ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
*§*
MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ 2
TIỂU LUẬN
VAI TRÒ CỦA VỐN FDI ĐỐI VỚI TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1995 - 2010
GVHD : PGS-TS. NGUYỄN VĂN LUÂN
Sinh viên thực hiện :
HUỲNH NGỌC CHƯƠNG K084010012
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 6 năm 2011
MỤC LỤC
Phần I : MỞ ĐẦU 3
Lý do chọn đề tài 3
Phương pháp thực hiện đề tài 3
Phạm vi thực hiện đề tài : 3
Phần II : NỘI DUNG 4
“ rất thuận lợi cho những bước phát triển bức phá trong thời gian tới. Tuy vậy, nền
kinh tế nước ta cũng đang gặp những thách thức, những vật cản trong quá trình phát
triển, đó là cơ cấu kinh tế, hiện tượng đầu tư công không hiệu quả và nguy c
ơ lạm
phát đè nặng. Chính vì thế, em thực hiện đề tài này nhằm tìm ra những nhân tố đã
thúc đẩy kinh tế nước ta trong thời gian qua để có thể thúc đẩy nền kinh tế nước ta
phát triển vượt bậc theo hướng hiện đại trong thời gian tới đặc biệt là yếu tố vốn
FDI trong quá trình hội nhập đã tác động lên nền kinh tế nước ta như thế nào.
Phương pháp thựchiện
đềtài
Trong đề tài này em thực hiện phương pháp nghiên cứu dựa trên những dữ liệu của
tổng cục thống kê để tìm hiểu vai trò của vốn FDI đối với tăng trưởng của nền kinh
tế nước ta trong giai đoạn vừa qua.
Phạmvithựchiệnđềtài:
Phạm vi thực hiện trong đề tài tiểu luận này của em là :
-
Đối tượng nghiên cứu : vốn FDI
- Không gian kinh tế nghiên cứu : nền kinh tế Việt Nam
- Thời gian nghiên cứu : giới hạn khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm
2010 Phần II : NỘI DUNG
Chương 1 : Các khái niệm :
1.1Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một đình nghĩa được đưa ra khá sớm và liên tục phát
triển. Có nhiều quan điểm về tăng trưởng kinh tế nhưng nội hàm cốt lõi của quá
trình tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên hay mở rộng sản lượng của nền kinh tế quốc
dân và thường được đo lường bằng sự gia tă
ng về giá trị về sản lượng hàng hóa và
Vốn có vai trò
đặc biệt trong thúc đẩy nền kinh tế. Vốn thường được
phân biệt dưới 2 hình thức : vốn sản xuất và vốn đầu tư.
Vốn sản xuất : là toàn bộ những tài sản quốc gia tính bằng tiền
tham gia vào quá trình sản xuất hay là phương tiện phục vụ sản xuất. Vốn sản xuất
bao gồm 2 phần cơ bản là vốn cố định và vốn tồn kho; trong đó vốn cố
định là phần
cơ bản bao gồm : công xưởng, nhà máy, thiết bị sản xuất,…
Vốn đầu tư là vốn tham gia vào hoạt động đầu tư, có thể là đầu
tư vào tài sản sản xuất hoặc phi sản xuất. Quá trình hoạt động đầu tư là việc sử dụng
vốn đầu tư để phục hồi hay tăng cường năng lực sản xuất, đó là sự chuy
ển hóa vốn
thành các dạng phục vụ cho quá trình sản xuất.
Vốn và sản lượng có mối quan hệ đặc biệt :
Thứ nhất, số lượng vốn xác định số lượng sản lượng được
sản xuất ra.
Thứ hai, số lượng sản lượng xác định số lượng tiết kiệm và
đầu tư và do đó xác định số lượng vốn tích lũy.
1.3.1.1 Theo lý thuyết tân cổ điển :
Vốn với vai trò là một trong những yếu tố sản xuất. Mỗi sự gia
tăng thêm của các yếu tố sản xuất sẽ làm gia tăng thêm sản lượng đầu
ra, các yếu tố sản xuất có mối quan hệ lẫn nhau và có vai trò nhất định
đối với tăng trưởng sản xuất; trong đó tư bản gia tăng được quan tâm
nhất bởi vì nó đ
i liền với tiến bộ kỹ thuật và công nghệ.
