phân tích vai trò của phân tích tài chính tới tăng trường kinh tế. chứng minh vai trò đó ở việt nam trong 20 năm qua - Pdf 24

MỤC LỤC
a. Nghiệp vụ thị trường mở 18
b. Chính sách lãi suất chiết khấu 18
LỜI MỞ ĐẦU
Tài chính – một lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, có vai trò trong việc ổn định và
tăng trường kinh tế. Các đặc điểm, quy mô, tính chất của tài chính ngày nay đã khác rất nhiều
so với hơn chục năm về trước. Đặc biệt, khi nền kinh tế thế giới năm 2012 được dự báo là sẽ
u ám, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều so với năm 2011. Hai điểm nhấn quan trọng nhất là sự sụt
giảm tốc độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu, nhất là của các trung tâm tăng trưởng (Mỹ, EU,
Nhật, Trung Quốc) và sự bất ổn gia tăng, có khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ và chiến
tranh thương mại (thậm chí nguy cơ suy thoái kép).
Bên cạnh đó, do độ mở cửa cao, nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ chịu tác động tiêu
cực từ xu hướng nói trên của kinh tế thế giới. Các năm trước, trong một bối cảnh quốc tế như
nhau, các chỉ số kinh tế cơ bản của Việt Nam (tăng trưởng, lạm phát, giá trị đồng tiền, nợ…)
đã kém hơn so với nhiều nền kinh tế khác. Khả năng này có thể lại diễn ra trong năm 2012,
thậm chí ở cấp độ gay gắt hơn vì nền kinh tế đang khó khăn, thực lực lại bị yếu đi hơn nhiều
so với những năm trước.
Do đó yêu cầu nhìn nhận và tìm hiểu sâu thêm về tài chính trong giai đoạn hiện nay là
rất cần thiết. Chính vì vậy, việc phân tích tài chính sẽ trở nên quan trọng hơn lúc nào hết vì
bất cứ ngành nghề nào trong nền kinh tế cũng đòi hỏi phải có sự tham gia của phân tích tài
chính.
Với tầm quan trọng của việc phân tích tài chính như vậy, em đã hoàn thành đề tài:
“Phân tích vai trò của phân tích tài chính tới tăng trường kinh tế. Chứng minh vai trò đó ở
Việt Nam trong 20 năm qua.” Với vốn kiến thức còn nhiều hạn hẹp bài viết của em chắc
chắn còn nhiều yếu kém và thiếu sót. Em kính mong được sự xem xét giúp đỡ của thầy để có
thể hoàn thiện đề án của mình.
2
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
A. Cở sở lý luận chung về tăng trưởng kinh tế
1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế

3
b. Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những
tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước.
Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, có những nước được thiên
nhiên ưu đãi một trữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt được mức thu nhập cao gần như hoàn toàn
dựa vào đó. Tuy nhiên, các nước sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, việc sở
hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định một quốc gia có thu nhập cao.
Nhật Bản là một nước gần như không có tài nguyên thiên nhiên nhưng nhờ tập trung sản xuất
các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản, công nghệ cao nên vẫn có nền kinh tế đứng thứ
hai trên thế giới về quy mô.
c. Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà người lao
động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động) và
tạo ra sản lượng cao hay thấp. Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu
dùng cho tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia
có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững. Tuy nhiên,
tư bản không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố định
xã hội, những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển. Tư bản cố định xã hội
thường là những dự án quy mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và nhiều khi có lợi suất
tăng dần theo quy mô nên phải do chính phủ thực hiện. Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường
giao thông, mạng lưới điện quốc gia ), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi
d. Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế là quá trình không
ngừng thay đổi công nghệ sản xuất. Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động
và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công
nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu mới có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản
xuất. Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu; công
nghệ có phát triển và ứng dụng một cách nhanh chóng được là nhờ "phần thưởng cho sự đổi
mới" - sự duy trì cơ chế cho phép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền
một cách xứng đáng.
B. Cơ sở lý luận chung về phân tích tài chính

