ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG
VẤN ĐỀ NỮ QUYỀNTRONG SÁNG TÁC
CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN DÂN TỘC THIỂU SỐ
(KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG
VẤN ĐỀ NỮ QUYỀNTRONG SÁNG TÁC
CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂNDÂN TỘC THIỂU SỐ
(KHU VỰCMIỀN NÚI PHÍA BẮCVIỆT NAM)
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS. CAO THỊ THU HOÀI
hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Dương Thị Thúy Hằng
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN.....................................................................................................ii
MỤC LỤC......................................................................................................... iii
DANH MỤC VIẾT TẮT.................................................................................... v
MỞ ĐẦU............................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài..............................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..............................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...................................................................6
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................7
6. Đóng góp của luận văn....................................................................................8
7. Cấu trúc của luận văn......................................................................................8
Chương 1:KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN
NÚIPHÍA BẮC VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN TRONG VĂN
HỌC....................................................................................................................9
1.1. Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc..........................9
1.1.1. Lịch sử hình thành, phát triển................................................................... 9
1.1.2. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật............................................................... 14
1.2. Giới thuyết về nữ quyền trong văn học......................................................20
1.2.1. Khái niệm nữ quyền................................................................................20
DANH MỤC VIẾT TẮT
DTTS
:
Dân tộc thiểu số
TK
:
Thế kỉ
v
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
1.1.Làmột bộ phận quan trọng trong nền văn học Việt Nam, văn học dân
tộc thiểu số (DTTS) đã đi vào đời sống cộng đồng và mang những giá trị nhân
văn cao cả. Trong bộ phận văn học này, thể loại văn xuôi chiếm một vị thế đặc
biệt,làm nên những nét đặc sắc tiêu biểu và riêng biệt.Như GS. Phong Lê đã
từng nhận xét:“Văn xuôi miền núi chiếm lĩnh được một vẻ đẹp riêng không thay
thế được, không ai bắt chước được”. Trải qua một quá trình tự mình vận động
và vươn ra hòa cùng đại dương văn học Việt, đến nay, văn xuôi dân tộc thiểu số
đã đạt được rất nhiều thành tựu lớn và có chỗ đứng trên khắp các vùng miền
của cả nước. Trong đó, tập trung chủ yếu ở ba khu vực: miền núi phía Bắc, Tây
Nguyên và Tây Nam Bộ.
hội còn người phụ nữ chỉ là cái bóng mờ nhạt, không được coi trọng. Người
phụ nữbị bủa vây bởi tập tục lạc hậu, họ chỉ biết sống cam chịu và phục tùng,
số phận chịu nhiều đắng cay và ngang trái. Bởi vậy, dấu hỏi lớn ở đây là làm
sao để người phụ nữ có được quyền bình đẳng trong cuộc sống?
Khi xã hội bước vào thời kì đổi mới, đời sống kinh tế xã hội và tư tưởng có
nhiều thay đổi, chủ nghĩa nữ quyền lúc này giải thích nguyên nhân tại sao phụ nữ
bị áp bức trong xã hội và làm thế nào để nâng cao địa vị của phụ nữ. Vì thế tiếng
nói đòi quyền bình đẳng và quyền sống của người phụ nữ được chú trọng hơn.
Trong văn học, hình tượng người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng bất tận, vừa
quen thuộc, vừa mới mẻ của những văn nghệ sĩ và là hình tượng nghệ thuật tiêu
biểu cho văn học dân tộc. Cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới đã diễn ra đồng loạt
trên mọi phương diện của đời sống xã hội, trong đó có văn học nghệ thuật. Lúc
này, vấn đề về nữ quyền được nhắc đến nhiều trong đời sống văn học nước ta, chi
phối diện mạo văn xuôi Việt Nam trong đó có văn xuôi dân tộc thiểu số.
