ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
PHẠM THỊ TRÂM
VAI TRÒ CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG SÁNG TÁC CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN
HIỆN ĐẠI
(Dấu ấn của truyện cổ dân gian
trong một số tác giả, tác phẩm tự sự Việt Nam sau 1945)
Chuyên ngành: VĂN HỌC DÂN GIAN
Mã số: 5.04.07 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. GS. TS Lê Chí Quế
2. PGS. TS La Khắc Hoà HÀ NỘI - NĂM 2002
văn học
36
2.1. Vai trò của truyện cổ dân gian trong sự hình thành và
phát triển các thể loại tự sự văn học Việt Nam
37
2.2. Truyện cổ dân gian và những dấu ấn sáng tạo mới trong
văn xuôi tự sự từ 1945 đến nay
41
Chương II: truyện cổ dân gian và một số hình thức
mô phỏng, phát triển cốt truyện
trong văn học việt nam giai đoạn trước 1975
56
1. Nhà văn viết truyện cổ tích
56
1.1. Cổ tích dân gian và cổ tích văn học - hai hệ thống nghệ
thuật thẩm mĩ tương đồng
56
1.2. Truyện cổ dân gian và sự chế tác của nhà văn
66
1.3. Vai trò của truyện cổ dân gian trong việc hình thành
nội dung và hình thức truyện cổ tích văn học
75 4
2. Truyện cổ dân gian và xu hướng tiểu thuyết hóa
91
2.1. Cơ sở và hình thức hư cấu nghệ thuật
91
2.2. Những thủ pháp nghệ thuật phát triển cốt truyện
5
A. Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
1. Mục đích, ý nghĩa
Văn học dân gian và văn học viết là hai hệ thống nghệ thuật riêng
biệt. Chúng tồn tại độc lập và có những đặc trưng riêng, dẫn đến khả năng
nghệ thuật của việc nhận thức và tái tạo hiện thực trong văn học dân gian
và văn học viết không giống nhau. Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và
phát triển, hai hệ thống nghệ thuật này luôn luôn có sự ảnh hưởng và tác
động qua lại lẫn nhau một cách sâu sắc, thúc đẩy nền văn học dân tộc ngày
càng phát triển.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết ở
nước ta từ trước đến nay là một vấn đề thu hút được nhiều nhà khoa học
quan tâm. Mối quan hệ đó cũng được các nhà nghiên cứu xem xét dưới
nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, nhiều bình diện, nhưng cuối cùng, dù
nghiên cứu ở mức độ nào, mục đích đi vào nghiên cứu sự ảnh hưởng giữa
văn học dân gian và văn học viết cũng là để xem xét số phận lịch sử của
một hiện tượng nghệ thuật nói riêng, một hiện tượng văn hóa nói chung.
Chẳng hạn nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã so sánh câu lục bát trong ca dao
và câu lục bát trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Tác giả đã chứng minh,
từ lục bát trong ca dao đến lục bát trong Truyện Kiều có một quá trình vận
động rất lớn, nó đã biến câu lục bát thô mộc thành câu thơ (hiểu theo
nghĩa đã được gia công, sáng tạo). Đặt trong sự phân tích đối sánh giữa
hai loại chúng ta sẽ thấy được quá trình phát triển của câu thơ lục bát
trong tiến trình phát triển. Cũng như vậy, nếu như Phan Ngọc đi vào
nghiên cứu câu lục bát để chỉ ra số phận lịch sử của nó, thì nhà nghiên cứu
Kiều Thu Hoạch trong bài “Vai trò của truyện kể dân gian đối với sự hình
thành các thể loại tự sự trong văn học Việt Nam”[102, tr.74] lại quan tâm
lai mà nhiều người gọi là xã hội “hậu công nghiệp”. Tuy nhiên cũng
không phủ nhận những hậu họa có thể xảy ra nếu chỉ chú ý đến sự phát
triển kinh tế mà không quan tâm đến văn hóa, đến con người có văn hóa.
