TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH
***
BÀI THẢO LUẬN MÔN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Hoạt động của NHTM và đóng góp của
NHTM đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Nhóm thảo luận số 3 (Lớp tín chỉ: 4)
1. Nguyễn Văn Đại
2. Hoàng Vũ Long
3. Bùi Khánh Linh
4. Đậu Tuấn Sơn
5. Nguyễn Ngọc Sơn
H
à Nội, Tháng 4 năm 2013
Mục lục Trang
Page 1
Mở đầu………………………………………………………………………… 5
A. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI…………………… 6
I.NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI……………………………………………….6
1. Khái niệm…………………………………………………………… 6
2. Phân loại ngân hàng thương mại………………………………………6
II.HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI……………………… 9
1. Khái quát chung về bảng tổng kết tài sản…………………………… 9
2. Nghiệp vụ của NHTM…………………………………………………11
2.1. Nghiệp vụ tạo vốn…………………………………………… 11
2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn……………………………………… 11
2.2.1. Hoạt động tín dụng (cho vay)
2.2.2. Nghiệp vụ ngân quỹ.
2.2.3.Nghiệp vụ đầu tư tài chính
2.3. Nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản………………………………13
II. Nhóm giải pháp cho vấn đề quản lý tài sản có………………………………54
1.Về quản trị thanh khoản
2. Về quản trị cho vay
Trang
III. Nhóm các Giải Pháp Vấn Đề Tín Dụng…………………………………56
1. Nghiên cứu khách hàng
2. San sẻ rủi ro
Page 3
3. Thực hiện bảo đảm tín dụng
4. Giám sát và cưỡng chế thi hành những quy định hạn chế
5. Hạn chế tín dụng
6. Đa dạng hóa đầu tư
IV. Nhóm giải pháp nâng cao dịch vụ chăm sóc khách hàng……………… 60
D. KẾT LUẬN
Danh mục tài liệu tham khảo
Mở đầu
Sau hơn 26 năm đổi mới,đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong mọi
mặt của đời sống xã hội.Sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước,theo định hướng xã hội chủ
nghĩa đã tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ trong nền kinh tế.Chính sự hoạt động
của hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng đã tạo điều
kiện và là động lực đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới đó.
Page 4
Trong những năm qua,hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã thực hiện khá
tốt chức năng,vai trò của một trung gian tài chính quan trọng trên thị trường tài
chính.Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế khu vực và thế giới thì hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam luôn chịu sự tác động của thị trường tài chính toàn cầu.Điều đó đã đặt ra
yêu cầu phải không ngừng củng cố,hoàn thiện hoạt động ngân hàng ,nâng cao chất
lượng và mở rộng các loại hình dịch vụ để có thể đáp ứng được tối đa nhu cầu vốn
2.1.Dựa vào hình thức sở hữu:
a. Ngân hàng thương mại Quốc doanh (State owned Commercial bank):
Là ngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nước.
Trong tình hình hiện nay để tăng nguồn vốn và phù hợp với xu thế hội nhập tài
chính với thế giới các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam đang phát hành
trái phiếu để huy động vốn; đã và đang cổ phần hóa để tăng sức cạnh tranh với các
chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng cổ phần hiện nay.Thuộc loại
này gồm:
– Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Bank for
Agriculture and Rural Development)
– Ngân hàng công thương Việt nam (Industrial and commercial Bank of viet
man – ICBV) gọi tắt là Vietinbank – đã cổ phần hoá)
– Ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (Bank for Investement and
Development of Viet nam – BIDV) đã cổ phần hóa
– Ngân hàng ngoại thương Việt nam (Bank for Foreign Trade of Viet nam –
Vietcombank) đã cổ phần hoá.
Page 6
– Ngân hàng phát triền nhà đồng bằng sông cửu long (Housing Bank of
Mekong Delta) đã cổ phần hóa
b. Ngân hàng thương mại cổ phần (joint Stock Commercial bank): Là ngân
hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Trong đó một cá
nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo qui định của
ngân hàng nhà nước Việt nam.