yếu tố đầu vào (Thị trường hàng hoá, dịch vụ lao động ) và các quan hệ để thực hiện tiêu thụ
sản phẩm ở thị trường đầu ra (Với các đại lý, các cơ quan xuất nhập khẩu, thương mại )
Thứ tư: Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp. Đó là các khía cạnh
tài chính liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách tài chính cuả doanh nghiệp
như vấn đề cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sách lợi tức cổ phần, sử dụng ngân
quỹ nội bộ doanh nghiệp. Trong mối quan hệ quản lý hiện nay, hoạt động tài chính của các
DNNN có quan hệ chặt chẽ với hoạt động tài chính của cơ quan chủ quản là Tổng Công Ty.
Mối quan hệ đó được thể hiện trong các quy định về tài chính như:
- Doanh nghiệp nhận và có trách nhiệm bảo toàn vốn của Nhà nước do Tổng Cty giao.
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng góp một phần quỹ khấu hao cơ bản và trích một
phần lợi nhuận sau thuế vào quỹ tập trung của Tổng Công Ty theo quy chế tài chính của Tổng
Công Ty và với những điều kiện nhất định.
- Doanh nghiệp cho Tổng Công Ty vay quỹ khấu hao cơ bản và chịu sự điều hoà vốn
trong Tổng Công Ty theo những điều kiện ghi trong điều lệ của tổng Công ty.
5
Như vậy, đối tượng của phân tích tài chính, về thực chất là các mối quan hệ kinh tế
phát sinh trong quá trình hình thành, phát triển và biến đổi vốn dưới các hình thức có liên
quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Tổ chức công tác phân tích tài chính
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tuỳ theo loại hình tổ
chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng nhu cầu thông tin
cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết định. Công tác tổ chức phân tích
phải làm sao thoả mãn cao nhất cho nhu cầu thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau.
- Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dưới quyền
kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc. Theo hình thức này thì
quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nội dung của hoạt động kinh doanh. Kết quả phân
tích sẽ cung cấp thông tin thường xuyên cho lãnh đạo trong doanh nghiệp. Trên cơ sở này các
thông tin qua phân tích được truyền từ trên xuống dưới theo chức năng quản lý và quá trình
giám sát, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộ phận của doanh nghiệp
theo cơ cấu từ ban giám đốc đến các phòng ban.

Là phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh (hay phân tích quá khứ). Quá trình
này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so với kế hoạch hoặc định mức đề ra. Từ
kết quả phân tích cho ta nhận rõ tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đề ra và làm căn
cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo.
3.2. Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia làm phân tích thường xuyên
và phân tích định kỳ.
a. Phân tích thường xuyên.
Phân tích thường xuyên được đặt ra ngay trong quá trình kinh doanh. Kết quả phân
tích giúp phát hiện ngay ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa ra được các diều chỉnh kịp thời và
thường xuyên trong quá trình hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên biện pháp này thường công
phu và tốn kém.
b. Phân tích định kỳ.
Được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi cáo báo cáo đã đựoc thành lập. Phân tích
định kỳ là phân tích sau quá trình kinh doanh, vì vậy kết quả phân tích nhằm đánh giá tình
hình thực hiện, kết quả hoạt động kinh doanh của từng kỳ và là cơ sở cho xây dựng kế hoạch
kinh doanh kỳ sau.
3.3. Căn cứ theo nội dung phân tích
a. Phân tích chỉ tiêu tổng hợp.
Phân tích theo chỉ tiêu tổng hợp là việc tổng kết tất cả các kết quả phân tích để đưa ra
một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong mối
quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động Của các yếu tố thuộc môi trường.
VD: - Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả khối lượng, chất lượng sx kinh doanh.
- Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả doanh thu và lợi nhuận.
7
b. Phân tích chuyên đề.
Còn được gọi là phân tích bộ phận, là việc tập trung vào một số nhân tố của quá trình
kinh doanh tác động, ảnh hưởng đến những chỉ tiêu tổng hợp.
VD: - Các yếu tố về tình hình sử dụng lao động; các yếu tố về sử dụng nguyên vật
liệu.

vốn.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh
một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một niên độ kế toán, dưới hình thái
tiền tệ. Nội dung của báo kết quả hoạt động kinh doanh có thể thay đổi nhưng phải phản ánh
được 4 nội dung cơ bản là: doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp, lãi, lỗ. Số liệu trong báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về
phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và chỉ ra rằng, các hoạt động kinh
doanh đó đem lại lợi nhuận hay lỗ vốn, đồng thời nó còn phản ánh tình hình sử dụng các tiềm
năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
4.2. Phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp
nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài,
các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm
đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp.
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưng trên thực
tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau.
a. Phương pháp so sánh
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay
đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như
thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh
nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài
chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với doanh
nghiệp cùng ngành.
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và
qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh.
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương
đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.
Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:

Dupont đã khái quát hoá và trình bày chỉ số ROI một cách rõ ràng, nó giúp cho các
nhà quản trị tài chính có một bức tranh tổng hợp để có thể đưa ra các quyết định tài chính hữu
hiệu.
10
PHẦN II: VAI TRÒ CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TỚI TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VÀ THỰC TẾ Ở VIỆT NAM TRONG 20 NĂM QUA
1. Vai trò của tài chính tới tăng trưởng kinh tế
Trong các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như đã đề cập trong phần I thì
việc dân số gia tăng, diện tích đất đai và nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn, rốt cuộc sẽ hạn
chế sự tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên đã không còn quan trọng ở
nhiều nước thu nhập cao. Ví dụ ở Anh, giá trị đất đai và khoáng sản đã từng chiếm tới 60%
tổng tài sản hữu hình năm 1688 nhưng chỉ còn chiếm 15% năm 1977. Trên thực tế, tài nguyên
thiên nhiên không quyết định sự thịnh vượng. Năm 1870, Úc – một quốc gia giàu tài nguyên,
có thu nhập đầu người gấp đôi so với Thuỵ Sỹ - một nước nghèo tài nguyên, đến nay thu nhập
tính theo đầu người của Thuỵ Sỹ vượt hơn một lần rưỡi so với Úc. Trong 3 thập kỷ qua, Hồng
Kong, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore nằm trong số những nước có tốc độ tăng trưởng thu
nhập theo đầu người cao nhất thế giới, mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ khá nghèo
nàn. Khác biệt lớn nhất giữa những nước giàu và nghèo là hiệu quả sử dụng nguồn lực của
mỗi nước. Đóng góp của hệ thống tài chính cho sự tăng trưởng chính là khả năng tăng cường
hiệu quả. Cụ thể như sau:
1.1. Tài chính có vai trò quan trọng trong việc huy động và cung cấp các nguồn lực
tài chính phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội
Bất kỳ nền kinh tế nào cũng có nhu cầu về nguồn lực tài chính cho sự phát triển của
nền kinh tế thị trường lại càng đòi hỏi một nguồn lực tài chính lớn liên tục… do sự năng động
của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Hoạt động của thị trường tài chính là huy động và tích
luỹ các nguồn lực tài chính nhàn rỗi, nhỏ lẻ và phân tán thành nguồn tài chính to lớn tài trợ
kịp thời cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Trên bình diện vĩ mô thị trường tài chính
vận động không ngừng thúc đẩy nhanh quá trình vận động của tiền (T- H - T
'
- H