Nhiều tác giả, nhất là Alvin Toffler trong tác phẩm nổi tiếng “Làn sóng
thứ ba” (The third wave) đã phê phán nền kĩ trị, một cơ chế xã hội mới với
những mâu thuẫn gay gắt và nan giải. Ngay trong bản thân con người,
trong sự phát triển cao cũng nhiều khi sa vào xu hướng lệch lạc, phiến
diện, cứng nhắc, đơn điệu, thậm chí vô cảm hơn do tính chất chương trình 7
hóa và điều kiện hóa rất nặng nề, tạo nên những cảm xúc và thị hiếu “nhãn
hiệu”, “đóng hộp”. Vậy, làm sao giữ được bản sắc dân tộc, giữ được
những giá trị truyền thống tốt đẹp, giữ được cá tính trong mỗi con người,
làm sao giữ được những trạng thái “hồn nhiên”, “tự nhiên” vốn có của con
người cũng là một vấn đề thời sự. Vấn đề này cũng được Đảng ta thể hiện
rõ trong nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng
(Khóa VII), về việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, quyết tâm đẩy lùi những ảnh hưởng xấu từ bên ngoài du
nhập; giữ gìn và phát huy được những giá trị truyền thống nhân văn tốt
đẹp của dân tộc; tiếp thu được những tinh hoa, những tư tưởng, trình độ
hiện đại của thế giới. Điều đáng chú ý là, những năm gần đây, các nước
công nghiệp phát triển có xu hướng quay về những giá trị của văn hóa dân
gian như là một phản ứng tự nhiên đối với sự phát triển không lành mạnh
của nền công nghiệp chính nước họ.
Bản sắc văn hóa Việt Nam, ở phần chủ yếu nhất của nó đều nằm vào
phần dân gian - dân tộc, trong đó có các sáng tác dân gian. Chính vì vậy,
nếu giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài chắc chắn sẽ có tác động
tích cực đến tình hình sáng tác hiện nay trong việc vận dụng những tinh
hoa nghệ thuật truyền thống phục vụ cho cuộc sống hiện đại, nó gợi mở ra
khảo sát.
- Xác định được mục đích và lí giải được nguyên nhân của những xu
hướng và sáng tạo của các nhà văn khi quay trở về vận dụng những kinh
nghiệm nghệ thuật truyền thống dân gian ở từng thời kì lịch sử khác nhau.
Đặc biệt là trong những giai đoạn lịch sử có những biến cố trọng đại. Trên
cơ sở đó thấy được sức sống tiềm tàng của truyện cổ dân gian nói riêng,
văn học dân gian nói chung, thấy được sứ mạng lịch sử của văn học dân
gian trong quá trình phát triển xã hội, thấy được tài năng sáng tạo của
người nghệ sĩ khi kế thừa tinh hoa nghệ thuật truyền thống, những giá trị
tinh thần của quá khứ được kết tinh trong văn học.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyện cổ và tác phẩm truyện trong
sáng tác của một số nhà văn tiêu biểu nhằm đưa ra những khái quát lí
thuyết về mối quan hệ giữa hai hệ thống nghệ thuật văn học dân gian và
văn học viết trong tiến trình lịch sử văn học. Tìm ra những nguyên tắc tiếp
nhận và sáng tạo của văn học đối với văn học dân gian ở những xu hướng
và cấp độ ảnh hưởng khác nhau.
3. Những đóng góp mới của luận án
1. Lần đầu tiên luận án xác định được một cách cụ thể truyện cổ và
truyện trong sáng tác của các nhà văn là hai hệ thống nghệ thuật đặc trưng, 9
chuyên biệt nhưng thường xuyên có tác động ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau
trên một phạm vi rộng lớn, và trong một tiến trình lịch sử lâu dài.