- NH TMCP Á Châu
- NH TMCP Phương Đông
- NH TMCP Đông Á
- NH TMCP Quân đội
- …
c. Ngân hàng liên doanh (thuộc loại hình tổ chức tín dụng liên doanh)
Là Ngân hàng được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là ngân
nhân.
b. Ngân hàng bán lẻ: là loại NH giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng
khách hàng cá nhân.
c. Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại NH giao dịch và cung ứng
dịch vụ cho cả khách hàng doanh nghiệp lẫn khách hàng cá nhân.
2.3. Dựa vào tính chất hoạt động
a. Ngân hàng chuyên doanh: là loại NH chỉ hoạt động chuyên môn trong một
lĩnh vực như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư…
Page 8
b. Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là loại NH hoạt động ở mọi lĩnh vực
kinh tế và thực hiện hầu như tất cả các nghiệp vụ mà một NH có thể được
phép thực hiện.
II.HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.Khái quát chung về bảng tổng kết tài sản.
1.1.Khái niệm.
Bảng tổng kết tài sản (Blance Sheet) của ngân hàng thương mại là một bản báo
cáo tài chính tổng hợp,được trình bày dưới dạng cân đối,phản ánh tổng quát tình
hình sử dụng vốn và nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thương mại tại một thời
điểm nhất định.
-Đặc điểm của bảng tổng kết tài sản:
+Báo cáo tại thời điểm nhất định
+Có tính đặc thù:Đối tượng kinh doanh của ngân hàng thương mại là tiền tệ và
quyền sử dụng tiền tệ
+Là báo cáo kế toán phản ánh tài sản của ngân hàng thành hai mặt tài sản Có(sử
dụng vốn) và tài sản Nợ(nguồn vốn).
1.2.Kết cấu bảng tổng kết tài sản
1.2.1.Tài sản Nợ
-Diễn tả những khoản mà NHTM mắc nợ thị trường hay nguồn vốn hoạt động của
NHTM.Có nghĩa là những khoản mà dân chúng gửi vào NHTM hay nó đi vay các
đối tượng trong nền kinh tế như:NHTW,Ngân hàng trung gian hay tổ chức kinh tế
67
Vốn tự có và coi như tự có
7
Tài sản khác
7
Tổng cộng
100
Tổng cộng
100
2. Các nghiệp vụ của NHTM
2.1.Nghiệp vụ tạo vốn
2.1.1.Khái niệm
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động
được,dùng để cho vay,đầu tư và thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
2.1.2.Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng
-Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
-Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng.
-Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương
trường
-Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Page 10
2.1.3.Đặc điểm các nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh NHTM
Vốn của NHTM bao gồm:
• Vốn tự có
• Vốn huy động
• Vốn đi vay
• Vốn khác
2.2.Nghiệp vụ sử dụng vốn
-Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm
bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của NHTM.
• Nâng cao khả năng thanh khoản
• Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro
2.2.3.1.Các đặc điểm nghiệp vụ đầu tư tài chính
a.Là hoạt động kinh doanh của ngân hàng có chi phí điều hành tương đối thấp
Ngân hàng chỉ tiến hành lựa chọn từ một loạt các chứng khoán hiện có,với các kỳ
hạn định sẵn.
b.Đầu tư tài chính là nghiệp vụ lớn thứ hai sau nghiệp vụ kinh doanh tín dụng
c.Dễ thay đổi đổi đối tượng đầu tư
Khi ngân hàng muốn thay đổi mục tiêu đầu tư sao cho phù hợp cới những biến
động của thị trường,môi trường đầu tư hoặc các yêu cầu trong hoạt động kinh
doanh thì ngân hàng có thể dễ dàng thay đổi đối tượng đầu tư,danh mục đầu tư phù
hợp với mong muốn của mình.
2.3.Nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản
(DỊCH VỤ THANH TOÁN,NGÂN QUỸ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁC CỦA
NHTM)
-Những hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản liên quan đến việc:Môi giới mua bán
các công cụ tài chính đã tạo ra thu nhập nhờ các khoản lệ phí và chuyển nhượng
những món vay,tất cả chúng tác động đến lợi nhuận của ngân hàng nhưng không
thấy xuất hiện trên bảng tổng kết tài sản ngân hàng.
Page 12
-Ngân hàng cung ứng các dịch vụ thanh toán như:Séc,thư tín dụng,ủy nhiệm chi,ủy
nhiệm thu,thẻ thanh toán.
-Dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước:thanh toán chuyển tiền trong nước,thanh
toán chuyển tiền quốc tế,thanh toán quốc tế,thanh toán séc du lịch,chi trả kiều
hối…
-Dịch vụ thu hộ-chi hộ
-Ngoài ra còn các dịch vụ thu tiền,dịch vụ phát tiền,nghiệp vụ chuyển tiền.
III. VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ
1.Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
3. NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường,NHTM hoạt động một cách có hiệu
quả trông qua các hoạt động kinh doanh của mình sẽ thực sự là công cụ để nhà
nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống,các NHTM
đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.Thông qua việc
cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế ,NHTM thực hiện việc dẫn dắt
các luồng tiền,tập hơp và phân chia vốn của thị trường,điều khiển chúng một cách
có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô:Nhà nước điều tiết ngân
hàng,ngân hàng dẫn dắt thị trường.
4.Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi,cho vay,nghiệp vụ thanh
toán,nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác,ngân hàng thương mại đã tạo điều
kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng phát triển.Thông qua các hoạt động thanh
toán,kinh doanh ngoại hối,quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài,hệ thống
NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận
động của nền tài chính quốc tế.
Page 14
B. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM Ở VN ( số liệu nghiên
cứu trong khoảng giai đoạn từ năm 2006 đến 2012)
I. Vốn và các vấn đề về vốn
1. Vốn tự có
1.1. Tổng quan
Thực tế hiện nay, khi mà cánh cửa hội nhập đang đến “gõ cửa” từng doanh
nghiệp và lộ trình của nó đang ngày một rút ngắn về thời gian thì các NHTM nói
chung và khối các NHTM CP nói riêng đang phải đối mặt với những thách thức
nhất định nhằm cạnh tranh với nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới. Trong
đó vấn đề năng lực tài chính là vấn đề trọng tâm nhất là đối với các NHTM CP Việt
Nam. Một trong những giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM
cổ phiếu trên thị trường chứng khoán cũng gặp phải một số quy định về thời gian
khi phát hành cổ phiếu ra công chúng mà không thể hoàn tất việc tăng vốn điều lệ
đúng thời hạn quy định.
Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận đề xuất giãn lộ trình tăng vốn điều lệ
lên 3.000 tỉ đồng đối với các ngân hàng thương mại đến 31-12-2011 theo như đề
xuất của ngân hàng Nhà nước.
Cho đến thời điểm có quyết định gia hạn, có khoảng 17 trên tổng số hơn 40
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng vẫn chưa thể hoàn thành mục tiêu tăng vốn điều
lệ theo Nghị định 141. Mặc dù lộ trình tăng vốn điều lệ của các Ngân hàng đã được
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận ngay từ cuối tháng 9, vẫn có khá nhiều nguyên
nhân khiến việc thực hiện kế hoạch gặp nhiều khó khăn ở một số Ngân hàng.
Page 16
Để tăng vốn điều lệ, các Ngân hàng chủ yếu huy động từ 3 nguồn chính:
phát hành ra công chúng qua thị trường chứng khoán, phát hành cho các cổ đông
hiện hữu và phát hành cho các cổ đông chiến lược nước ngoài.
Tuy nhiên, bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước khiến thị trường chứng khoán
trong năm trồi sụt và ảm đạm, các cổ đông hiện hữu là các tổng công ty, doanh
nghiệp nhà nước hay Ngân hàng lớn của nhà nước bị hạn chế góp vốn cho các hoạt
động ngoài lĩnh vực chính, thậm chí còn bị yêu cầu thoái vốn từ các tổ chức tài
chính, trong khi kinh tế thế giới phục hồi chậm lại khiến sự quan tâm của nhà đầu
tư nước ngoài không còn mặn mà.
Các nguồn huy động này còn đặc biệt khó khăn hơn nữa đối với các Ngân
hàng nhỏ, chưa có thương hiệu và còn đang gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh.
Ước tính còn khoảng 10 nghìn tỷ đồng mà các Ngân hàng này cần phải huy động
thêm nếu muốn thực hiện đúng quy định, điều mà khó có thể hoàn thành trong
khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại của năm 2010.
Rõ ràng, việc giãn thời gian tăng vốn điều lệ là không thể tránh khỏi, nếu
Ngân hàng Nhà nước không muốn những biến động khó kiểm soát trong hệ thống
tài chính trong bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước năm 2010 vẫn chưa ổn định.
