i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
THUYẾT MINH ðỀ TÀI
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ðỘNG TỚI TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ VIỆT NAM
GIAI ðOẠN 2000-2006 Chủ nhiệm ñề tài: PGS. TS. Trần Thọ ðạt
TRƯỜNG ðẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
trò của vốn con người ñến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai ñoạn 2000-
2004. Các ước lượng dựa trên số liệu gộp cho thấy các nhân tố ñầu vào nói chung,
và vốn con người nói riêng, có là các yếu tố quan trọng ñể giải thích sự tăng trưởng
kinh tế của các tỉnh, thành phố Việt Nam, cũng như ñể giải thích khoảng cách chênh
lệch giữa các vùng kinh tế ở Việt Nam trong 5 năm qua.
Với những kết quả tìm ñược, ñề tài ñưa ra một số kiến nghị chính sách nhằm
thúc ñẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, trong ñó nhấn mạnh sự gia tăng ñầu tư
vào giáo dục, ñồng thời yêu cầu có sự chú ý tới tác ñộng khác nhau của vốn con
người ở những vùng kinh tế khác nhau. iii
MỤC LỤC
TÓM TẮT...............................................................................................................ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ..............................................................v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT........................................................................vii
LỜI NÓI ðẦU ........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của ñề tài ...................................................................................1
2. Mục ñích nghiên cứu........................................................................................4
3. Số liệu và phương pháp nghiên cứu..................................................................4
4. Kết cấu của ñề tài.............................................................................................4
II.1.2. Thước ño vốn con người dựa trên chi phí giáo dục...............................28
II.1.3. Thước ño vốn con người dựa trên thu nhập ..........................................29
II.2. Xây dựng các mô hình thể hiện vai trò của vốn con người với tăng
trưởng kinh tế ..................................................................................................31
II.2.1. Số liệu gộp...........................................................................................31iv
II.2.2. Xây dựng mô hình hồi quy...................................................................33
II.2.3. Xác ñịnh và mô tả các biến số..............................................................35
CHƯƠNG III – THỰC TRẠNG VỐN CON NGƯỜI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ Ở CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ VIỆT NAM GIAI ðOẠN 2000-2004 ...............39
III.1. Các nguồn số liệu....................................................................................39
III.2. Thực trạng vốn con người và tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố
Việt Nam giai ñoạn 2000-2004.........................................................................41
III.2.1. Vốn con người của các tỉnh, thành phố và vùng kinh tế Việt Nam ......42
III.2.2. Thực trạng kinh tế - xã hội ở các tỉnh, thành phố Việt Nam giai ñoạn
2000-2004 ......................................................................................................61
CHƯƠNG IV – PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA VỐN CON NGƯỜI VỚI TĂNG
V.2. Kiến nghị chính sách ................................................................................93
V.3. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai .............94
NGUỒN SỐ LIỆU ................................................................................................95
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................99
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bản ñồ 3.1: Phân vùng kinh tế Việt Nam...............................................................40
Bảng 3.1: Danh mục các tỉnh, thành phố của mỗi vùng..........................................42
Bảng 3.2: Số học sinh và giáo viên theo cấp học....................................................46
Bảng 3.3: Số người từ 15 tuổi trở lên phân chia theo trình ñộ giáo dục..................47
Bảng 3.4: Mức vốn con người của các vùng ..........................................................50
Bảng 4.1: Hồi quy OLS sử dụng số liệu gộp..........................................................76
Bảng 4.2: Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên ................................................................77
Bảng 4.3: Mô hình hiệu ứng cố ñịnh với ñầy ñủ các biến.......................................78
