Vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 2011 - Pdf 15

1

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VAI TRÒ CỦAVỐN ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI TĂNG TRƢỞNG 3
1. Một số khái niệm chung 3
1.1. Vốn đầu tƣ 3
1.2. Khái niệm tăng trƣởng kinh tế 4
2. Vai trò của vốn đối với tăng trƣởng kinh tế 5
2.1. Mô hình Harrod –Domar 5
2.2. Mô hình tăng trƣởng Solow 6
2.3. Mô hình tổng cầu- tổng cung 12
CHƢƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐỐI VỚI SỰ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000-2011 14
1. Vai trò của nguồn vốn đối với tăng trƣởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011 14
2. Vai trò của vốn đối với tăng trƣởng kinh tế phân theo thành phần kinh tế 17
2.1. Vai trò của nguồn vốn khu vực kinh tế nhà nƣớc 17
2.2. Vai trò của nguồn vốn ngoài nhà nƣớc 20
2.3. vai trò của nguồn vốn nƣớc ngoài 23
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG TĂNG TRƢỞNG
KINH TẾ 26
1. Đối với nguồn vốn khu vực kinh tế nhà nƣớc 26
1.1. Nguốn vốn ngân sách nhà nƣớc 26
1.2. Nguồn vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc 27
1.3. Nguồn vốn đầu tƣ phát triển của doanh nghiệp nhà nƣớc 27
1. Đối với nguồn vốn kinh tế tƣ nhân 28
2. Đối với nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 28
2.1. Nguồn vốn viện trợ chính thức 28
2.2. Nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 29
KẾT LUẬN 30

3

CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VAI TRÒ CỦAVỐN ĐẦU
TƢ ĐỐI VỚI TĂNG TRƢỞNG
1. Một số khái niệm chung
1.1. Vốn đầu tƣ
Đầu tƣ là việc hy sinh các nguồn lực ở hiện tại nhằm thu đƣợc lợi ích trong
tƣơng lai bằng cách đƣa các nguồn lực hiện tại vào quá trình tái sản xuất xã hội.
Vốn đầu tƣ là nguồn vốn phục vụ cho các hoạt động đầu tƣ phát triển. Về bản
chất, nguồn hình thành vốn đầu tƣ chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế
có thể huy động đƣợc để đƣa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Khẳng định này đã đƣợc
chứng minh ở hầu hết các trƣờng phái kinh tế học nhƣ: kinh tế học cổ điển, kinh tế học
chính trị Mác-Lênin và kinh tế học hiện đại.
Trong tác phẩm “ Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith đã khẳng định:
“Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy
cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết
kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”
Sang thế kỷ XIX, theo quan điểm của Mác, con đƣờng cơ bản và quan trọng về
lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong
sản xuất và tiêu dùng, hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tƣ tái sản xuất mở rộng
chỉ có thể đáp ứng đƣợc do sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế .
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tƣ lại tiếp tục đƣợc các nhà kinh tế
học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm,
lãi suất và tiền tệ” của mình, John Maynard Keynes đã chính minh đƣợc rằng: Đầu tƣ
chính là phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra
rằng , tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng. Điều này có nghĩa
là: Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tƣ
Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng
4


nghĩa so sánh tƣơng đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Thu
nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dƣới dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập bằng
giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính
bình quân trên đầu ngƣời. Nhƣ vậy, về bản chất, tăng trƣởng phản ánh sự thay đổi về
lƣợng của nền kinh tế.
2. Vai trò của vốn đối với tăng trƣởng kinh tế
2.1. Mô hình Harrod –Domar
Năm 1946, mô hình Harrod-Domar về tăng trƣởng kinh tế và các nhu cầu về
vốn cơ bản dựa trên tƣ tƣởng của Keynes đã đƣợc trình bày với giới học giả kinh tế.
Đây là hai kết quả nghiên cứu độc lập của các nhà kinh tế Roy F. Harrod (công bố năm
1939) và Evsey Domar (công bố năm 1946). Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn
bản: (1) giá cả cứng nhắc, và (2) nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao
động. Nguồn gốc tăng trƣởng kinh tế là do lƣợng vốn (yếu tố K, capital) đƣa vào sản
xuất tăng lên. Mô hình coi đầu ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào cũng đều phụ thuộc vào
tổng vốn đầu tƣ cho đơn vị đó.
Phải đến mô hình này thì mối quan hệ tiết kiệm, tích lũy vốn và tăng trƣởng
kinh tế mới đƣợc lƣợng hoá và mặc dù mô hình còn quá đơn giản, nhƣng nó đã trở
thành cơ sở của chiến lƣợc tích lũy vốn nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế ở các nƣớc
sau chiến tranh thế giới thứ thứ hai.
Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy (s) trong đầu tƣ sẽ là:

Vì tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tƣ, nên về mặt lý thuyết đầu tƣ luôn bằng tiết
kiệm (St = It), do đó cũng có thể viết:

6

Mục đích của đầu tƣ là để tạo ra vốn sản xuất, nên It = Kt. Nếu gọi k là tỷ số gia
tăng giữa vốn và sản lƣợng (còn gọi là hệ số ICOR), ta có:

Do đó chúng ta có:

K là lƣợng tƣ bản đem đầu tƣ.
L là lƣợng lao động.
y là sản lƣợng trên đầu lao động.
k là lƣợng tƣ bản trên lao động
S là tiết kiệm của cả nền kinh tế.
s là tỷ lệ tiết kiệm.
I là đầu tƣ.
i là đầu tƣ trên đầu lao động.
C là tiêu dùng cá nhân
c là tiêu dùng cá nhân trên lao động.
δ là tỷ lệ khấu hao tƣ bản.
Δ là lƣợng tƣ bản tăng thêm ròng.
n là tốc độ tăng dân số,lao động
Hệ giả thiết:
Giả thiết 1:
Toàn bộ tiết kiệm S sẽ đƣợc chuyển thành đầu tƣ I (quy tắc trong kinh tế học tân
cổ điển) Và do đó, sY = I.
Giả thiết 2:
Mức sản lƣợng thực tế Y phụ thuộc vào lƣợng lao động L, lƣợng tƣ bản K và,
năng suất lao động A. Từ đó, ta có một hàm sản xuất vĩ mô Y = F(A,L,K).
Giả thiết là hàm này có dạng Cobb-Douglas, tức là:
Y= A




Nhân 1/L với L và K, thì vế trái sẽ thành Y/L tức là sản lƣợng thực tế trên đầu
lao động y. Còn K/L tức lƣợng tƣ bản trên đầu lao động k. Hàm sản xuất vĩ mô sẽ có
dạng sau:
8



= 

(1+gL)
trong đó, gL là hàm số của L. Đồng thời giả thiết là tốc độ thay đổi lao động đúng bằng
tốc độ thay đổi dân số n.
b) Mô hình:
Xét một dạng hàm tổng sản xuất Cobb-Douglas giản đơn:
9

Y= 




trong đó Y, K, L lần lƣợt là sản lƣợng, vốn và lao động của nền kinh tế. Nếu tính mức
sản lƣợng bình quân trên đầu ngƣời thì phƣơng trình trên sẽ còn là:
y= 


với y = Y/L (thu nhập bình quân công nhân ) và k = K/L (mức vốn bình quân công
nhân). Vì năng suất cận biên của vốn giảm dần nên khi k tăng thì y tăng chậm dần.
Từ mô hình tăng trƣởng Harrod – Domar, đã có I=sY với I là đầu tƣ của nền
kinh tế và s là tỷ lệ tiết kiệm quốc gia. Nếu chia cả 2 vế phƣơng trình này cho L, đƣợc
mức đầu tƣ bình quân công nhân i bằng:
i = sy
Tại mỗi thời điểm, lƣợng vốn là yếu tố quyết định sản lƣợng của nền kinh tế,
nhƣg lƣợng vốn có thể thay đổi theo thời gian, dẫn tới tăng trƣởng kinh tế. Mô hình
Solow xác định hai lực lƣợng tác động tới sự thay đổi của lƣợng vốn là đầu tƣ (làm