1.3.1.2 Theo lý thuyết Harrod – Domar :
Sự phụ thuộc của sản lượng vào tư bản đầu tư. Lý thuyết này
đã xác định mức tăng thêm của sản lượng trong một thời kỳ nhất định
phụ thuộc vào mức tăng của tư bản và mức tiết kiệm. Để đo lường
= (1- ) K
t
+ I
t
Từ đó ta có Hay Từ 2 công thức trên cho ta thấy sản lượng ảnh hưởng đến việc
tích lũy vốn đầu tư cho năm tiếp theo, điều này con phụ thuộc vào tỉ lệ tiết kiệm của
quốc gia. Đầu tư tăng theo vốn nhưng lượng tăng ít hơn khi vốn tăng lên. Do đó, khi
vốn đã rất cao rồi, ảnh hưởng của việc tăng thêm vốn đối với s
ản lượng và sau đó
sản lượng lại ảnh hưởng đến đầu tư là rất nhỏ.
¾ Tỷ lệ tiết kiệm – sản lượng và quy tắc vàng
Từ những công thức trên đã đi đến những kết quả sau :
• Tỷ lệ tiết kiệm không ảnh hưởng gì đến tỷ lệ tăng
trưởng của sản lượng trên đầu công nhân. Trong dài
hạn tỷ
lệ tăng trưởng này bằng không.
• Tỷ lệ tiết kiệm cao hơn quyết định sản lượng trên
đầu công nhân cao hơn trong dài hạn. Các điều kiện
khác như nhau, quốc gia nào có tỷ lệ tiết kiệm cao
hơn sẽ đạt mức sản lượng trên đầu công nhân cao
hơn trong dài hạn.
• Tăng tỷ lệ tiết kiệm sẽ dẫn đến tăng trưởng sản
l
ượng trên đầu công nhân cao hơn trong một thời
Nếu một nền kinh tế thị trường tự do và mở, hội nhập với nền kinh tế thế giới
thì dòng chu chuyển vốn sẽ di chuyển theo nguyên tắc nguồn vốn sẽ chảy về nơi
thiếu vốn để tìm kiếm được nguồn lợi nhuận và các cơ hội đầu tư, cho vay cao
hơn.Ngoài ra, dòng chu chuyển vốn còn phụ thuộc các yếu tố vĩ mô, thể chế
chính
sách của từng quốc gia và sự phát triển của nền kinh tế quốc gia đó.
• Nhân tố thị trường
Qui mô và tiềm năng phát triển của thị trường là một trong những
nhân tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Khi đề cập đến qui
mô của thị trường, tổng giá trị GDP - chỉ số đo lường qui mô của nền kinh tế
- thường được quan tâm. Theo UNCTAD, qui mô thị trường là c
ơ sở quan
trọng trong việc thu hút đầu tư tại tất cả các quốc gia và các nền kinh tế.
Nhiều nghiên cứu cho thấy FDI là hàm số phụ thuộc vào qui mô thị trường
của nước mời gọi đầu tư. Nhằm duy trì và mở rộng thị phần, các công ty đa
quốc gia (MNEs) thường thiết lập các nhà máy sản xuất ở các nước dựa theo
chiến lược thay thế nhập khẩu của các nước này. Các nghiên cứu khác cũng
chỉ ra rằng, mức tăng trưởng GDP cũng là tín hiệu tốt cho việc thu hút FDI.
Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư với chiến lược “đi tắt đón đầu” cũng sẽ mạnh
dạn đầu tư vào những nơi có nhiều kỳ vọng tăng trưởng nhanh trong tương
lai và có các cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận. Khi lựa chọn địa điểm
để đầ
u tư trong một nước, các nhà đầu tư nước ngoài cũng nhắm đến những
vùng tập trung đông dân cư – thị trường tiềm năng của họ.