nhanh hơn, linh hoạt hơn, tạo ra những khả năng mới to lớn hơn thông qua quỹ khấu hao, quỹ
bảo hiểm, quỹ cổ phần…
Chẳng hạn thiết bị máy móc nhà máy sản xuất đường A vẫn hoạ động ở địa điểm A.
Nhưng vốn bằng tiền của thiết bị máy móc đó thông qua quỹ khấy hao, quỹ bảo hiểm đã tái
hiện lại dưới hình thức đổi mới tiên tiến và hiện đại ở nhiều nơi khác. Nhà nước có thể thông
qua tài chính để đầu tư thiết bị nhà máy ở tỉnh B, nhưng thông qua cổ phần hoá nhà nước có
thể vừa duy trì nhà máy cũ hoạt động và rút vốn ra xây dựng một nhà máy mới với hai tác
dụng:
- Gây áp lực cạnh tranh để thúc đẩy nhà máy cũ, nhà máy tương tự phải không ngừng
vươn lên.
- Tạo lập những dây chuyền công nghệ mới, nhà máy mới ở địa điểm mới…
Tóm lại, thông qua đầu tư của tài chính nhằm giữ thế cân bằng động cho toàn bộ nền
kinh tế. Đồng thời, thông qua công ty di chuyển và mới ra đời tạo động lực cạnh tranh lành
mạnh trong nền kinh tế. Mặt khác, thông qua đầu tư tài chính mà nhà nước góp phần làm cho
cạnh tranh luôn sống động và có tác dụng tích cực.
Nhà nước cũng có thể thông qua việc nâng cao hoặc hạ thấp thuế suất để điều tiết hoạt
động đầu tư kinh doanh giữa các ngành.
Với tác dụng điều tiết kinh tế, tài chính là công cụ trọng yếu thúc đẩy nền kinh tế quốc
dân phát triển cân đối.
b. Tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
12
Thông qua chính sách tài chính quốc gia như tính ổn định tiền tệ, tính sinh lãi của các
bất động sản, của vốn nhà mỗi, của các vị trí lợi thế so sánh… mà làm cho mọi người dân có
ý thức bảo vệ, sử dụng và đưa nhanh các tài sản đó vào kinh doanh. Như vậy nhờ chính sách
sinh lợi của tài chính mà biến bất động sản thành vốn kinh doanh, biến tiền nằm im thành tiền
kinh doanh… Điều này ở nước ta đã thể hiện ở một phần ở mối liên hệ kinh doanh với nước
ngoài như: đất, đồi trọc, sông suối… trở thành vốn kinh doanh. Các lợi thế so sánh trở thành
lực lượng kinh doanh, một số tư liệu sinh hoạt trở thành vốn kinh doanh.
c. Tài chính góp phần điều hành thực hiện mục tiêu: tiết kiệm, tích luỹ tăng đầu tư đi
đến tăng việc làm chống thất nghiệp và góp phần tăng thu nhập tăng trưởng kinh tế.

họ kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ. Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục rút cục sẽ bị cạn
kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa, còn nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn trả cũng buộc phải ngừng hoạt động.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ hướng
chủ yếu vào khă năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy họ đặc biệt chú ý đến số lượng tiền và
các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết
được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến
số lượng vốn chủ sở hữu vì đó là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp
rủi ro.
Đối các nhà đầu tư, họ quan tâm đến lợi nhuận bình quân vốn của Công ty, vòng quay
vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp Từ đó ảnh hưởng tới các quyết định tiếp tục đầu
tư và Công ty trong tương lai.
Bên cạnh những nhóm người trên, các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, nhà cung cấp,
người lao động cũng rất quan tâm đến bức tranh tài chính của doanh nghiệp với những mục
tiêu cơ bản giống như các chủ ngân hàng, chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Tất cả những cá nhân, tổ chức quan tâm nói trên đều có thể tìm thấy và thoả mãn nhu
cầu về thông tin của mình thông qua hệ thống chỉ tiêu do phân tích báo cáo tài chính cung
cấp.
b. Phân tích tài chính làm giảm bớt các nhận định chủ quan, dự đoán và những trực
giác trong kinh doanh, góp phần làm giảm bớt tính không chắc chắn cho các hoạt động kinh
doanh.
c. Phân tích tài chính cung cấp những cơ sở mang tính hệ thống và hiệu quả trong
phân tích các hoạt động kinh doanh.
d. Phân tích tài chính cũng giúp kết nối và cố vấn đầu tư cho chính doanh nghiệp của
mình thông qua sự phân tích và đánh giá các dự án hay kế hoạch.
3. Vai trò của phân tích tài chính tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong 20
năm qua
3.1. Bức tranh tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
Sau 26 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền Việt Nam đã ra khỏi khủng
hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật chất và tạo tiền đề

khoảng thời gian này, vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra.
ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD (gấp hơn 1,5 lần mục tiêu), giải ngân đạt 13,8 tỷ USD, vượt
16% kế hoạch.
Qua 26 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ. Từng bước phát
triển đồng bộ và quản lý sự vận hành các loại thị trường cơ bản, theo cơ chế mới. Thị trường
hàng hoá phát triển với quy mô lớn, tốc độ nhanh.
15
3.2. Vai trò của phân tích tài chính tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam thể hiện qua
sự phát triển của một số lĩnh vực
3.2.1. Sự phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán (TTCK) đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm
rất lớn của mọi đối tượng trong xã hội. Việc ứng dụng các kỹ thuật phân tích chứng khoán đã
giúp các Nhà đầu tư có những quyết định đầu tư đúng đắn, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát
triển của TTCK Việt Nam.
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi, ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị
định số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho TTCK
Việt Nam ra đời.
Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sự quan tâm
của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo ra tác động xã
hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của
mỗi người dân.
Theo thống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến hết năm 2005, tổng giá
trị TTCK việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 0,69% tổng thu nhập quốc nội (GDP).
TTCK Việt Nam hiện có 4.500 tỷ đồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu tư và gần
35.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, thu hút 28.300 tài
khoản giao dịch. Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so
với năm 2004, huy động được 44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả
nước đạt gần 1%.
Giai đoạn 2006: Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam.