kiệm cũng tăng với tốc độ giảm dần, và đầu tƣ tăng cũng với tốc độ giảm dần. Vì vậy,
luôn tồn tại một trạng thái dừng của nền kinh tế, nơi mà mọi biến số đều hội tụ về một
giá trị cố định. Mô hình Solow chứng minh rằng: nếu nền kinh tế nằm ở trạng thái
dừng thì nó sẽ đứng nguyên tại đó, còn nếu nền kinh tế chƣa nằm ở trạng thái ổn định
thì nó sẽ có xu hƣớng tiến về đó (tức là 

và 

có xu hƣớng tiến về 

).
11

Trên hình vẽ có thể thấy tại 

có 



 . Tại điểm này: đầu tƣ chỉ vừa đủ
để bù đắp khấu hao 



 . Khi đó lƣợng vốn trên một lao động sẽ giữ nguyên
không đổi:   . Nghĩa là vốn không tăng lên nữa. Ở trạng thái dừng, 

= 

)

Khi mô tả nền kinh tế, cũng giống nhƣ mô hình cổ điển, ông cho rằng có hai
đƣờng tổng cung: AS – LR phản ánh mức sản lƣợng tiềm năng của nền kinh tế và AS –
SR phản ánh khả năng thực tế. Và, sự cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức
sản lƣợng tiềm năng, mà thông thƣờng sản lƣợng thực tế đạt đƣợc ở mức cân bằng nhỏ
hơn mức sản lƣợng tiềm năng nơi mà dƣới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi
ngƣời.
Khi nghiên cứu tiêu dùng cho đầu tƣ của các doanh nghiệp, Keynes cho rằng
đầu tƣ đóng vai trò quyết định đến quy mô việc làm và theo đó là tăng trƣởng kinh tế.
Mỗi sự gia tăng của đầu tƣ đều kéo theo sự gia tăng của cầu bổ sung công nhân, cầu về
tƣ liệu sản xuất. Do vậy làm tăng cầu tiêu dùng, tăng giá hàng, tăng việc làm cho công
nhân. Tất cả điều đó làm cho thu nhập tăng lên. Đến lƣợt nó, tăng thu nhập lại là tiền
đề cho sự gia tăng đầu tƣ mới. Đây là quá trình số nhân đầu tƣ: tăng đầu tƣ làm tăng
thu nhập; tăng thu nhập làm tăng đầu tƣ mới; tăng đầu tƣ mới làm tăng thu nhập mới –
nền kinh tế tăng trƣởng. Quá trình này đƣợc tính toán nhƣ sau:
K=dR/dI
Trong đó: dR là gia tăng thu nhập
dI là gia tăng đầu tƣ
K là số nhân
Vì dI=dS nên K=dR/dI = dR/dS= dR/(dR-dC)= 1/(1-dC/dR)
Theo Keynes, cùng với việc tăng lên của vốn đầu tƣ, thì hiệu quả giới hạn của tƣ
bản, tƣơng quan giữa thu hoạch tƣơng lai của đầu tƣ và phí tổn đầu tƣ, sẽ giảm sút. Có
hai nguyên nhân làm cho hiệu quả giới hạn của tƣ bản giảm sút. Thứ nhất đầu tƣ tăng
sẽ làm tăng thêm khối lƣợng cung ra thị trƣờng. Điều đó làm giảm giá hàng hóa và kéo
13

theo làm giảm thu nhập tƣơng lai. Thứ hai tăng cung hàng hóa sẽ làm giá cung của tài
sản tƣ bản tăng lên hay tăng phí tổn thay thế. Từ đó làm cho thu nhập tƣơng lai giảm
xuống.
Hơn nữa giữa đầu tƣ và lãi suất có quan hệ với nhau. Sự khuyến khích đầu tƣ
tùy thuộc một phần vào lãi suất. Nhà đầu tƣ sẽ tiếp tục đầu tƣ, chừng nào hiệu quả giới

4
5.8
19.2
20.9
24
27.9
32.4
51.3
52.6
39.1
41.1
44.5
46.3
45.2
43.5
47.3
66.1
83.2
84.1
35.5
22.6
22
19.3
17.2
16.9
18.9
25.8
31.1
31.3
29.6