Bảng 4.4: Hồi quy GLS sử dụng số liệu gộp..........................................................79
Bảng 4.5: Mô hình hiệu ứng cố ñịnh không có F, G và SOE..................................82
Hình 3.8: Chi phí giáo dục năm 2004 ....................................................................54
Hình 3.9: Chi phí giáo dục bình quân lao ñộng năm 2004......................................55
Hình 3.10: Thu nhập bình quân lao ñộng tại mỗi trình ñộ giáo dục........................56
Hình 3.11: Tổng số lao ñộng hiệu quả năm 2004 ...................................................56
Hình 3.12: Số lao ñộng hiệu quả bình quân năm 2004 ...........................................57
Hình 3.13: Số năm ñi học bình quân so sánh với chi phí giáo dục..........................59
Hình 3.14: Số năm ñi học bình quân so sánh với chi phí giáo dục bình quân .........59
Hình 3.15: Số năm ñi học bình quân so sánh với số lao ñộng hiệu quả ..................60vi
Hình 3.16: Số năm ñi học so sánh với số lao ñộng hiệu quả bình quân ..................60
Hình 3.17: GDP thực tế năm 2004 và tốc ñộ tăng trưởng giai ñoạn 2000-2004......61
Hình 3.18: GDP thực tế và tốc ñộ tăng trưởng (bỏ qua 3 tỉnh lớn nhất)..................62
Hình 3.19: GDP bình quân lao ñộng thực tế và tốc ñộ tăng trưởng ........................63
Hình 3.20: GDP thực tế và GDP bình quân lao ñộng của các vùng năm 2004........63
Hình 3.21: GDP và vốn con người của các tỉnh, thành phố năm 2004....................64
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FDI Vốn ñầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GLS (phương pháp) bình phương nhỏ nhất tổng quát
(Generalized Least Squares)
HDI Chỉ số phát triển con người (Human Development Index)
LIB (thước ño) dựa trên thu nhập từ lao ñộng (Labor-income-based)
LSDV (phương pháp) biến giả bình phương nhỏ nhất
(Least Squares Dummy Variable)
OLS (phương pháp) bình phương nhỏ nhất thông thường
(Ordinary Least Squares)
UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc
(United Nation Development Program)
USD ðôla Mỹ (United States dollar)
VHLSS ðiều tra mức sống hộ gia ñình Việt Nam
(Vietnam Household Living Standards Survey)
VLSS ðiều tra mức sống Việt Nam (Vietnam Living Standards Survey)
VND ðồng Việt Nam (Vietnam dong)
WB Ngân hàng Thế giới (World Bank)
1
LỜI NÓI ðẦU
1. Tính cấp thiết của ñề tài
con người. Nếu một quốc gia không thể chuyển ñổi giữa hai mô hình này, thì quốc
2
gia ñó sẽ rơi vào cái bẫy “tăng trưởng kiểu Marx”, như trường hợp của Liên bang
Xô viết trước ñây.
1
Chiến lược tối ña hóa tích lũy vốn vật chất theo ñịnh hướng của
chính phủ ñã dẫn tới tình trạng phần lớn vốn vật chất bị sử dụng một cách không
hiệu quả. Câu hỏi “làm cách nào tránh ñược cái bẫy này” ñã trở thành mối quan tâm
ngày càng lớn tại các nền kinh tế ñã hay sắp vượt qua giai ñoạn ñầu của quá trình
công nghiệp hóa ở ðông Á.
Một số dấu hiệu suy giảm tốc ñộ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh cũng
như hiệu quả ñầu tư của nền kinh tế Việt Nam ñã khiến các nhà nghiên cứu và
hoạch ñịnh chính sách nhận ra rằng, sau một giai ñoạn tăng trưởng nhanh dựa trên
tích lũy vốn vật chất, ñất nước nên bắt ñầu tìm kiếm những mô hình tăng trưởng
kinh tế khác, chú trọng hơn tới sự tích lũy vốn con người và tiến bộ kỹ thuật.
Thứ hai, trong thời gian gần ñây ñã có những thay ñổi về phạm vi ñánh giá
sự tăng trưởng kinh tế và xóa ñói giảm nghèo ở Việt Nam, từ chỗ chỉ quan tâm ñến
các chỉ số tổng hợp của cả nước sang việc tập trung hơn vào cấp ñộ vùng và các
tỉnh, thành phố. ðiều ñó cho thấy những thành quả phát triển kinh tế - xã hội không
ñược chia sẻ ñều giữa các vùng và các tỉnh thành (Klump, 2004). Theo Tổng cục
Thống kê (2004b, 2005a), trong giai ñoạn 2000-2004, tốc ñộ tăng trưởng bình quân
năm của các tỉnh, thành phố Việt Nam có sự chênh lệch rất lớn: từ 4% ñến 24%. Số
liệu từ VLSS 1992-93, VLSS 1997-98 và VHLSS 2001-02 chỉ ra rằng: tốc ñộ giảm
nghèo nhanh chóng của Việt Nam có ñược phần lớn là nhờ thành công tại hai vùng
ðồng bằng sông Hồng (bao gồm Hà Nội) và ðông Nam Bộ (bao gồm thành phố Hồ
Chí Minh). Hệ số Gini toàn quốc của Việt Nam ñã tăng từ 0.33 năm 1992 lên 0.42
in 2002 (Klump và Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2004). Riêng trong năm 2002, các hệ số
Gini vùng chênh lệch từ 0.30 (mức ñộ bất bình ñẳng thấp) ở Bắc Trung Bộ và ðồng
bằng sông Cửu Long tới 0.36 ở ðồng bằng sông Hồng và 0.38 ở ðông Nam Bộ
hoạch ñịnh chính sách cần có một cái nhìn gần gũi hơn và rõ ràng hơn ñối với các
nền kinh tế cấp tỉnh, thành phố, ñể có thể ñưa ra những chính sách thích hợp với
từng ñịa phương, nhằm thúc ñẩy tăng trưởng kinh tế và xóa ñói giảm nghèo.