• Nhân tố lợi nhuận
Lợi nhuận thường được xem là động cơ và mục tiêu cuối cùng của
nhà đầu tư. Trong thời đại toàn cầu hóa, việc thiết lập các xí nghiệp ở nước
ngoài được xem là phương tiện rất hữ
u hiệu của các MNEs trong việc tối đa
hóa lợi nhuận. Điều này được thực hiện thông qua việc thiết lập các mối liên
người lao động cũng là yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa
điểm để đầu tư.
• Tài nguyên thiên nhiên
Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực
thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài.
• Cơ sở hạ t
ầng kỹ thuật
Chất lượng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghiệp hóa có ảnh
hưởng rất quan trọng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào một nước hoặc một
địa phương. Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh (bao gồm cả hệ
thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không, mạng l
ưới cung cấp điện,
nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tiện ích khác), là điều mong muốn
đối với mọi nhà đầu tư nước ngoài.
• Cơ sở hạ tầng xã hội
Ngoài cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường thu hút đầu tư còn chịu ảnh
hưởng khá lớn của cơ sở hạ tầng xã hội. Cơ sở hạ tầng xã hộ
i bao gồm hệ thống
y tế và chăm sóc sức khỏe cho người dân, hệ thống giáo dục và đào tạo, vui
chơi giải trí và các dịch vụ khác. Ngoài ra, các giá trị đạo đức xã hội, phong tục
tập quán, tôn giáo, văn hóa cũng cấu thành trong bức tranh chung về cơ sở hạ
tầng xã hội của một nước hoặc một địa phương. Nghiên cứu của UNDP/ World
Bank cho thấy xu hướng đầu tư vào khu vực Đông Nam Á có nhiều chuyển biến
tích cực là nhờ vào “tính kỷ luật của lực lượng lao động” cũng như “sự ổn định
về chính trị và kinh tế” tại nhiều quốc gia trong khu v
ực này.
• Cơ chế chính sách
Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển không chỉ
được quyết định bởi các yếu tố về kinh tế, mà còn chịu sự chi phối của các
yếu tố chính trị. Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, kết hợp với các ổn định
Chương 2 : Phân tích vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam:
2.1 Chính sách thu hút FDI của nước ta :
Chính sách thu hút vốn FDI tại Việt Nam đã được thực hiện ngay từ khi Việt
Nam tiến hành cải cách kinh tế và được thể chế hóa thông qua ban hành Luật Đầu
tư Nước ngoài năm 1987. Cho đến nay, Luật Đầu tư Nước ngoài đã được sửa đổi
và hoàn thiện 4 lần vào các năm 1990, 1992, 1996 và gần đây nhất là năm 2000.
Những thay đổi quan trọng trong chính sách thu hút FDI qua các kỳ sửa đổi Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Xu h
ướng chung của thay đổi chính sách Việt
Nam là ngày càng nới rộng quyền, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư
nước ngoài và thu hẹp sự khác biệt về chính sách đầu tư giữa đầu tư nước ngoài và
đầu tư trong nước. Những thay đổi này thể hiện nỗ lực của Chính phủ trong cải
thiện, tạo môi trường đầu tư chung theo xu hướng hội nhập của Việt Nam :
Luật sửa đổi 1996 – 1999 Luật sửa đổi năm 2000
đến nay
Trình tự đăng ký Doanh nghiệp FDI được
tự lựa chọn loại hình đầu
tư, tỷ lệ gop vốn, địa điểm
đầu tư, đối tác đầu tư.
Doanh nghiệp xuất khẩu
sản phẩm trên 80% được
ưu tiên nhận giấy phép.
Ban hành danh mục mà
danh nghiệp FDI đăng ký
kinh doanh không cần xin
phép.