40
60
80
100
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
vốn
lao động
TFP
15

vai trò chủ đạo trong thúc đẩy tăng trƣởng từ những năm 1998-1999. Chẳng hạn, mức
đóng góp này đạt 50% vào các năm 1997-1999 trƣớc khi tăng trở lại lên 68,0% trong
thời kỳ 2000-2007, thậm chí còn lên tới gần 84,1% vào năm 2009 . Nhƣ vậy, tăng
trƣởng kinh tế vẫn tiếp tục dựa chủ yếu vào gia tăng số lƣợng vốn đầu tƣ và khai thác
tài nguyên và nguốn vốn vẫn đóng vai trò chủ đạo trong tăng trƣởng kinh tế Việt Nam
giai đoạn 2000-2011.
Mặc dù nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong tăng trƣởng kinh tế Việt Nam
giai đoạn 2000-2011, nhƣng xem xét biến động của chỉ số ICOR trong 10 năm trở lại
đây luôn ở mức trên 4, và trung bình ở mức 5.78. Chỉ số ICOR ở mức hiệu quả xấp xỉ
3 nhƣng có những năm 2008, chỉ số này gần gấp 3 lần mức hiệu quả, điều này không
đồng nghĩa với việc vai trò của nguồn vốn trong tăng trƣởng kinh tế bị giảm sút mà
đƣợc giải thích dựa vào sự đầu tƣ kém hiệu quả các khu vực kinh tế đặc biệt là khu vực
kinh tế nhà nƣớc.

Nguồn: Tổng cục thống kê
1


24.48% năm 2000 lên tới 29.3% năm 2005) và tăng đột biến vào năm 2009.
0
5
10
15
20
25
30
35
40
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tăng trưởng GDP Tỉ lệ đầu tư so với GDP
17

2. Vai trò của vốn đối với tăng trƣởng kinh tế phân theo thành phần
kinh tế
2.1. Vai trò của nguồn vốn khu vực kinh tế nhà nƣớc
Xét theo nguồn hình thành, vốn đầu tƣ khu vực nhà nƣớc (NN)có thể chia thành 3
nguồn chính: vốn ngân sách nhà nƣớc, vốn tín dụng đầu tƣ phát triển, vốn của doanh
nghiệp nhà nƣớc và nguồn vốn khác. Trong đó:
 Vốn ngân sách nhà nƣớc (NSNN) là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao (45 -
55%), gữi vai trò chủ đạo trong khu vực này, có vai trò vô cùng quan trọng
trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia;
 Vốn tín dụng đầu tƣ phát triển ngày càng khẳng định đƣợc vai trò quan

đồng)
Cơ cấu
vốn
(%)
Cơ cấu
GDP
(%)
Tỷ lệ
vốn/GDP
đóng góp
Tỷ lệ cơ
cấu
vốn/cơ
cấu GDP
2000
68.1
111.5
59.15
40.75
0.61
1.45
2001
77.4
119.8
59.8
40.96
0.65
1.46
2002
86.7

39.89
0.75
1.3
2007
131.9
179.7
42.67
38.96
0.73
1.1
2008
128.6
187.6
38.59
38.25
0.69
1.01
2009
173.1
195.1
46.62
37.77
0.89
1.23
2010
167.8
204.1
41.93
37
0.82

thấp cho thấy hiệu quả sử dụng nguồn vốn càng cao. Khác với tỷ lệ vốn/GDP đóng
góp, , trong giai đoạn 2000 – 2011 tỷ lệ cơ cấu vốn/cơ cấu GDP đóng góp có xu hƣớng
giảm, nhƣng cũng có thể chia làm 3 giai đoạn. Từ năm 2000 – 2006, tỷ lệ này khá cao,
cho thấy hiệu quả đầu tƣ vốn không tƣơng xứng với hiệu quả đem lại cho GDP khi
trung bình cần tới 1.39 đồng vốn để cho 1 đồng GDP. Tuy nhiên đến giai đoạn 2007 –
2008, con số này giảm xuống chỉ còn tƣơng ứng 1.1 và 1.01, và tuy tăng cao trong 2
năm tiếp theo nhƣng lại trở về mức thấp 1.1. Điều này cho thấy cho dù hiệu quả sử
dụng vốn NN không đƣợc cao nhƣng với việc Chính phủ luôn cố gắng giữ tỷ lệ này ở
mức thấp cho thấy Chính phủ vẫn rất coi trọng nguồn vốn khu vực NN, vì xét cho
cùng thì để thu hút đầu tƣ và mở rộng quy mô nguồn vốn, tạo điều kiện phát triển kinh
20