Cuối cùng, Báo cáo Quốc gia về Phát triển Con người của Việt Nam năm
2001 ñược coi là là một trong những nỗ lực nghiên cứu ñầu tiên về vốn con người ở
cấp tỉnh, thành phố Việt Nam. Báo cáo này chỉ ra một hiện tượng ñầy nghịch lý:
một số tỉnh thành có HDI (chỉ số phát triển con người) cao nhưng lại có tốc ñộ tăng
trưởng kinh tế thấp, và ngược lại. Mặc dù GDP bình quân ñầu người là một yếu tố
cấu thành của HDI, nhưng lại có sự chênh lệch lớn về thứ hạng giữa GDP/người và
HDI của 24 tỉnh, thành phố. Ví dụ, Nam ðịnh, Hà Tĩnh và Ninh Bình có HDI cao
cho dù mức thu nhập bình quân ñầu người thấp. Ngược lại, tại An Giang, Tuyên
Quang, Bắc Giang và Phú Yên, mức tăng trưởng và thu nhập cao không song hành
cùng mức vốn con người cao (Trung tâm Xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2001).
ðiều này làm nảy sinh câu hỏi: liệu vốn con người có ñóng vai trò quan trọng ñối
với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố trong 5 năm qua không? Hay nói các
khác, liệu các chính sách tăng cường ñầu tư phát triển con người của chính phủ có
ñem lại lợi ích cho tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành không?
4
Những vấn ñề cấp bách này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu tác ñộng
của vốn con người ñối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam trong
những năm qua, và ñây là chính là mục tiêu và nhóm các nhà khoa học trường ðại
học Kinh tế Quốc dân theo ñuổi khi thực hiện ñề tài “Vai trò của vốn con người ñối
với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam giai ñoạn 2000-2004”.
2. Mục ñích nghiên cứu
• Xây dựng một số thước ño vốn con người cho các tỉnh, thành phố Việt Nam,
chỉ ra ưu ñiểm và nhược ñiểm của mỗi thước ño và tìm ra thước ño thích hợp
nhất
• Phân tích tác ñộng của vốn con người tới tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh ở Việt
Nam giai ñoạn 2000-2004.
Chương V - Kết luận và các kiến nghị chính sách liên quan ñến vai trò của
vốn con người với tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố
Việt Nam giai ñoạn 2000-2004
6
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA
VỐN CON NGƯỜI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I.1. Cơ sở lý luận về vốn con người
I.1.1. Khái niệm và các khía cạnh của vốn con người – Tích lũy vốn con người
Hiểu một cách ñơn giản, vốn con người là kết quả của quá trình ñầu tư vào
các hoạt ñộng nhằm nâng cao năng suất lao ñộng cá nhân như giáo dục, y tế, ñào
tạo tại chỗ (on-the-job training)… Theo Laroche (1999), khái niệm vốn con người
có năm khía cạnh ñặc trưng.
Thứ nhất, vốn con người là một loại hàng hóa bất khả thương (non-tradable).
Cho dù là bẩm sinh hay có ñược do học tập, rèn luyện, nhưng kỹ năng và kiến thức
ñều hàm chứa trong cá nhân mỗi con người. Vì con người không phải là hàng hóa
(ngoại trừ trong chế ñộ chiếm hữu nô lệ), nên không có thị trường cho phép mua
bán tài sản vốn con người.
Thứ hai, mặc dù vốn con người là một loại tài sản cá nhân, nhưng không
phải lúc nào con người cũng có thể kiểm soát các kênh và các cách thức ñể có ñược
thứ tài sản này. Trong những năm ñầu của cuộc ñời, các quyết ñịnh liên quan ñến
vốn con người không do chủ nhân của nó mà do cha mẹ, thầy giáo, chính phủ và cả
xã hội nắm giữ thông qua các thể chế giáo dục và xã hội. ðến khi con người trưởng
thành, có thể tự chủ và ñộc lập trong cuộc sống, thì họ có quyền quyết ñịnh quá
trình ñầu tư vào vốn con người của mình, nhưng ảnh hưởng từ những người xung
quanh và các khuôn khổ thể chế ñược áp dụng nơi họ sinh sống sẽ tiếp tục tác ñộng
ñến quá trình hình thành vốn con người của mỗi cá nhân, cả về mặt lượng lẫn mặt
chất.