trị giao dịch so với năm 2006. Bình quân mỗi phiên giao dịch có 9,2 triệu chứng khoán được
chuyển nhượng tương đương với 980 tỷ đồng. TTGDCK Hà Nội thực hiện thành công 248
phiên giao dịch, với tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán
tương đương với tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về
khối lượng và 15,8 lần về giá trị giao dịch so với năm 2006. Quy mô giao dịch tăng trưởng
mạnh khi mức giao dịch bình quân năm 2007 đạt 255 tỷ đồng/phiên trong khi năm 2006 chỉ
đạt 19 tỷ đồng/phiên.
Giai đoạn 2008 đến nay: Đây là giai đoạn sụt giảm trầm trọng của TTCK Việt Nam.
Năm 2011 chứng kiến sự khó khăn tột cùng của TTCK Việt Nam, khi HNX-Index đã xuống
mức thấp nhất trong lịch sử là 58,4 điểm vào ngày 22/12. Vn-Index hiện cũng ở mức thấp
nhất trong một năm qua. Thị trường đi xuống dẫn đến hệ quả là thanh khoản sụt giảm, thị giá
nhiều cổ phiếu xuống rất thấp. Không ít cổ phiếu đã mất 80-90% giá trị so với đầu năm. Đây
cũng là giai đoạn bùng nổ hàng loạt vụ bê bối chưa có tiền lệ và hệ quả là niềm tin của thị
trường đã bị đánh cắp ít nhiều. Trước tình trạng đó, Thông tư 226 được ban hành với nội dung
về việc giám sát an toàn tài chính cho công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đã được Bộ
Tài chính ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/4/2011. Theo đó, những trường hợp không đáp
ứng chỉ tiêu an toàn tài chính (tính theo tỷ lệ vốn khả dụng) sẽ bị cơ quan quản lý đưa vào tình
trạng kiểm soát hoặc kiểm soát đặc biệt.
Với tình hình căng thẳng trên TTCK như vậy ngày càng sàng lọc các đối tượng tham
gia trên thị trường như công ty chứng khoán, nhà đầu tư… Chỉ những thành viên nào có
những kiến thức hiểu biết nhất định về thị trường, có khả năng phân tích, nhìn nhận về xu
hướng TTCK hay đầu tư vào các công ty niêm yết có hoạt động kinh doanh hiệu quả… thông
qua kỹ năng phân tích tài chính mới có thể tồn tại trong TTCK Việt Nam hiện nay. Từ đó, có
17
thể thấy vai trò quan trọng của việc phân tích tài chính tới sự phát triển của TTCK nói chung
và ở Việt Nam nói riêng.
3.2.2. Chính sách tỷ giá, lãi suất và lạm phát tác động tích cực đến tăng trưởng kinh
tế
Không có cơ chế tỷ giá hối đoái nào là tối ưu trong mọi trường hợp. Nhưng thực tế
cho thấy, giữ được tỷ giá ổn định dựa trên việc tìm kiếm thường xuyên sự cân đối tối ưu giữa