Bỏ chế độ thu phí đăng ký
Thuế Miễn thuế nhập khẩu đối
với thiết bị, máy móc, vận
tải chuyên dùng, nguyên
liệu vật tư ;
+Miễn thuế nhập khẩu đối
với doanh nghiệp đầu tư
vào những lĩnh vực ưu
tiên, địa bàn ưu tiên trong
5 năm đầu hoạt động;
Doanh nghiệp xuất khẩu
được miễn thuế nhập
khẩu nguyên vật liệu để
Bãi bỏ
qui định bắt buộc
doanh nghiệp trích quĩ dự
phòng;
Tiếp tục cải cách hệ
thống thuế, từng bước thu
hẹp khoảng cách về thuế
giữa đầu tư trong nước và
đầu tư nước ngoài
xuất khẩu sản phẩm;
Doanh nghiệp cung ứng
sản phẩm đầu vào cho
doanh nghiệp xuất khẩu
cũng được miễn thuế
nhập khẩu nguyên vật
liệu trung gian với tỷ lệ
tương ứng;
phương về đầu tư nước ngoài. Đây có thể được coi là một trong
những bước đi không thể tách rời trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc
tế và trong tổng thể chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam.
Đến nay, Việt Nam đã ký kết Hiệp định song phương về khuyến khích
và b
ảo hộ đầu tư với 45 nước và vùng lãnh thổ. Theo đó, phạm vi
điều chỉnh của các hiệp định này đều mở rộng hơn so với những qui
định hiện hành của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam. Chẳng hạn, các hiệp định này có những điều khoản qui định đối
với nhiều loại hình đầu tư: trực tiếp, gián tiếp, các quyền theo hợ
p
đồng, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ, và các
quyền khác theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam
mới chỉ cam kết về đối xử theo quy chế tối huệ quốc, đồng thời cam
kết thực hiện các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư phù hợp
với những tiêu chuẩn và tập quán thông dụng.
Từ năm 1995 đến nay Việt Nam đã ký kết, tham gia một số
điều ước và diễn đàn quốc tế như: Hiệp định khung về khu vực đầu tư
ASEAN (AIA); Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái bình dương
(APEC) với việc đưa ra kế hoạch hành động nhằm tự do hoá và mở
của đầu tư trong khu vực; iii) Diễn đàn hợp tác Á - Âu, trong đó có
việc triển
khai thực hiệ
n chương trình hành động về xúc tiến đầu tư (IPAP). Đặc
biệt, Việt Nam đang trong giai đoạn tích cực đàm phán để sớm trở
thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO).
Trong đó, việc cam kết thực hiện Hiệp định TRIMS là một yêu cầu tất
yếu trong tiến trình đàm phán gia nhập tổ chức này.
2.2 Tổng quan tăng trưởng kinh tế Việt Nam
kinh tế tư nhân có mức độ tăng trưởng nhanh nhất trong tất cả các thành phần kinh
tế, từ 2001-2005 đều tăng trên 10% mỗi năm; riêng năm 2005 tăng 14,1%, đóng
góp vào mức tăng trưởng chung toàn nền kinh tế 1,295 điểm. Khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài cũng liên tục tăng, mức tăng trung bình một năm thời kỳ 2001-2005
là 9,95; riêng năm 2005 tăng 13,2%, góp phầ
n tăng trưởng chung toàn nền kinh tế là
1,526 điểm. Hiện nay và dự báo trong năm 2009, khu vực dân doanh,trong đó chủ
yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp rất nhiều khó khăn và có nguy cơ bị
phá sản hàng loạt.
Tính theo giá so sánh năm 1994 thì tốc độ tăng GDP/người của nước ta tăng
liên tục từ năm 2001 đến 2006 đến năm 2007 thì tốc độ suy giảm bớt. Tuy vậy về
tổng quan tốc
độ vẫn được xem là khá cao.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo khu vực :
Tốc độ tăng trưởng khu vực ngoài quốc doanh luôn tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng
GDP, khu vực kinh tế nhà nước luôn là khu vực tăng thấp hơn so với các khu vực
còn lại của nền kinh tế và so với GDP.