tế theo cả bề rộng và bề sâu, nâng tổng mức đầu tƣ toàn xã hội lên cao, bàn tay của
Nhà nƣớc là một công cụ không thể thiếu
2.2. Vai trò của nguồn vốn ngoài nhà nƣớc
Nguồn vốn ngoài nhà nƣớc (hay nguồn vốn hộ gia đình và doanh nghiệp dân
doanh) là một trong ba bộ phận cấu thành trong tổng nguồn vốn đầu tƣ của toàn xã hội.
Nguồn vốn này đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nền kinh
tế. Cụ thể nhƣ sau:
 Thành phần hộ gia đình: là thành phần phát triển nhanh, năng động, giải
quyết nạn thất nghiệp, tạo ra công ăn việc làm cho xã hội, huy động
nhiều nguồn lực xã hội tập trung đầu tƣ, sản xuất kinh doanh, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
 Thành phần doanh nghiệp dân doanh: phần tích lũy có đóng góp lớn vào
tổng quy mô vốn của toàn xã hội
Vai trò của nguồn vốn ngoài nhà nƣớc đƣợc thể hiện rõ hơn qua việc đánh giá 3 tiêu
chí sau đây:
 Tỉ lệ vốn đầu tƣ/ đóng góp vào GDP (đơn vị: nghìn tỉ đồng)
 Tƣơng quan tỉ trọng vốn đầu tƣ và tỷ trọng đóng góp vào GDP
 Tƣơng quan tỷ lệ tăng trƣởng vốn đầu tƣ và tỷ lệ tăng trƣởng đóng góp vào

Vốn/giá
trị đóng
góp vào
GDP
Cơ cấu
vốn/cơ
cấu GDP
2000
26,3
9,6
132,5

22,9
48,4
0,2
0,47
2001
29,2
11,0
141
6,4
22,5
48,2
0,21
0,47
2002
35,1
20,2
150,9
7,0

0,62
2006
72,9
16,1
201,4
8,4
30
47,4
0,36
0,63
2007
92,5
26,9
220,3
9,4
29,9
47,8
0,42
0,63
2008
89,3
-3,5
236,8
7,5
26,8
48,3
0,28
0,55
2009
92,8

22

trong tổng nguồn vốn đầu tƣ của toàn xã hội (bao gồm: thành phần nhà nước, thành
phần ngoài nhà nước và thành phần đầu tư nước ngoài)
2.2.2. Tƣơng quan tỉ trọng vốn đầu tƣ và tỷ trọng đóng góp vào GDP
Mặc dù về cơ cấu nguồn vốn thì vốn của thành phần ngoài nhà nƣớc chiếm tỷ
trọng thứ hai trong tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội, sau thành phần nhà nƣớc nhƣng thành
phần này lại đóng góp tỷ trọng lớn nhất trong GDP của nền kinh tế. Dễ thấy, trong giai
đoạn 2000 – 2011, 1% GDP đƣợc tạo ra ở thành phần kinh tế ngoài nhà nƣớc cần đầu
tƣ ít hơn 1 %, tức là để tạo ra 1% GDP chỉ cần một mức đầu tƣ thấp hơn so với thành
phần khác. Điều này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ của thành phần kinh tế
ngoài nhà nƣớc là tốt hơn so với thành phần nhà nƣớc và thành phần có vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài.
2.2.3. Tƣơng quan tỷ lệ tăng trƣởng vốn đầu tƣ và tỷ lệ tăng trƣởng đóng góp vào
GDP (đơn vị %)
Trong giai đoạn 2001 – 2011, vai trò của vốn đầu tƣ thành phần ngoài nhà nƣớc
đối với tăng trƣởng kinh tế đƣợc thể hiện ở tỉ lệ tăng trƣởng đóng góp vào GDP, góp
phần trực tiếp tạo ra tăng trƣởng kinh tế của cả nƣớc.
Tốc độ tăng GDP thành phần ngoài nhà nƣớc tăng liên tục và ổn định ở mức
trên 6,4 % qua các năm cùng với sự gia tăng tƣơng ứng của vốn đầu tƣ. Năm 2001 đạt
6,4%, năm 2004 là 7,0%, đến năm 2007 tăng vọt lên 9,4%. Xem xét mức độ tăng của
GDP và vốn đầu tƣ thành phần ngoài nhà nƣớc ta cũng thấy rằng mức độ gia tăng của
vốn đầu tƣ là cao hơn (ngoại trừ năm 2008, 2009 và 2011 do ảnh hƣởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 2008) phản ánh để tạo ra 1% tăng trƣởng trong
thành phần ngoài nhà nƣớc cần gia tăng vốn đầu tƣ lớn hơn 1%.