1.4. Qua những sáng tác văn xuôi, các nhà văn dân tộc thiểu số thấu hiểu
được số phận của người phụ nữ miền núi còn chịu nhiều thiệt thòi, áp bức nên
bằng các phương thức khác nhau, họ đã đưa vào tác phẩm của mình hình ảnh
người phụ nữ và cuộc sống của họ trên muôn nẻo cuộc sống với sự đồng cảm, yêu
thương, trân trọng. Âm hưởng về nữ quyền tuy còn mơ hồ nhưng tiếng vọng
của nó đã vang lên thể hiện ở việc người phụ nữ dân tộc thiểu số dám đứng lên
2
chống lại những phong tục, tập quán đã lỗi thời, lạc hậu, mang màu sắc mê tín,
những thói hư, tật xấu làm xã hội trì trệ, trở thành vật cản, là gánh nặng đối với
các cộng đồng người dân tộc thiểu số. Dù luôn phải đối mặt với những khó
khăn, thử thách trong cuộc sống nhưng thẳm sâu trong tâm hồn, họ luôn khát
khao về cuộc sống hạnh phúc - đời thường giản dị, tươi đẹp.Đọc những sáng
tác của Vi Hồng, Bùi Thị Như Lan và Cao Duy Sơn… Ta có thể thấy các tác
ở vị trí đối tượng sáng tạo để khám phá diện mạo của hình tượng nhân vật nữ.
Phụ nữ là một nội dung nổi bật của văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổimới.Nguyễn
Thị Thanh Xuân với tham luận “Xét lại thế giới đàn ông bằng cái nhìn đàn
bà”, tham dự tọa đàm khoa học “Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam
đương đại”, đã khái quát những nét cơ bản về âm hưởng nữ quyền trong văn
học từ năm 1986 trởđi.
Năm 1990, bài viết: Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn (Tạp chí văn học, số 5), nhà nghiên cứu Trường Chính đã thể hiện
những kiến giải của mình về ý thức nữ quyền trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.
Từ giữa năm 1999, nhiều chuyên đề liên quan đến phái tính trong văn học có sức
lan tỏa rất nhanh trên văn đàn, nhất là ở ngoài nước. Do có sự tiếp xúc với chủ
thuyết nữ quyền, dòng văn học hải ngoại có bước đột phá rất ngoạn mục trong
việc nghiên cứu về phái tính. Những chuyên đề như Tình yêu, tình dục và phái
tính trong văn học, Tình yêu tình dục của Tạp chí Việt, chuyên đề Văn học nữ
quyền, chuyên đề Giới tính trên trang DaMau.org… liên tiếp mở ra nhiều khám
phá.Năm 2006, trong bài viết tham dự hội thảo quốc tế về văn học tại Viện văn
học có nhan đềVấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam
đương đại, nhà nhiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã giới thiệu khái quát về vấn đề
phái tính trong văn học ở từng giai đoạn và đưa ra nhìn nhận ban đầu về vấn đề
tính nữ trong văn học Việt Nam. Năm 2013, Đặng Thị Vân Chi trong bài viết: Vấn
đề nữ quyền ở Việt Nam đầu TK XXtham dự Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần
thứ nhấtcó nhận xét: “Sự tự nhận thức của phụ nữ đối với vấn đề nữ quyền cũng
như sự phát triển của quá trình nhận thức tư tưởng này trong xã hội Việt Nam đã
từng bước mang lại sự thay đổi thực sự cho phụ nữ cũng như sự phát
4
triển của phong trào phụ nữ, thúc đẩy phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội,
vào phong trào đòi quyền bình đẳng nam nữvà giải phóng phụ nữ, giải phóng dân
năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945-1985) (Nxb Văn
hóa, 1985); Văn hóa các dân tộc -từ một diễn đàn (1999) của Hội văn học nghệ
thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam; Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam truyền
thống và hiện đại (Nxb Đại học Thái Nguyên); Bản sắc văn hóa dân tộc trong
văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam ( Nxb Đại học Thái
Nguyên); Nửa thế kỷ phát triển văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía
Bắc Việt Nam(từ 1960 đến nay) (Nxb Hội nhà văn)… Nhìn chung những nguồn
tài liệu trên đã cung cấp những nhận định khái quát về người phụ nữ dân tộc
thiểu số, thấy được hình ảnh người phụ nữ luôn là đối tượng thẩm mĩ đáng
được chú ý trong mọi lĩnh vực văn chương.