Thứ ba, vốn con người có cả mặt lượng lẫn mặt chất. Mặc dù chúng ta dễ
dàng ñịnh lượng ñược số năm ñi học của một cá nhân, nhưng ñầu tư vào vốn con
Hơn nữa, chính vì vốn con người hình thành nhờ sự giao tiếp giữa người với người,
nên (như ñã nói ở trên) nó mang hiệu ứng ngoại sinh và lan tỏa. Khía cạnh xã hội
này của vốn con người có ý nghĩa to lớn ñối với hệ thống chính sách liên quan ñến
các thể chế như gia ñình hay các tổ chức xã hội.
Vốn con người ñược tích lũy theo nhiều cách, nhưng rõ ràng giáo dục
2
là
nguồn tích lũy cơ bản nhất. Giáo dục ñóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình
học tập của cả xã hội, thông qua ñó những kỹ năng trí tuệ và chân tay ñược phát
triển, kiến thức ñược xây dựng và tích lũy, thái ñộ và tính cách ñược ñịnh hình,
năng lực ñược củng cố và kỳ vọng ñược tạo lập. Hệ thống giáo dục chính quy của
một quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với nền văn hóa, lịch sử và truyền thống của
quốc gia ñó, bởi vậy việc ñánh giá sản phẩm cuối cùng của giáo dục là vô cùng
2
Giáo dục ở ñây thường ñược hiểu là giáo dục chính quy, không bao gồm ñào tạo tại chỗ (on-
the-job-training) và học thông qua làm việc (learning-by-doing).
8
phức tạp (Cai, 1996). Hình 1.1 biểu diễn các yếu tố quyết ñịnh quá trình tích lũy
vốn con người và tác ñộng của quá trình này tới nền kinh tế - xã hội.
Hình 1.1: Các nhân tố quyết ñịnh vốn con người và tác ñộng của vốn con người
Nguồn: Schultz (1999)
ðầu tư vào giáo dục không chỉ bao gồm ñầu tư của nhà nước và các tổ chức
kinh tế - xã hội (các khoản ñầu tư này dễ ñịnh lượng nhất), mà còn ñược thực hiện
bởi các cá nhân (ñầu tư cho bản thân) và cha mẹ của họ (ñầu tư cho con cái). ðầu tư
cho vốn con người chiếm một phần phân bổ chi tiêu của hộ gia ñình, tổ chức kinh tế
- xã hội và nhà nước, ñồng thời cũng ñòi hỏi sự ñánh ñổi thời gian giữa nghỉ ngơi và
làm việc (ở ñây thường ñược hiểu là ñi học). Người ta thường coi chi phí thực tế
9
ñược hiểu là tăng trưởng GDP thực tế, thể hiện ở tốc ñộ tăng thu nhập thực tế của
một quốc gia, một vùng hay một ngành kinh tế.
Vốn vật chất, lao ñộng, vốn con người và tiến bộ kỹ thuật là bốn nguồn cơ
bản của tăng trưởng kinh tế.
3
Các nhà kinh tế học cổ ñiển nhấn mạnh vốn (ñược
hiểu là tài sản tài chính và vật chất ñược tích lũy) chính là ñộng cơ hoạt ñộng của cả
nền kinh tế. Cũng cần nhắc lại rằng, ñây là một tư tưởng mang tính cách mạng trong
một thời ñại mà ñất ñai ñược coi là thứ tài sản lớn nhất. Phải mất tới gần 100 năm,
các chính trị gia mới chấp nhận tư tưởng mới mẻ này và từ bỏ lối suy nghĩ rằng ñất
ñai và tài nguyên thiên nhiên là thứ tài sản duy nhất cần tích lũy và cần gây chiến
tranh ñể ñạt ñược (Piazza-Georgi, 2002).