2. Luận án là công trình đầu tiên vận dụng lí luận nhiều chiều để khảo
sát một cách cụ thể hàng loạt hiện tượng đồng sáng tạo qua sáng tác của
một số nhà văn trên những khuôn thức nghệ thuật dân gian để bắt chước,
mô phỏng và phát triển cốt truyện nhằm tạo ra những tác phẩm nghệ thuật
theo kiểu có địa chỉ tiếp nhận (viết cho thiếu nhi).
3. Luận án là công trình đầu tiên khảo sát một vệt hiện tượng mới của
dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam” cũng đánh giá
rất cao sức sống của văn hoá dân gian trong đó có bộ phận văn học dân
gian trong xã hội hiện đại, “vừa chứa đựng những tiềm năng, vừa chứa
đựng những động lực cho việc không ngừng xây dựng nên những giá trị
thẩm mĩ mới” [45, tr.160]. Không những thế, tác giả công trình còn khẳng
định ý nghĩa chính trị và xã hội to lớn của văn hóa dân gian. Tác giả cho
rằng “các nhà hoạt động chính trị, xã hội và tôn giáo, các tổ chức chính trị,
xã hội và tôn giáo cũng lại luôn luôn quan tâm đến các vấn đề văn hóa dân
gian và tìm cách khai thác các giá trị văn hóa dân gian vì mục đích của
mình”[45, tr.18].
Xem xét sự tác động ảnh hưởng của văn học dân gian - văn học viết
trong lịch sử từ khi văn học hình thành, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được
mối quan hệ sâu sắc giữa hai bộ phận đó trong sự tác động qua lại hỗ trợ
lẫn nhau trong quá trình phát triển. Tuy nhiên mức độ, tính chất của sự
ảnh hưởng còn tuỳ thuộc vào từng thời kì lịch sử, thời kì phát triển của
văn học. Chẳng hạn, ở thời kì đầu, văn học viết gần gũi với văn học dân
gian trên nhiều phương diện, trong đó hình thức vay mượn ở dạng mô
phỏng, sao chép. Văn học dân gian lúc này như là chất liệu, là nguồn cảm
hứng trực tiếp đối với sáng tác văn học. Cùng với thời gian, văn học dân
gian không tồn tại trong văn học viết một cách thụ động, bột phát nữa mà
nó trở thành một kho báu về những kinh nghiệm nghệ thuật phong phú
cho sự sáng tạo của văn học.
Nghiên cứu trên bình diện lí luận chung về ảnh hưởng của văn học
dân gian trong quá trình phát triển văn học dân tộc có một số bài báo đáng
chú ý. Tiêu biểu là bài viết của tác giả Lê Kinh Khiên bàn về “Một số vấn
đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian - văn học viết”[39].
Tác giả bài viết đã nhìn nhận vấn đề dựa trên cơ sở lịch sử văn học dân tộc
để chỉ ra điều kiện, hoàn cảnh ra đời, đặc trưng thi pháp chung của sự tác
động qua lại giữa hai hệ thống nghệ thuật. Tác giả bài viết đã chỉ ra bản
như Tô Hoài, Tú Mỡ, Xuân Diệu Cuối cùng tác giả bài báo đi đến khẳng
định “sáng tác dân gian cung cấp nhiều tài liệu quí cho nhà văn xây dựng
những biện pháp nghệ thuật và ngôn ngữ văn học phù hợp với yêu cầu thẩm
mĩ có truyền thống từ lâu đời của quảng đại quần chúng lao động. Nhưng 12
sáng tác dân gian còn là một pho lịch sử vô cùng sinh động về cuộc sống
của nhân dân do chính nhân dân viết nên. Trong đó có biểu hiện đầy đủ
những quan điểm lịch sử xã hội của nhân dân qua nhiều thời kì lịch sử khác
nhau. Do đó sự chú ý của nhà văn tới sáng tác dân gian cũng như việc sưu
tầm ghi chép và nghiên cứu những sáng tác ấy, thường gắn liền với công
việc tìm hiểu và nghiên cứu đời sống nhân dân, tâm hồn nhân dân, chuẩn bị
cho việc xây dựng những bức tranh xã hội trong đó nhân dân lao động đóng
vai trò chủ yếu” [9, tr.19].
Nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị trong bài “Mấy ý kiến về vấn đề nghiên
cứu mối quan hệ giữa văn học với văn học dân gian” cho rằng, muốn
nghiên cứu mối quan hệ này phải thông qua nghiên cứu lí luận chung, tức
là phải nghiên cứu “văn học dân gian ảnh hưởng tới văn học cụ thể ra sao?
dưới những hình thức nào? Và, việc văn học ảnh hưởng về nguồn sáng tác
nghệ thuật truyền miệng của nhân dân được quy định và điều tiết bởi
những nhân tố nào?” [88, tr.51 - 52].
Về vấn đề lí luận chung, ý kiến của tác giả Đặng Văn Lung bàn về
“Vai trò của văn học dân gian trong sự phát triển của văn học dân tộc”
cũng đề cập đến việc nhà văn sử dụng văn học dân gian, tức là “đi tìm các
giá trị sử dụng của văn học dân gian dưới góc độ sáng tác văn học”[56,
tr.92]. Tác giả bài viết đã đưa ra hàng loạt hiện tượng từ trong lịch sử văn
học ảnh hưởng văn học dân gian theo kiểu dạng mang tính chất trực quan,
kinh nghiệm như cốt truyện, hình tượng nhân vật, môtíp (Việt điện u
linh, Lĩnh Nam chích quái ).
học dân gian và văn học viết của các nhà nghiên cứu châu Âu, đặc biệt là
ở Nga, ở Việt Nam để nhằm chỉ ra chức năng thẩm mĩ của văn học dân
gian trong văn xuôi hiện đại Việt Nam trong việc xây dựng môi trường cụ
thể, dựng nhân vật người kể chuyện, xây dựng tính cách nhân vật Tác
giả bài viết cũng đã đề cập đến vai trò của cấu trúc, thể loại và phong cách
dân gian trong văn xuôi hiện đại (mối quan hệ thể loại cổ tích dân gian và
cổ tích văn học, mối quan hệ thể loại có cốt truyện dân gian trong văn
xuôi, chỉ ra phong cách nghệ thuật dân gian trong văn xuôi). Xu hướng
nghiên cứu này cũng gần với đề tài mà chúng tôi đặt ra. Tuy nhiên, hướng
giải quyết không trùng lặp và mức độ giải quyết vấn đề khác nhau. Vì tính
chất và giới hạn đặt ra nên tác giả công trình tập trung nhiều vào lí luận
của nước ngoài, phần khảo sát còn sơ lược, đặc biệt là các tác phẩm sau
1975 chưa được đề cập đến. Tuy nhiên, công trình này cũng đã gợi mở
cho chúng tôi hướng nghiên cứu và khảo sát một cách có hệ thống những
ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học hiện đại trong một giai 14
đoạn lịch sử dài (từ 1945 đến nay), nhất là những hiện tượng văn học sau
thời kì đổi mới.