Ví dụ, ở thời điểm năm 2011, việc sát nhập những Ngân hàng nhỏ và năng
Do đó, mức lãi suất đầu ra ở các Ngân hàng, đặc biệt các Ngân hàng nhỏ, sẽ
tiếp tục gặp khó trong quá trình điều chỉnh giảm. Hơn nữa, động thái gia hạn thêm
với thời gian tương đối dài là không cần thiết, khi các Ngân hàng nhỏ đã có rất
nhiều nỗ lực để tăng vốn điều lệ trong suốt năm qua, và số vốn mà các Ngân hàng
còn thiếu thực ra không quá lớn, nếu có với quy mô và khả năng của cả hệ thống
tài chính.
Và cuối cùng nhưng chắc chắn chưa phải là hồi kết, những quan ngại “kinh
niên” về tính nhất quán và hiệu lực của các quy định hay chính sách của Ngân
hàng Nhà nước tiếp tục ám ảnh thị trường. Niềm tin, điều tối quan trọng để điều
hành chính sách tiền tệ có hiệu quả và theo đó ảnh hưởng đến ổn định trong dài
hạn, vẫn tiếp tục là điều phải chờ đợi.
Vấn đề cơ bản của quy định về vốn điều lệ của một Ngân hàng không hẳn ở
chỗ một nền kinh tế có quá nhiều hay quá ít Ngân hàng, hay Ngân hàng quá
nhỏ. Mấu chốt của vấn đề vốn điều lệ là đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính,
nên việc tăng vốn theo quy định cần thực hiện đồng bộ với các giải pháp như phân
loại và quản lý nợ theo chuẩn mực quốc tế thì mới đạt mục đích đề ra.
Page 18
Một hệ thống tài chính an toàn khi các Ngân hàng có hệ số an toàn vốn
(CAR – capital adequacy ratio) cao, nói cách khác có đủ vốn để “chịu trận” khi lỗ.
Nếu vốn thấp mà lỗ nặng, Ngân hàng sẽ phá sản và vì đặc thù của loại hình kinh
doanh này sẽ rất dễ kéo toàn hệ thống sụp đổ theo, liên luỵ cho cả nền kinh tế.
Hệ số an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro, capital adequacy ratio –
CAR) là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực tài chính của các Ngân hàng.
Chỉ tiêu này được dùng để xác định khả năng của Ngân hàng trong việc thanh toán
các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro
vận hành.
Điều quan trọng là hệ số này phụ thuộc vào hai yếu tố: tử số là vốn điều lệ
và mẫu số là tổng tài sản. Như vậy để tăng độ an toàn cho một Ngân hàng hay toàn
bộ hệ thống, nhà quản lý hoặc chặn không cho Ngân hàng tăng tổng tài sản quá cao
hoặc yêu cầu Ngân hàng phải tăng vốn. Việc NHNN yêu cầu các Ngân hàng tăng
có lợi cho mình.
Các Ngân hàng nhỏ hiện nay thiếu chuyên môn và hoạt động quá liều lĩnh có
một phần chính xác. Tuy nhiên giải pháp sáp nhập các Ngân hàng nhỏ và/hoặc
buộc tăng vốn điều lệ không giải quyết được nguyên nhân căn bản. Chuyên môn và
nghiệp vụ Ngân hàng không phải là điều quá khó để các Ngân hàng nhỏ có thể học
được (với sự giúp đỡ của NHNN). Việc điều hành những Ngân hàng nhỏ có 1 – 2
chi nhánh đơn giản hơn nhiều so với một Ngân hàng lớn có chi nhánh toàn quốc và
cả ở nước ngoài. Việc tăng chuyên môn phụ thuộc vào sự đào tạo, giúp đỡ, giám
sát của NHNN nhiều hơn là vào việc sáp nhập. Các Ngân hàng nhỏ sau khi sáp
nhập với nhau không có nghĩa đội ngũ nhân viên và lãnh đạo tự nhiên có trình độ
chuyên môn tăng lên.