Tuy nhiên, khi mô hình tăng trưởng tân cổ ñiển của Solow (1956) ra ñời, nó
ñã trở thành chỗ dựa chủ yếu cho mọi nghiên cứu và hạch toán tăng trưởng kinh tế
suốt 30 năm sau ñó. Theo mô hình này, con người không thể giải thích tăng trưởng
kinh tế mà chỉ dựa trên sự gia tăng vốn vật chất và lao ñộng. Yếu tố “số dư” hàm
chứa vô vàn nhân tố không xác ñịnh, một trong số ñó (và có thể là nhân tố quan
trọng nhất) là sự nâng cao chất lượng của các yếu tố ñầu vào. Ngay từ cách ñây hơn
40 năm, Schultz (1961) ñã dự báo “ñầu tư vào vốn con người có lẽ là lời giải thích
cơ bản cho sự chênh lệch” giữa tăng trưởng ñầu ra và tăng trưởng các ñầu vào vốn
vật chất và lao ñộng.
I.1.3. Vai trò của vốn con người ñối với tăng trưởng kinh tế
Nói chung, ñầu tư vào vốn con người mang lại những lợi ích to lớn và có tầm
ảnh hưởng sâu rộng. Ở cấp ñộ cá nhân, có trình ñộ giáo dục cao ñồng nghĩa với sức
khỏe tốt hơn, cơ hội kinh tế nhiều hơn và quyền tự chủ lớn hơn, ñặc biệt là với
người phụ nữ. Ở cấp ñộ quốc gia và vùng lãnh thổ, dân số có trình ñộ giáo dục cao
ñược coi là yếu tố cơ bản dẫn ñến tiến bộ kỹ thuật và phát triển kinh tế - xã hội
(Lutz, 2001).
I.1.3.1. Vốn con người trong các lý thuyết kinh tế truyền thống và hiện ñại
thuyết này là: những người có số năm ñi học nhiều hơn thì ñồng thời có công việc
tốt hơn và tiền lương cao hơn. Theo ñó, nếu chênh lệch thu nhập phản ánh chênh
lệch năng suất lao ñộng cá nhân, thì một cộng ñồng càng ñông người có trình ñộ
giáo dục cao sẽ có năng suất kinh tế tổng hợp càng lớn, kết quả là nền kinh tế quốc
gia tăng trưởng (Liu và các tác giả khác, 1993).
Ngoài những tác ñộng trực tiếp của vốn con người ñến năng suất lao ñộng, rõ
ràng là ñầu tư vào vốn con người nói chung và vào giáo dục nói riêng còn có nhiều
ảnh hưởng sâu rộng hơn. Những ảnh hưởng này thậm chí bao gồm lợi ích của giáo
dục tích lũy trực tiếp cho các cá nhân. Có thể nói, giáo dục vừa mang lại lợi ích tiêu
dùng trước mắt lẫn tác ñộng dài hạn ñối với ñộ thỏa dụng của cả cuộc ñời. Những
chính sách nhằm gia tăng vốn con người cũng có ý nghĩa với cả xã hội. Cung cấp
giáo dục công cộng sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe cộng ñồng, tỷ lệ tội phạm, môi
trường, việc nuôi dạy con cái… Tất cả những lợi ích sâu rộng này cuối cùng ñều
11
ñưa ñến phát triển kinh tế, qua ñó cho thấy cái nhìn rộng lớn hơn về vai trò của giáo
dục (Temple, 2001).
Theo quan ñiểm tổng quát của (Lucas, 1988), vốn con người ñóng góp vào
tăng trưởng kinh tế theo hai cách thức. Trước hết, vốn con người bao hàm trong mỗi
cá thể sẽ làm tăng năng suất cá nhân, dẫn ñến tăng năng suất chung và tăng trưởng
kinh tế. Thứ hai, vốn con người bao hàm trong mỗi cá thể cũng ảnh hưởng tới năng
suất của các nhân tố sản xuất khác. Hai cách thức tác ñộng này ñược gọi là các hiệu
ứng “nội sinh” và “ngoại sinh” của vốn con người. Cai (1996) tổng hợp các kênh
của những hiệu ứng này như sau: Các hiệu ứng nội sinh của giáo dục bao gồm:
4
(a)
gia tăng năng suất lao ñộng cá nhân trong việc sản xuất các loại hàng hóa và dịch
vụ; (b) gia tăng năng suất lao ñộng cá nhân trong việc sản xuất thêm vốn con người;
(c) giảm thời gian làm việc tại nhà của nữ giới và tăng chất lượng sản phẩm; (d)
thay ñổi giá trị của thời gian nghỉ ngơi thông qua tác ñộng của nó vào mức tiền
phân tích về R&D (nghiên cứu và triển khai), mà ñiển hình là mô hình của Romer
(1990), ñưa ñến kết quả là tốc ñộ tăng trưởng bền vững phần nào phụ thuộc vào
mức vốn con người. Giả thiết cơ bản ở ñây là vốn con người là nhân tố ñầu vào cơ
bản trong quá trình tạo ra ý tưởng mới. Trên thực tế, trong nhiều mô hình tăng
trưởng nội sinh, vốn con người phải ñạt trên một ngưỡng nhất ñịnh ñể có thể tạo ra
sự thay ñổi công nghệ.