Trên phương diện lịch sử văn học, có khá nhiều bài viết đi vào khảo
sát sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với sáng tác của một số tác giả
tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân
Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Hồ Chí Minh,
Nguyễn Bính, Tố Hữu, Trần Hữu Thung Hầu hết các tác giả này đã vận
dụng nguồn ca dao, tục ngữ và thi pháp của văn học dân gian để tạo nên
những tác phẩm trữ tình đậm đà phong vị dân gian. Có thể kể ra hàng loạt
công trình nghiên cứu Folklore như: “Tìm hiểu quan điểm biên soạn và
phương pháp biên soạn Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên” của tác giả
Nguyễn Đăng Na[61]; “Bàn về yếu tố văn học dân gian trong Truyền kỳ
“Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian” đã cho rằng “Hồ Xuân
Hương nghĩ cái nghĩ dân gian, cảm cái cảm dân gian” [62, tr.36]. Đặng
Thanh Lê trong bài viết “Hồ Xuân Hương – Bài thơ Mời trầu, cộng đồng
truyền thống và cá tính sáng tạo trong mối quan hệ văn học dân gian và
văn học viết”[52] đã đi vào nghiên cứu môtíp truyện Trầu cau, trong ca
dao cho đến bài Mời trầu của Hồ Xuân Hương. Tác giả bài viết đã chứng
minh “hệ thống các sáng tác có môtíp Trầu cau đã đi theo những chặng
đường lịch sử khá lôgíc từ sự khẳng định của cộng đồng giai cấp đến sự tự
khẳng định của cộng đồng thế hệ và cuối cùng, sự tự khẳng định của một
cái tôi cá nhân”[52, tr.70].
Tác giả Đặng Văn Lung nghiên cứu “Nguyễn Đình Chiểu và văn học
dân gian”[57] trên bình diện phong cách nghệ thuật. Tác giả nhận xét “cốt
truyện và nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu còn ở dạng mô hình” (môtíp
văn học dân gian). “Đối với văn học dân gian ông sử dụng cốt truyện và
phong cách biểu hiện nhưng đã nâng lên để chúng mang một ý nghĩa
nghiêm túc hơn, thời sự hơn” và “qua Nguyễn Đình Chiểu, một bộ phận
văn học dân gian được hồi sinh, được ghi nhận, hơn thế nữa còn báo hiệu
sức đi xa của chúng”[57, tr.57].
Tiếp đến là công trình nghiên cứu của Trịnh Bá Đĩnh: “Tìm hiểu
phong cách dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến”[17]; của Nguyễn
Khắc Xương: “Tản Đà và văn học dân gian”[103]; của Nguyễn Quốc
Tuý: “Thi pháp dân gian trong thơ Nguyễn Bính”[93]. Các tác giả đều
khẳng định vai trò của văn học dân gian về nhiều góc độ, cả về đề tài lẫn
thi pháp, cách nói dân gian 16
Đề cập đến mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trên
góc độ lịch sử văn học, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến những tác giả
lớn như Hồ Chủ tịch, Tố Hữu, Nguyễn Thi , những tác giả đã vận dụng
17
ra vệt hiện tượng trong bức tranh toàn cảnh của văn học sau 1986 trong đó
có hình thức nhại cổ tích
Lê Đình Kỵ cũng đưa ra vắn đề “Đối thoại với văn học dân gian và
bản lĩnh của người viết”[49]. Sau khi so sánh giữa nhân vật Trương Chi
của truyện cổ và Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp, ông khẳng định tài
năng sáng tạo của nhà văn và đi đến kết luận “dù sao Nguyễn Huy Thiệp
có được ý nghĩ cũng là nhờ nương bóng thiên tài dân gian”[49, tr.31].
Gần đây trong cuốn “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”[72] do Phạm Xuân
Nguyên sưu tầm và biên soạn đã tập hợp nhiều bài viết đề cập đến ảnh
hưởng của văn học dân gian trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy
Thiệp về việc sử dụng chất liệu văn học dân gian, ngôn ngữ dân gian,
phong cách dân gian, thi pháp dân gian Trong đó đáng chú ý là bài viết
“Những ngọn gió Hua Tát” của Nguyễn Huy Thiệp như hình mẫu các
truyền thuyết văn học của tác giả T.N.Philimônôva (nhà nghiên cứu văn
học Nga). Tác giả chỉ rõ “nền tảng của cốt truyện cổ tích này, sử dụng các
môtíp cổ tích điển hình và cũng giống như trong các truyện cổ tích” [72,
tr.70]. Trong đó nhà văn sử dụng nhiều yếu tố kì diệu, kết cấu tác phẩm
vốn là những cấu trúc hình thức của truyện cổ dân gian.