Đồ thị thể hiện vốn FDI thu hút trong thời gian qua :
( Nguồn : tổng cục thống kê )
Từ 1988 đến 1996: Trong giai đoạn này, vốn FDI đổ vào Việt Nam liên tục
tăng
với tốc độ nhanh cả về số dự án, số vốn đăng ký mới tăng và đạt mức đỉnh điểm gần
8,9 tỷ USD vào năm 1996. Kết quả này phần nào là do kỳ vọng của các nhà đầu tư
nước ngoài đối với một nền kinh tế
mới mở cửa, có quy mô dân số khá lớn với trên
70 triệu người và thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng. Đặc điểm của giai đoạn này là
vốn thực tế giải ngân tăng về tuyệt đối và tương đối, nhưng tỷ lệ vốn giải ngân thấp,
Khu vực ngoài
nhà nước
Khu vực đầu tư
nước ngoài
1995 100.0 42.0 27.6
30.4
1996 100.0 49.1 24.9
26.0
1997 100.0 49.4 22.6
28.0
1998 100.0 55.5 23.7
20.8
1999 100.0 58.7 24.0
17.3
2000 100.0 59.1 22.9
18.0
2001 100.0 59.8 22.6
17.6
2002 100.0 57.3 25.3
17.4
2003 100.0 52.9 31.1
16.0
2004 100.0 48.1 37.7
14.2
2005 100.0 47.1 38.0
14.9
2006 100.0 45.7 38.1
16.2
2007 100.0 37.2 38.5
24.3
của thời kỳ đổi mới. Trái lại, nếu nguồn vốn vào quá nhiều so với năng lực hấp thụ
hạn chế trong nước thì có nguy cơ làm phá vỡ nhiều kết cấu kinh tế trong nước,
trong đó đặc biệt là sự quá tải của cơ sở hạ tầng, thiếu hụt năng lượng, v.v.
2.3.1 Vai trò của vốn FDI thời gian qua :
Việt Nam thự
c hiện Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài (12/1987) trong bối
cảnh
phát triển kinh tế - xã hội còn rất thấp. Hạ tầng cơ sở nghèo nàn, khoa học công
nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực phần lớn chưa qua đào tạo,…Trong khi đó, nhu cầu
phát triển luôn phải đối mặt với sức ép cần vồn đầu tư, công nghệ tiên tiến, đẩy
mạnh xuất khẩu,…
để khai thác lợi thế so sánh nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng
cao, giải quyết công ăn việc làm và ổn định đời sống xã hội. Mặt khác, từ những
năm cuối thập kỷ 80 đến hết thập kỷ 90 của thế kỷ trước, xu hướng đầu tư quốc tế
vào các nước đang phát triển chủ yếu tập trung vào các ngành khai thác, công
nghiệp chế tạo và nh
ững ngành cần nhiều lao động. Trong bối cảnh phát triển đó,
Việt Nam rất khó thu hút FDI vào các ngành công nghệ cao, sản xuất những sản
phẩm có giá trị gia tăng lớn hoặc vào những ngành phải đáp ứng được các tiêu
chuẩn khắt khe của bảo vệ môi trường. Vì vậy, việc định hướng thu hút FDI vào
những ngành mà Việt Nam có lợi thế tự nhiên, phù hợp với trình độ phát triển và
đón bắt được xu hướng
đầu tư quốc tế là khá phù
hợp. Do đó, mặc dù còn những hạn chế nhất định, nhưng FDI đã đóng góp rất tích
cực, có vai trò như những trụ cột đối với thành công của chính sách đổi mới nền
kinh tế.
• Đóng góp quan trọng dễ thấy nhất đó là tăng cường nguồn vốn đầu tư cho
tăng trưởng. Vốn FDI (giải ngân) đã tăng từ 2,451 tỷ USD năm 2001 lên
8,100 tỷ USD năm 2007 và đạt được khoảng 40 tỷ USD trong gian đoạn
1988 đến nay. Đóng góp của FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động
doing), nhờ đó đã hình thành được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật
có trình độ, tay nghề khá cao. Khảo sát cho thấy, có 44% doanh
nghiệp FDI thực hiện đào tạo lại lao động với các mức độ khác nhau
(cho khoảng 30% số lao động tuyển dụng). Đối với một số khâu chủ
yếu của dây chuyền công nghệ tiên tiến hoặc đặc thù, lao động sau khi
tuy
ển dụng được đưa đi bồi dưỡng ở các doanh nghiệp mẹ ở nước
ngoài. Đến nay, hầu hết các công nghệ có trình độ tiên tiến và đội ngũ
cán bộ, công nhân kỹ thuật cao ở Việt Nam được tập trung trong khu
vực có vốn FDI.