Khi so sánh hai loại mô hình tăng trưởng, chúng ta có thể thấy rằng: nghiên
cứu của Lucas ñơn thuần là một mô hình tích lũy kiến thức nhưng nó dễ phân tích
hơn; còn các giả thiết bó buộc lại rất cần thiết ñể có thể ñi ñến kết quả của Romer là
tốc ñộ tăng trưởng dài hạn phụ thuộc vào mức vốn con người (Jones, 1995). Nhưng
ngay cả với những giả thiết tổng quát hơn, thì sự gia tăng mức vốn con người có thể
ñưa ñến sự gia tăng ñáng kể trong mức sản lượng, thông qua sự gia tăng tốc ñộ tăng
trưởng trong một thời kỳ.
I.1.3.3. Vốn con người trong thực tiễn tăng trưởng và phát triển kinh tế
Một nguồn nhân lực ñông ñảo có trình ñộ cao ñã trở thành ñiều kiện tiên
quyết cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia công nghiệp phát triển. Sự
yếu kém về trình ñộ của lực lượng lao ñộng sẽ mau chóng trở thành gánh nặng kinh
tế do tính phi hiệu quả và phi năng suất. Bởi vậy, ñể có thể tiến bộ, tăng trưởng và
thậm chí ñể tồn tại ñược, thì một xã hội ngày nay phải là một “xã hội có học vấn”
(Okoh, 1980). Tầm quan trọng của nền tảng học vấn và giáo dục ñối với phát triển
kinh tế ñược thể hiện rõ nét qua tốc ñộ phục hồi nhanh chóng của Tây Âu cùng với
Kế hoạch Marshall thời hậu chiến. Sự khôi phục và phát triển kinh tế thần kỳ của
Nhật Bản sau chiến tranh phần lớn là nhờ những biện pháp sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn vật chất cùng tài nguyên thiên nhiên ít ỏi và nguồn nhân lực có trình ñộ
cao (Waines, 1963).
Tương tự như vậy, vấn ñề cơ bản của hầu hết các nước ñang phát triển không
phải nghèo tài nguyên thiên nhiên mà là thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng
cao. Các nước nghèo từng cho rằng tốc ñộ tăng trưởng hoàn toàn phụ thuộc vào
mức vốn vật chất mà họ có thể tích lũy hoặc thu hút ñược. Hậu quả là họ ra sức tìm
phần nào cho biết mức vốn con người của mỗi quốc gia, nhưng ñộ chính xác của
thước ño phụ thuộc vào giả thiết chúng tương quan ñến mức nào với vốn con người
của quốc gia ñó.
14
Những nghiên cứu về tăng trưởng trong thời kỳ ñầu thường sử dụng tỷ lệ biết
chữ ở người trưởng thành và tỷ lệ nhập học ñể ño mức vốn con người của một quốc
gia. Ví dụ, Romer (1990) lấy tỷ lệ biết ñọc biết viết làm thước ño vốn con người;
Barro (1991) sử dụng tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học; Mankiw, Romer, và Weil
(1992) sử dụng tỷ lệ nhập học ở bậc trung học cơ sở. Tuy nhiên, khả năng biết ñọc
biết viết hay số lượng nhập học ñều chỉ là bước ñi ñầu tiên trong quá trình tạo dựng
nên vốn con người. Những biến số này có sẵn ở nhiều quốc gia nhưng không thể ño
mức vốn con người phục vụ cho sản xuất của các quốc gia ñó một cách chính xác.
Tỷ lệ nhập học các cấp phản ánh một loại biến kỳ của giáo dục, và tích lũy những
biến kỳ này chỉ là một trong những nhân tố hình thành nên vốn con người trong
tương lai. Tỷ lệ biết chữ ở người trưởng thành ño ñược một yếu tố của mức vốn con
người ở hiện tại, nhưng lại không bao gồm kiến thức và những kỹ năng mà con
người có ñược sau khi ñã trải qua các lớp học ñầu tiên ở cấp tiểu học.