Cũng trong cuốn sách còn có bài viết “Về cái ma lực trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của tác giả Đông La [72], “Đọc Nguyễn Huy
Thiệp” của tác giả Văn Tâm [72]; “Nguyễn Huy Thiệp: Những chuyện
huyền kì, núi, sông và nước” của Nguyễn Vi Khanh [72]; “Tư duy tiểu
thuyết và Folklore hiện đại” của tác giả Hoàng Ngọc Hiến [72] đều hoặc
đề cập đến chất triết lí, chất huyền thoại trong tầng bậc của truyện Nguyễn
Huy Thiệp.
Gần đây, trong Hội thảo Tự sự học do khoa Văn trường Đại học sư
phạm Hà Nội tổ chức cũng có một số bài viết đề cập đến mối quan hệ ảnh
hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết. Trong đó đáng chú ý là
trong văn học 1945 đến nay dưới hai góc độ: nghiên cứu sức sống tiềm
tàng của văn học dân gian trong quá trình vận động, phát triển của văn
học; nghiên cứu những xu hướng, cấp độ sử dụng cốt truyện, sử dụng thi
pháp của truyện cổ dân gian. Những mối quan hệ ảnh hưởng ở những tầng
bậc sâu hơn, trừu tượng hơn không nằm trong phạm vi nghiên cứu của
chúng tôi.
- Trên cơ sở phân tích những xu hướng, những cấp độ tác động của
truyện cổ đối với bộ phận truyện, chúng tôi sẽ so sánh mức độ giữa các xu
hướng, các cấp độ sử dụng của nhà văn. Mục đích của việc so sánh này là
để tìm hiểu những dấu ấn của sự phát triển và kế thừa những cách tân
trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. 19
- ở mỗi xu hướng, mỗi cấp độ, chúng tôi chọn phân tích những tác gia
tiêu biểu, mà theo chúng tôi là đặc trưng, có dấu ấn rõ nét, có độ kết tụ tác
phẩm đậm đặc cho xu hướng sáng tác, cấp độ sáng tác đó. Chính vì vậy
mà có những tác giả được chúng tôi sử dụng trong nhiều cấp độ hoặc có
cấp độ chỉ có một tác giả.
- Tư liệu khảo sát cho đề tài là các tác phẩm thuộc bộ phận truyện của
các nhà văn Việt Nam (lấy mốc thời gian từ tháng Tám năm 1945 đến nay)
có sử dụng nguồn truyện cổ tạo nên hai xu hướng sáng tạo nói trên.
- Do tính chất của đề tài gắn nối giữa hai loại hình sáng tác nên trong
quá trình khảo sát phân tích ở khu vực hiện đại, chúng tôi có sử dụng các
tác phẩm truyện cổ dân gian cần thiết nhằm tạo cơ sở so sánh, đối chiếu
trong các thao tác nghiên cứu. Cụ thể ở khu vực truyện cổ, chúng tôi chỉ sử
dụng các tác phẩm thuộc thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ
ngôn mà nhà văn đã sử dụng cốt truyện hoặc thi pháp nghệ thuật. Trong
khu vực văn học Việt Nam hiện đại sau 1945, chúng tôi chỉ chọn khảo sát
bộ phận truyện của các nhà văn tiêu biểu như: Tô Hoài, Phạm Hổ, Nguyễn
IV. Bố cục của luận án
Luận án được thể hiện trong 180 trang. Ngoài phần mở đầu, phần kết
luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương:
Chương I: Vai trò của truyện cổ dân gian trong đời sống văn hóa, xã
hội và trong văn học
Chương II: Truyện cổ dân gian và một số hình thức mô phỏng, phát
triển cốt truyện trong văn học giai đoạn trước 1975
Chương III: Truyện cổ dân gian và một số hình thức sáng tạo nghệ
thuật mới trong văn học sau 1975.