+ Điểm cuối cùng và không kém phần quan trọng, cần phải xác định đâu là
nguyên nhân chính khiến các Ngân hàng nhỏ hoạt động quá rủi ro (ví dụ chạy đua
lãi suất hay vay ngắn hạn trên thị trường liên Ngân hàng để cho vay dài hạn). Đó
không phải là vì họ nhỏ và thiếu chuyên môn mà đó là hậu quả tất yếu của việc các
Ngân hàng quốc doanh và một vài Ngân hàng lớn được hưởng nhiều ưu đãi nên
các Ngân hàng nhỏ không còn cách nào khác là phải liều lĩnh hơn để đạt được
ROE như đã hứa với các cổ đông.
Tỷ trọng vốn tự có/tổng tài sản của các Ngân hàng thương mại nhìn chung
còn thấp chỉ đạt trên dưới 5%. Để đảm bảo hiệu quả sử dụng các nguồn vốn và
đảm bảo phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thì các Ngân hàng thương mại nên
tăng tỷ lệ này lên khoảng từ 8% - 10 % là hợp lý.
2. Vốn pháp định
2.1. Khái niệm
Page 20
Theo quy định tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp (2005) thì khái niệm vốn pháp
định được hiểu là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành
lập doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là Nhà nước sẽ đặt ra mức sàn tối thiểu về
vốn đối với một số ngành nghề cụ thể và nhà đầu tư phải đáp ứng số vốn đó từ
bằng hoặc lớn hơn mức mà nhà nước đặt ra thì mới được thành lập doanh nghiệp
Dù được gia hạn việc nâng vốn pháp định lên 3.000 tỉ đồng thêm một năm
nữa nhưng kết thúc năm 2010 (31-12), nhiều Ngân hàng thương mại vẫn nâng vốn
pháp định đảm bảo quy định pháp luật.
Page 21
Như Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VIETBANK) đến ngày 30-
12 mới chính thức hoàn thành các thủ tục pháp lý tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỉ
đồng.
VIETBANK cho biết việc tăng vốn điều lệ này được thực hiện theo công
văn chấp thuận tăng vốn lên 3.000 tỉ đồng của Ngân hàng Nhà nước ngày 21-9 và
nằm trong kế hoạch của Ngân hàng theo đúng lộ trình. Không chỉ có VIETBANK
mà Đại Á và Tiên Phong cũng nâng vốn đúng thời hạn.
Các Ngân hàng trên cho biết dù được gia hạn thời gian thêm 12 tháng nhưng
có ít Ngân hàng ỉ lại và nhiều Ngân hàng vẫn hoàn thành việc tăng vốn theo đúng
lộ trình (31-12-2010). Việc tăng vốn như quy định nhằm nâng cao năng lực tài
chính cũng như vị thế cạnh tranh trong những năm tới.
Và quan trọng, là vẫn đảm bảo tiếp tục duy trì mục tiêu tăng vốn điều lệ để
nâng cao năng lực tài chính của các NHTM, tiếp tục khuyến khích các NHTM tăng
vốn điều lệ để sớm đạt được mức vốn pháp định.
3. Huy động vốn và lãi suất huy động vốn
3.1. Thực trạng
Hầu hết các Ngân hàng thương mại chỉ có từ 20-30 % là vốn tự có, còn lại là
vốn đi vay.Vì vậy, việc thu hút vốn là vấn đề hàng đầu của các Ngân hàng thương
mại và vốn cũng là một câu hỏi lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam.
Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đầu tư khá cao, tuy nhiên
tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn lại thấp, mà chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn.
Có nhiều hạn chế gây khó khăn trong việc huy động vốn của cac NHTM, trước
hết là về phía bản thân các NHTM.
Thứ nhất, mức độ cạnh tranh trên thị trường vốn ngày càng cao.