Sau khi Barro và Lee (1993) tính toán ñược phân bố trình ñộ giáo dục cho
nhiều quốc gia trong giai ñoạn 1960-1990, thì thước ño mức vốn con người thông
dụng nhất chính là số năm ñi học bình quân của lực lượng lao ñộng, và thước ño
này ñã ñược sử dụng trong các nghiên cứu của Benhabib và Spiegel (1994) và Barro
và Sala-i-Martin (1995)… Số năm ñi học bình quân ñược tính bằng tổng các tích
giữa số năm ñi học nhân với số người trong mỗi nhóm trình ñộ, rồi sau ñó chia cho
tổng số người. Lợi thế của việc sử dụng số năm ñi học bình quân so với tỷ lệ biết
chữ ở chỗ: nó phản ánh trực tiếp và toàn diện khái niệm vốn con người có trong dân
số của một quốc gia. Hơn thế, số liệu về tỷ lệ nhập học ở hiện tại phải ñược lấy trễ
một kỳ (3-5 năm) nhằm ñảm bảo học sinh hoàn thành cấp học và bước vào thị
trường lao ñộng.
Tuy nhiên, chưa kể ñến những vấn ñề do sai số phép ño
tiếp cận dựa trên thu nhập trong việc ño lường vốn con người. Cách thứ nhất ño các
luồng ñầu tư vào khu vực giáo dục, rất thuận tiện cho những phân tích chi phí – lợi
ích. Cách thứ hai ño lợi ích của vốn con người thông qua giá trị thị trường của nó.
Các phần tiếp theo sẽ giới thiệu hai thước ño ñại diện cho hai cách tiếp cận trên.
I.2.1.2. Thước ño vốn con người dựa trên thu nhập từ lao ñộng
Theo Mulligan và Sala-i-Martin (1995, tr. 2), “trình ñộ của một con người
liên quan ñến mức tiền lương người ñó nhận ñược trên thị trường”. Nếu loại giáo
dục của một người nhận ñược là có ích, thì thị trường sẽ mang lại cho người ñó mức
lương cao. Do ñó, Mulligan và Sala-i-Martin (1997) ño vốn con người cho mỗi nền
kinh tế bằng cách cộng gia quyền số người lao ñộng của nền kinh tế ñó, với quyền
số là tỷ lệ giữa tiền lương của họ với tiền lương của người lao ñộng có mức vốn con
người bằng 0 (tức là người lao ñộng chưa trải qua năm ñi học nào).
Mulligan và Sala-i-Martin (1997) cho rằng ñối với thước ño vốn con người,
việc cho những người lao ñộng khác nhau có trọng số khác nhau là một ý tưởng hay
vì hai nguyên nhân. Trước hết, giáo dục ở những nơi khác nhau và tại những thời
ñiểm khác nhau có chất lượng khác nhau. Thứ hai, những loại và lượng giáo dục
khác nhau cũng thích hợp với những không gian và thời gian khác nhau. ðể thước
ño vốn con người bao hàm ñược các khái niệm chất lượng giáo dục và mức ñộ phù
16
hợp của giáo dục với thị trường lao ñộng, thì việc áp những trọng số khả biến là
ñiều cần thiết.
Mulligan và Sala-i-Martin (1997) bắt ñầu quá trình xây dựng chuỗi số liệu
tổng vốn con người cho một nền kinh tế bằng tổng số lao ñộng (ñã ñược ñiều chỉnh
dựa trên chất lượng – trình ñộ của người lao ñộng) có trong dân số:
∫
∞
=
0
,,
Giả thiết cho cách tính này là mức tiền lương của một cá nhân chịu ảnh
hưởng của hai yếu tố: một là khả năng của người lao ñộng ñó và hai là số lượng vốn
con người của cả nền kinh tế. Với một mức trình ñộ nhất ñịnh của người lao ñộng,
sự gia tăng vốn vật chất làm tăng năng suất của người ñó do tính chất bổ sung giữa
vốn vật chất và vốn con người. Tương tự như vậy, số lượng vốn con người tăng sẽ
làm giảm năng suất do tính chất lợi suất giảm dần của vốn con người (ở ñây ñược
thể hiện ở mức tiền lương giảm bớt). ðể xác ñịnh yếu tố cá nhân ở ñây, chúng ta
cần tách ñược yếu tố tổng hợp bằng cách chia tiền lương của của người lao ñộng
ñang xét cho tiền lương của người lao ñộng không có trình ñộ,
w
it,0
.