21
B. Nội dung
Chương I
Vai trò của truyện cổ dân gian
trong đời sống văn hóa, xã hội và văn học
Trong chương này, chúng tôi trình bày một cách khái quát dấu ấn của
bộ phận truyện cổ trong lĩnh vực đời sống xã hội cũng như trong quá trình
vận động và phát triển của văn học để thấy được sức sống mãnh liệt của
nó trong những cơ tầng văn hóa của nhân loại; thấy được phạm vi ảnh
quan trọng. Chính vì thế, trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cần phải
chú trọng đến việc tìm ra những phương sách tối ưu để xử lí vấn đề
văn hóa dân gian. Vì vậy, cần phải tìm hiểu một cách thấu đáo bản
chất của văn hóa dân gian.
Văn hóa dân gian được nhận diện trên cả hai phạm trù nghĩa
rộng (tương đương với thuật ngữ quốc tế là folk culture) và nghĩa
hẹp (tương đương với thuật ngữ quốc tế là folklore).
Hiểu theo nghĩa rộng thì văn hóa dân gian “bao gồm toàn bộ văn
hóa vật chất và tinh thần của dân chúng”[45, tr.13]. Nó bao gồm phương
thức sản xuất ra của cải vật chất, sinh hoạt vật chất của dân chúng, những
phong tục tập quán gắn với cộng đồng người, những sinh hoạt tinh
thần, những tri thức về tự nhiên và xã hội của dân chúng cũng như
tư tưởng, tình cảm, những quan niệm về đạo đức, những nhận thức
về thế giới, về nhân sinh, về quan hệ giữa con người và thế giới
Văn hóa dân gian hiểu theo nghĩa hẹp chính là phần mang tính
thẩm mĩ trong folk culture. Nó bao gồm các tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian, các sinh hoạt văn hóa dân gian, đặc biệt là các hội
lễ dân gian. Ngoài ra, folklore còn bao gồm các hiện tượng và các
vật phẩm của đời sống ngày thường
Tuy nhiên, “dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì bao giờ
văn hóa dân gian cũng phản ánh sự thích nghi một cách chủ động
của con người với môi trường. Và những giá trị văn hóa dân gian 23
chính là những giá trị tinh thần đã được đúc kết nên trên cơ sở
những thành tựu của sự thích nghi”[45, tr.16].
1.1. Văn hóa dân gian nói chung, truyện cổ dân gian nói riêng
trong tâm thức của con người hiện đại
ở nước ta, chất liệu văn hóa dân gian với tính chất là một nghệ thuật
tác văn học do nhân dân sáng tác và lưu truyền, trong đó thành phần nghệ
thuật ngôn từ (tức thành phần văn học) chiếm một vị trí quan trọng trong
tổng thể mối quan hệ hữu cơ với các thành phần nghệ thuật và phi nghệ
thuật khác. Khởi thủy của văn học dân gian hình thành và tồn tại trong
tổng thể văn hóa dân gian nhưng trong quá trình phát triển, bộ phận ngôn
từ được giãn nở và đóng vai trò quan trọng với tư cách là một hình thái ý
thức xã hội phản ánh hiện thực đời sống thông qua sự hư cấu nghệ thuật.
Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử - xã hội, văn học dân gian
gắn với sinh hoạt, sản xuất, gắn với lễ nghi Khi loài người chưa có chữ
viết, trước nhu cầu biểu hiện trực tiếp nhận thức thẩm mĩ của nhân dân và
thực tại nhằm lưu truyền và bảo lưu những tri thức dân gian, đời sống tình
cảm dân gian thì chỉ thông qua hình thức truyền miệng. Truyền miệng đã
trở thành đặc trưng sáng tác, lưu truyền, bảo lưu văn học dân gian. Trong
một thời kì dài văn học dân gian đã tồn tại trong cộng đồng, sống trong
môi trường cộng đồng. Chính vì vậy, trong di sản văn hóa của nhân loại,
văn học dân gian đã thực sự cũng là một kho báu về trí tuệ, tâm hồn và
thẩm mĩ cao đẹp của nhân dân ta. Trong đó chứa đựng những tri thức hiểu
biết cực kì phong phú và đa dạng về cuộc sống nhân dân các thời đại. Đó
là những quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh, những kinh nghiệm sản xuất,
những tập quán lao động, những quan hệ về họ hàng, làng nước, những tín
ngưỡng, phong tục, những phẩm chất đạo đức và những tình cảm nhiều
mặt trong đời sống con người.
Văn học dân gian còn là pho sách giáo huấn bề thế và cao đẹp về tâm
hồn, về đạo đức làm người Việt Nam. Tinh hoa đạo đức là tâm hồn dân
tộc, trí tuệ dân tộc trước hết được kết tinh trong văn học dân gian, qua
những tác phẩm có nội dung sâu sắc, giàu ý nghĩa: Lạc Long Quân và âu
Cơ, Sơn Tinh Thủy Tinh, Cóc kiện trời, Thánh Gióng, An Dương Vương,
Quả dưa hấu, Trầu cau, Chử Đồng Tử và Tiên Dung, Rùa chạy thi với
thỏ, Đẽo cày giữa đường…
Văn học dân gian còn có một giá trị thẩm mĩ to lớn, thể hiện trên
gian như truyện thần thoại, truyền thuyết, sử thi, cổ tích lối phản ánh
hiện thực một cách kì ảo là rất phổ biến. Những hình tượng kì ảo tạo nên
vẻ đẹp riêng của văn học dân gian, vẻ đẹp gắn liền với thời thơ ấu của
nhân loại.
Văn học dân gian đã bước ra từ cuộc sống nguyên thô và thông qua
con đường lưu truyền, bảo lưu rất đặc trưng của nó, văn học dân gian sống
trong cộng đồng lại tiếp tục tác động trở lại đời sống tư tưởng, tình cảm 26
của con người một cách sâu sắc, toàn diện, lâu dài. Và cứ như thế, qua
thời gian, những giá trị ấy đã ăn sâu trong tâm thức của con người hiện
đại, nó kết tủa thành những lớp trầm tích trong những cơ tầng văn hóa của
nhân loại. Trong những môi trường cụ thể, trong những điều kiện cụ thể
nào đó của hoàn cảnh, văn học dân gian nói chung và truyện cổ dân gian
nói riêng lại có sức tỏa sáng mới, đóng góp những trọng trách mới trước
những yêu cầu khác nhau của lịch sử và thời đại.
Nói tóm lại, văn hóa dân gian có tính chất phổ biến rộng rãi và mãi
mãi có một sức sống bất tử trong nhiều tầng bậc của cuộc sống và nghệ
thuật sáng tạo của con người. Bởi, một khi cuộc sống vẫn còn tồn tại, con
người trong “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” thì vẫn còn phải đấu tranh,
vật lộn với cuộc sống, đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, vẫn còn nuôi
dưỡng những hi vọng và ước mơ, những niềm tin về một ngày mai tươi
sáng hơn, vẫn còn ấp ủ những cho mình các phép màu Những giá trị to
lớn trên của văn hoá dân gian trở thành một sức sống mãnh liệt tiềm ẩn
trong thế giới tinh thần của nhân dân qua nhiều thế hệ. Sự tồn tại của nó
được hiện hữu dưới cả hai dạng hữu thức và vô thức. Chúng ta có thể nhận
thấy rõ điều đó khi đặt nó trong tổng thể của văn hóa dân gian nói chung.
ở dạng hữu thức, văn hóa dân gian được kể miệng từ đời ngày qua
đời kia như các ông bà già kể cho con cháu nghe, như người Tây Nguyên