23 Biểu đồ tỷ lệ tăng trƣởng vốn đầu tƣ và tỷ lệ tăng trƣởng đóng góp GDP

Việc tiếp nhận FDI, không đẩy các nƣớc vào tình trạng nợ nần, không chịu
những ràng buộc vào chính trị, xã hội.

Bảng thống kê tình hình nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam từ 2000-2011
(Giá tính theo giá so sánh năm 1994)
Năm
Vốn
(Nghìn
tỷ
đồng)
Đóng góp
vào GDP
(Nghìn tỷ
đồng)
Cơ cấu
trong
tổng vốn
(%)
Cơ cấu
trong
GDP
(%)
Vốn /
đóng góp
GDP
Cơ cấu
vốn /
Cơ cấu
GDP
Tỉ lệ tăng

17.08
11.18
0.76
1.53
0.83
2004
30.7
41.9
16.22
11.56
0.73
1.4
0.67
2005
35.9
47.5
16.78
12.07
0.76
1.39
1.27
2006
43.8
54.3
18
12.75
0.81
1.41
1.54
2007

-0.19
2011
95.2
79.6
26.25
13.63
1.2
1.93
-1.32
Nguồn: tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê(2012)
2.3.1. Tỷ lệ vốn đầu tƣ trên đóng góp vào GDP
Tỉ lệ vốn đầu tƣ / đóng góp vào GDP ở khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài dao
động quanh giá trị 1 thể hiện sự đóng góp vào GDP của khu vực tƣơng ứng với vốn
đầu tƣ. Đây là sự khác biệt với 2 khu vực Kinh tế Nhà nƣớc và Kinh tế ngoài nhà nƣớc.
Kết quả này cũng nói lên tầm quan trọng của việc tăng cƣờng thu hút vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài vào Việt Nam nhằm tăng trƣởng kinh tế.
25

Tỷ lệ này luôn tăng trong giai đoạn 2000 – 2008 (0.7 lên 1.74) nhƣng có xu
hƣớng giảm trong giai đoạn 2008 – 2011 (1.74 xuống 1.2) Nguyên nhân của xu hƣớng
giảm này đó là ảnh hƣởng của suy thoái kinh tế khiến cho vốn đầu tƣ giảm.
2.3.2. Cơ cấu vốn /Cơ cấu GDP
Tỷ lệ này càng cao càng thể hiện sự kém hiệu quả trong đầu tƣ khi 1% tổng vốn
đầu tƣ không đóng góp đƣợc 1% trong tổng GDP. Trong giai đoạn 2000 – 2011, tỷ lệ
cơ cấu vốn / cơ cấu GDP luôn lớn hơn 1 và biến động thất thƣờng. Năm 2008 là năm
bắt đầu xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới khiến cho tỷ lệ này đạt đỉnh ở mức 2.57.
So sánh với 2 khu vực còn lại thì khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài kém hiệu quả hơn
so với khu vực ngoài nhà nƣớc nhƣng vẫn hiệu quả hơn nhiều so với khu vực kinh tế
nhà nƣớc. Trong suốt giai đoạn, việc tăng trƣởng của đóng góp vào GDP hay cơ cấu
GDP chịu ảnh hƣởng nhiều từ sự tăng trƣởng của dòng vốn FDI, tuy nhiên vẫn còn khá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status