Thước ño vốn con người
dựa trên thu nhập từ lao ñộng
(LIB) này có ưu
ñiểm là ñảm bảo tính khả biến của ñộ co giãn thay thế giữa các loại trình ñộ lao
ñộng. Ngoài ra, nó không áp ñặt là mọi lao ñộng có cùng số năm ñi học nhất thiết
phải có cùng kỹ năng làm việc (nghĩa là nếu họ học những ngành khác nhau thì
năng suất làm việc của họ cũng có sự khác nhau). ðiều ñó cho phép năng suất lao
ñộng tương ñối có thể thay ñổi theo thời gian và giữa các nền kinh tế.
Vấn ñề chủ yếu với thước ño LIB là cách xây dựng thước ño vốn con người
như vậy có thể tạo ra ñộ chệch, bởi vì một mặt mức giáo dục có mối tương quan
dương với khả năng của người lao ñộng, nhưng mặt khác giá trị thị trường của giáo
dục không bao hàm ñược những lợi ích ngoại sinh do vốn con người mang lại
(Coulombe và Tremblay, 2001). Ngoài ra, nếu tiền lương tương ñối giữa những
17
người lao ñộng thay ñổi vì một nguyên nhân nào khác ngoài tiến bộ công nghệ hoặc
sự thay ñổi vốn con người, thì khi ñó thước ño này không phản ánh ñúng sự biến
ijt
⋅
y
ijt
trong ñó
i
biểu thị quốc gia,
t
biểu thị thời gian, và
j
biểu thị trình ñộ giáo dục.
Sau ñó, Judson sử dụng
d
ijt
làm trọng số trong thước ño vốn con người của
mỗi nền kinh tế. Theo ñó, vốn con người trung bình trên mỗi người lao ñộng bằng:
∑
=
j
ijtijtit
adh
trong ñó
a
ijt
là số năm ñi học trung bình của lực lượng lao ñộng ở mỗi mức trình ñộ.
Khi ñó, tổng vốn con người của cả nền kinh tế chính là
H
tại không phải là chỉ số chính xác ñể ño giá trị vốn con người ñã ñược tạo dựng từ
lâu, nhất là khi chất lượng giáo dục của một quốc gia thay ñổi theo thời gian
(Judson, 1995). Thứ hai, cũng giống như vốn vật chất, số tiền ñược chi tiêu cho giáo
dục chưa hẳn ñã là chỉ số ñáng tin cậy thể hiện chất lượng của giáo dục. Có vô số ví
dụ về những thành tựu giáo dục tốt với chi phí tối thiểu và ngược lại. Thứ ba, chi
phí giáo dục ñược sử dụng ñể ño vốn con người ở ñây chỉ gồm chi tiêu chính phủ
vào giáo dục chứ không có chi tiêu của khu vực tư nhân (Judson, 2002). Cuối cùng,
theo một số nhà nghiên cứu, chi phí tạo ra vốn con người phải bao gồm cả phần thu
nhập từ lao ñộng bị ñánh ñổi.
7
Tóm lại, mặc dù các thước ño vốn con người do Mulligan và Sala-i-Martin
(1997) và Judson (1995, 2002) ñề xuất có nhiều ưu ñiểm so với thước ño số năm ñi
học bình quân, nhưng bản thân chúng vẫn có những nhược ñiểm nhất ñịnh. Do vậy,
thước ño vốn con người nào ñúng ñắn và thích hợp nhất vẫn là vấn ñề gây tranh cãi.
I.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của vốn con người với tăng trưởng
kinh tế
Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, nghiên cứu kinh tế về vai trò của vốn con người
phát triển mạnh với hai hướng ñộc lập nhau. Một mặt, các công trình trong lĩnh vực
kinh tế lao ñộng vi mô ñã ñem lại những ước lượng về lợi suất tính bằng tiền của
giáo dục. Mặt khác, các nghiên cứu tăng trưởng kinh tế vĩ mô tìm cách khám phá
xem vốn con người của các quốc gia hay các vùng có mối quan hệ nào với tốc ñộ
7
Theo Laroche và Mérette (1999), các nghiên cứu tăng trưởng nội sinh chỉ ra hai loại chi phí
phát sinh do việc ñầu tư vào vốn con người của mỗi cá nhân. Chúng bao gồm: thu nhập bị ñánh
ñổi (do học sinh, sinh viên dành thời gian cho việc học thay vì ñi làm) và tiêu dùng bị ñánh ñổi
(vì phải dành tiền ñóng học phí thay vì tiêu dùng việc khác). Thước ño vốn con người của
Judson (1995, 2002) chỉ mới xét ñến loại chi phí thứ hai.