• Đẩy mạnh xuất khẩu cũng là đóng góp nổi bật, thể hiện rõ nét vai trò
của FDI trong suốt 20 cải cách kinh tế vừa qua. Thời kỳ 1996-2000,
xuất kh
ẩu của khu vực FDI đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng
hơn 8 lần so với 5 năm trước, chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả
nước; năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%, tính cả dầu thô
thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong
các năm 2005, 2006 và 2007. Điều đó được thể hiện qua biểu đồ sau :
(Nguồn: Thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu của Bộ Công thương
2007)
• Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng rất nhanh, từ 18,398
triệu USD năm 1996 tăng lên 30,120 USD năm 2000 và đạt tới
84,015USD năm 2006.Ngay cả trong những năm xuất khẩu của các
ngành kinh tế khác tăng chậm hoặc giảm thì xuất khẩu của khu vực
FDI vẫn tăng cao, nhờ đó duy trì được tốc độ tăng xuất khẩu của cả
nước khá cao trong nhiều năm. Cũ
ng cần lưu ý rằng khu vực FDI có
mức thặng dư thương mại khá cao.Điều đó góp phần làm giảm mức
thâm hụt thương mại chung cho cả nền kinh tế.
2.3.2 Các hạn chế của vốn FDI trong thời gian qua :
Bên cạnh những đóng góp tích cực như đã khái quát trên, FDI cũng đã và
đang tạo ra không ít những vấn đề, tác động tiêu cực, làm bức xúc dư luận xã hội.
Chất lượng thu hút FDI còn thấp, thiếu tính bền vững là một thực tế khó bác bỏ.
Biểu hiện rõ nhất của hạn chế này là phần giá trị gia tăng còn th
ấp. Như chúng ta đã
biết các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam hiện đóng góp một tỷ lệ quan trọng về kim
ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, theo số liệu tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, UN, và
JETRO do Giáo sư Trần Văn Thọ từ Đại học Waseda (Tokyo) thực hiện, cơ cấu
xuất khẩu của Việt Nam hầu như không thay đổi từ 2004–2006, trong đó nông thủy
sản, thực ph
ẩm và các mặt hàng giá trị gia tăng thấp như dệt, may, và tạp phẩm
chiếm đến 49,4% so với tỷ lệ 14,5% của các quốc gia Đông Á và Ấn Độ. Và ngược
lại, đối với các ngành chế tạo đòi hỏi công nghệ cao hơn như máy móc các loại,
máy phát điện, máy công cụ, xe hơi và bộ phận xe hơi, đồ điện tử và IT thì Việt
Namchỉ chiếm tỷ lệ 7,5% so với 54,6% củ
a Đông Á và Ấn Độ…Phần lớn các doanh
nghiệp FDI tập trung khai thác lợi thế lao động rẻ, nguồn tài nguyên sẵn có, thị
trường tiêu thụ “dễ tính”để lắp ráp, gia công sản phẩm tiêu thụ nội địa và xuất
khẩu.Liên kết giữa khu vực FDI với các doanh nghiệp nội địa còn rất ít, chưa hình
thành được các ngành công nghiệp phụ trợ, liên kết sản xuất theo chuỗi cung ứng
hàng hoá. Thông thường công nghiệp phụ trợ
có thể tạo ra 80-95% giá trị gia tăng
cho sản phẩm tuy nhiên
hiện các doanh nghiệp sản xuất-lắp ráp ở VN phải nhập khẩu từ 70%-80% lượng
sản phẩm phụ trợ. Do hạn chế này mà phần giá trị được tạo ra ở Việt Nam còn thấp,
nhiều doanh nghiệp FDI khó phát triển được qui mô và đầu tư chiều sâu nên gần