Việc huy động vốn của các NHTM phải cạnh tranh với các kênh thu hút vốn khác
như tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm nhân thọ, hoạt động đầu tư bất động sản, đầu tư
và kêu gọi đồng thuận với mức lãi suất trần huy động là 12%/năm vào những tháng
đầu năm 2010. Nhưng diễn biến lãi suất, cả huy động và cho vay hiện nay, lại
không theo cái "lẽ phải thông thường" đó. Biểu hiện bất thường, ẩn chứa nhiều bất
ổn của lãi suất có thể thấy ở hai khía cạnh lớn của vấn đề. Thứ nhất là nhiều
NHTM, tuy chỉ niêm yết mức lãi suất huy động 12%/năm, nhưng cộng thêm các
chi phí khuyến mãi (bằng cả thưởng tiền "nóng", thưởng lãi suất…) khiến lãi suất
huy động trong thực tế đã vượt xa niêm yết. Có Ngân hàng thực hiện ghi lãi suất
huy động trên sổ chỉ 12%/năm, nhưng lại kèm theo cam kết bằng văn bản trả thêm
3% lãi suất cho món tiền gửi đó khi đáo hạn. Tình trạng khuyến mãi huy động
không chỉ diễn ra đối với NHTM nhỏ, mà ở cả các NHTM lớn. Thứ hai là có một
số NHTM công khai "vượt trần" lãi suất huy động 12%/năm.
Page 23
Trường hợp lách luật đầu tiên là NHTM CP Sài Gòn (SCB). Từ ngày
7/4/2008, SCB đã triển khai kế hoạch phát hành 3.000 tỷ đồng kỳ phiếu kéo dài
cho tới 4/6/2008. Kỳ phiếu có thời hạn 270 ngày và 360 ngày, với lãi suất trả trước
là 1%/tháng, tương đương 12%/năm. Như vậy lãi suất thực khách hàng được trả
khi mua kỳ phiếu lên tới trên 13%/năm. Đặc biệt là khách hàng còn được khuyến
mại thông qua tham gia chương trình quay số dự thưởng của SCB với tổng trị giá
giải thưởng là 2,5 tỷ đồng; trong đó có giải đặc biệt là 2kg vàng SJC trị giá hơn 1
tỷ đồng, kèm theo rất nhiều giải khác có giá trị.
NHTM CP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) cũng triển khai chương trình tiết kiệm
nhận ngay tiền lãi, với 7 loại gửi tiết kiệm đồng Việt Nam kỳ hạn từ 1 tháng đến 6
tháng trả lãi trước là 10,5%/năm; các kỳ hạn từ 7 đến 13 tháng cũng trả lãi trước,
với lãi suất 11,0%/năm. Nhìn bề ngoài thì lãi suất của SHB thực hiện theo đúng
thoả thuận giữa các NHTM thành viên do Hiệp hội Ngân hàng chủ trì, nhưng do lãi
trả trước nên tính thực ra lãi suất khách hàng được hưởng lên tới 12%/năm.
Một số NHTM cổ phần quy mô nhỏ khác, hay NHTM CP nông thôn,
NHTM CP nông thôn mới chuyển lên thành NHTM CP đô thị cũng cho biết đang
chuẩn bị điều chỉnh lãi suất huy động vốn đồng Việt Nam lên trên 11%/năm. Các
NHTM CP này kêu ca rằng họ đang ở vào thế bất lợi so với các NHTM NN và
Người dân e ngại gửi tiền VND dài hạn vào hệ thống Ngân hàng, dẫn đến việc
người dân chuyển sang đầu tư vào bất động sản, hoặc tích trữ dưới dạng USD và
vàng.
Về phía khách hàng, tốc độ tăng trưởng kinh tế dù được duy trì ở mức cao
trong nhiều năm nhưng thu nhập quốc dân bình quân đầu người vẫn còn thấp, tiết
kiệm và tích lũy trong dân cư tuy đã tăng nhưng còn ở mức khiêm tốn và dân cư
vẫn chưa thực sự tin tưởng khi gửi tiết kiệm.
Qua thực tế trên cho thấy hiện nay, các Ngân hàng chưa tiếp cận các nguồn
vốn ở nông thôn, chưa hướng người dân thay đổi tập quán cất vàng chuyển sang
gởi tiền tiết kiệm tại các Ngân hàng.
3.2. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân của thực trạng lãi suất cao. Phải kể đến những biến
động tăng đột biến của giá vàng thế giới đã khiến giá vàng trong nước tăng vọt
trong thời gian qua. Bên cạnh đó, biến động tỷ giá ngoại tệ. Không thể phủ nhận
chính những biến động của giá vàng và tỷ giá đã làm nảy sinh tâm lý lo sợ lạm
phát cao khiến một phần tiền gửi bị hút đầu tư vào vàng và đôla, khiến nguồn huy
động của các NHTM cũng bị ảnh hưởng. Người ta cũng nói đến một nguyên nhân
Page 25