yết chỉ tăng thêm 7.2%. Trước thực trạng đó, Chính phủ buộc phải thực hiện các biện pháp
nhằm giữ ổn định tỷ giá. Trong đó Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước bán ngoại
tệ cho ngân hàng và ”siết” lại các hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do
Những biện pháp này đã phát huy hiệu quả khi hiện tại tỷ giá trên thị trường tự do
giảm xuống chỉ còn quanh mức 21,000 VND/USD.
Số liệu thống kê cho thấy, nước ta đã có một thời gian dài nằm trong tình trạng lạm
phát với tốc độ tăng giá bình quân hàng năm từ trên 140% đến 600%. Đặc biệt tình trạng siêu
lạm phát gần như liên tục suốt 6 năm liền (1982-1982 và 1985-1988) đã thực sự là một thảm
hoạ mà nhân dân ta phải gánh chịu. Có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau về
nguyên nhân gây ra lạm phát. Ở nước ta, sau quá trình nghiên cứu và phân tích tình hình kinh
tế – tài chính hơn một thập kỉ qua đã cho thấy nguyên nhân chính của tình trạng lạm phát là
sự mất cân đối về kinh tế, song nguyên nhân thúc đẩy lạm phát lên mức cao và ngày càng
trầm trọng lại thuộc về lĩnh vực tài chính. Tới năm 1988, bên cạnh một số chính sách về kinh
tế chung ta bắt đầu sử dụng công cụ tài chính để tấn công trở lại cơn sốt lạm phát. Đó là chính
sách sử dụng tỷ giá linh doạt, phù hợp với sự biến động giá cả trên thị trường và đặc biệt là
chính sách lãi suất tiết kiệm đảm bảo cho người gửu tiền không bị mất vốn do yếu tố lạm phát
gây ra. Việc đưa trần lãi suất tíêt kiệm có kì hạn lên 14%/ tháng là một liều thuốc cực mạnh
về mặt tâm lý để đánh vào lạm phát. Lượng tiền gửi vào tiết kiệm lập tức tăng vọt và lạm phát
giảm dần.
Đến nay với chính sách lãi suất hợp lý, tỷ lệ lạm phát ở nước ta đã giảm hẳn và ở mức
cho phép.
3.2.3. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
phát triển các ngành kinh tế chủ chốt. Bên cạnh việc cho vay thương mại đối với các tổ chức
và cá nhân, hệ thống Ngân hàng còn là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng và Chính phủ như cho vay đối với hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa,
góp phần hạn chế đáng kể sự chênh lệch phát triển giữa các nhóm thu nhập và giữa các vùng
trong nước, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa.
Trong điều kiện thị trường tài chính còn sơ khai, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh chủ yếu
cung ứng vốn cho chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế trong suốt những năm qua.

kín và phụ thuộc vào nhập khẩu sang nền kinh tế mở định hướng xuất khẩu, tăng dần khả
năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và
thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững. Thông qua nguồn vốn
tín dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống
Ngân hàng đã góp phần tạo thêm được hàng triệu việc làm mới, nhất là tại các vùng nông
thôn. Việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng có tính chuyên nghiệp,
minh bạch và hiệu quả, nhất là từ khi tín dụng chính sách được tách bạch với tín dụng thương
mại và giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội đảm nhiệm.
Ở Việt Nam đã hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp, nhờ đó đã thiết lập được một
mạng lưới cung cấp dịch vụ ngân hàng phong phú, phục vụ mọi thành phần kinh tế. Tính đến
nay, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam bao gồm 5 NHTMNN ( có 2 ngân hàng
đã hoàn thành cổ phần hoá là Ngân hàng ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Công thương
VN), 1 Ngân hàng Chính sách xã hội, 37 NHTMCP, 45 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5
ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, 47 văn phòng đại diện TCTD nước
ngoài tại Việt Nam, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, 01 quỹ tín dụng nhân
20
dân trung ương và hơn 1000 quĩ tín dụng nhân dân cơ sở. Mạng lưới hoạt động của các ngân
hàng đã trải rộng tới nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Đa số các TCTD vẫn tiếp tục có nhu
cầu mở rộng mạng lưới. Giữa trụ sở và các chi nhánh về cơ bản đã được kết nối trực tuyến, do
đó chất lượng quản lý trong hệ thống của nội bộ từng TCTD đã có sự cải thiện đáng kể.
Ngoài ra, ngành Ngân hàng góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái,
đảm bảo phát triển bền vững. Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự án,
quyết định cho vay vốn ngân hàng đối với các dự án và giám sát quá trình thực hiện một cách
chặt chẽ sau khi cho vay, các TCTD luôn chú trọng yêu cầu các khách hàng đảm bảo an toàn
và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các cam kết quốc tế và các qui định về bảo
vệ môi trường.
=> Qua phân tích trên có thể đi đến kết luận:
- Nhà nước có vai trò quyết định trong việc điều hành kinh tế vĩ mô thực hiện các mục
tiêu chiến lược kinh tế – xã hội. Trong đó, tài chính là một công cụ đắc lực giúp nhà nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status