần trong tín ngưỡng truyền
thống. Có khả năng giúp đỡ mọi người thoát khỏi tai họa, làm nên mây mưa để mùa
màng tốt tươi, cứu độ cho người chết Vì vậy, Phật giáo ngày càng ăn sâu vào đời
sống tâm linh của người Việt.
Ngoài ra, Phật giáo sau khi được truyền bá vào Miền Nam, một trong ba tông
phái Phật giáo Trung hoa là Mật Tông chủ trương dùng các phép tu huyền bí như
linh bùa, phù chú đã không còn tồn tại một cách độc lập mà nó hòa mình vào với
tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa
Đường thống trị nước ta) ở khắp các mạch núi sông của ta, bằng các cây tháp gọi là
Bát vạn sơn, nhằm triệt tiêu những nhân tài đất Việt. Hoặc hiện tượng các nhà sư
thời Lý dùng phép thuật bùa chú của Đạo giáo, phù thủy để được tôn thờ làm thành
thần. Hoặc việc bộ tượng của Đạo giáo: Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu được bày
thờ phổ biến trong các điện thờ Phật. Hoặc việc dựng chùa cũng viện đến thuật
phong thủy của Đạo giáo, như “xây chùa phải chọn khu đất tốt, ngày tốt, giờ tốt.
Đất tốt là nơi bên trái – trống không hoặc có sông hồ, ao ngòi bao bọc, bên phải có
núi hổ cao dày lớp lớp quay đầu chầu lại hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, long
tán hoặc có hình long, phượng, quy, xà chầu bái, ấy là đất có long ngai tay hổ vậy”.
Những triết lý của Phật giáo Lý – Trần đã góp phần làm cho tư tưởng Nho giáo
Việt Nam thời kỳ này không phải là phiên bản nguyên mẫu của Nho giáo Trung
Hoa. Các nhà tu hành trí thức có ý thức quốc gia, có lòng yêu nước trong sáng, học
vấn uyên thâm cả về giáo lý đạo mình và kinh điển của đạo khác nên có một tinh
thần đại đồng, không bị hình thức sắc tướng làm mê chấp, làm cho các vị ấy đã sớm
biết đoàn kết, đứng chung dưới ngọn cờ dân tộc để phù trợ chặt chẽ cho các chính
sách, đường lối của triều đình, cả về đối nội lẫn đối ngoại. Với tinh thần khoáng đạt,
các nhà sư khi cố vấn, gián nghị các vua đều không câu chấp, lúc thì vận dụng Lão,
khi thì trưng dẫn Nho để thuyết phục. Tinh thần “tam giáo đồng nguyên còn được
thể hiện trong lời đáp của Thiền sư Viên Chiếu khi được hỏi về ý nghĩa của Phật
giáo và Thánh (Nho):
17
“Trúc tắc kim ô chiếu
Dạ lai ngọc thố minh”
(Ngày thì mặt nhật sáng soi
Đêm về vằng vặc khung trời ánh trăng)
Câu thơ là sự ngụ ý bảo tuy ứng dụng của Nho và Phật trong đời khắc nhau,
nhưng đều đem lại cho đời ánh sáng ví như ngày cần ánh sáng mặt trời, đêm cần
ánh sáng vầng trăng.
Chính vị Vua Trần Thái Tông cũng đã từng nói: “Sách Nho dạy làm điều nhân
đức, kinh Lão dạy yêu thương người và vật, Phật chủ trương hãy giữ gìn giới và