Điểm qua một số công trình nghiên cứu và các bài viết có thể thấy rằng,
lý thuyết về nữ quyền đã được vận dụng vào nghiên cứu văn học Việt Nam, tuy
nhiên chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề nữ quyền trong sáng tác của
một số nhà văn dân tộc thiểu số. Do đó, đây sẽ là hướng mở để chúng tôi thực
hiện đề tài này. Đề tài thành công sẽ góp một cái nhìn mới mẻ nhằm giáo dục
nhận thức về các giá trị bình quyền, thúc đẩy bình đẳng giới nói chung và sự
tiến bộ của người phụ nữ vùng cao nói riêng.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Vấn đề nữ quyền trong sáng tác
của một số nhà văn dân tộc thiểu số (khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề nữ quyền trong sáng tác của các
nhà văn DTTSkhu vực miền núi phía Bắc như: Vi Hồng, Cao Duy Sơn,Bùi
Minh Chức, Hữu Tiến, Bùi Thị Như Lan…
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Có cái nhìn tổng thể và khái quát về văn học dân tộc thiểu số, góp phần
6
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Văn hóa học, dân tộc học…)
7
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề nữ quyền trong
sáng tác của một số nhà văn dân tộc thiểu số.
- Khẳng định ý thức về nữ quyền trong dòng chảy văn học của dân tộc và
ưu thế của dòng văn học viết về nữ quyền, nói lên tiếng nói về bình đẳng giới.
- Khẳng định sự đóng góp của những nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam hiện
đại cho thành tựu chung của văn học nước nhà trên con đường hiện đại hóa.
- Bổ sung tài liệu tham khảo về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc và
giới thuyết về nữ quyền trong văn học
Chương 2: Vấn đề nữ quyền trong sáng tác của một số nhà văn dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc nhìn từ góc độ nội dung
Chương 3: Vấn đề nữ quyền trong sáng tác của một số nhà văn dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc nhìn từ góc độ nghệ thuật
8
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI
PHÍA BẮC VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC
1.1. Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
xuôi khai thác mạnh mẽ khả năng mô tả của ngôn từ để khái quát hiện thực đời
sống“Miêu tả cuộc sống trong những hình thức vốn có của nó”và chính chất
liệu ngôn từ đã giúp văn xuôi đạt được tính vạn năng trong việc chiếm lĩnh đời
sống, thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người.
Vốn văn học dân gian của dân tộc thiểu số rất đa dạng và phong phú gồm
nhiều thể loại như: Sử thi, dân ca, truyện cổ, thành ngữ- tục ngữ, truyện thơ,
trường ca…Đây cũng là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng văn xuôi dân tộc thiểu số
phát triển. Bên cạnh đó thì những tác phẩm văn xuôi của các tác giả người Kinh
viết về đề tài miền núi như Truyện Tây Bắc (Tô Hoài), Ở rừng(Nam Cao), Đất
nước đứng lên (Nguyên Ngọc) cũng là nguồn cảm hứng cho những nhà văn
DTTS viết văn. Khu vực văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại bắt
đầu hình thành từ những năm 50 của thế kỉ XX và là một nền văn học trẻ. Tuy
hình thành muộn, chủ yếu đươc hình thành và phát triển từ sau cách mạng
tháng Tám năm 1945, đặc biệt nở rộ từ những năm 60 trở lại đây,trải qua hơn
một nửa thế kỉ phát triển, văn xuôi các DTTS đã có nhiều khởi sắc từ đội ngũ
sáng tác ngày càng đông đảo, thể loại ngày càng phong phú tới số lượng và
chất lượng tác phẩm ngày càng nhiều, hay và hấp dẫn hơn, gặt hái được nhiều
thành tựu và đã phổ biến rộng khắp trên mọi vùng miền của tổ quốc.
Trên thực tế, với điều kiện địa lý và tự nhiên xã hội khác nhau, văn xuôi
DTTS Việt Nam hiện đại tồn tại ở 3 khu vực chính đó là: miền núi phía Bắc, Tây
Nguyên và Tây Nam Bộ. Tuy vậy ở mỗi khu vục này có sự phát triển khôngđồng
đều. Nói đến khu vực Tây Nguyên, vào những năm 70,80 của TKXX mới xuất
hiện tác giả Y Điêng, một người con của đồng bào dân tộc Ê đê, ông được coi là
người giữ hồn văn hóa Ê đê trong văn chương nghệ thuật với tác phẩm như:
Chuyện bên bờ sông Hinh (tiểu thuyết 2 tập), Drai Hlinh đi về phía sáng (truyện
10
ngắn), Hờ Giang (truyện dài)…Nối tiếp ông xuất hiện thêm nhiều cây bút mới
đã phát triển đạt đến đỉnh cao thì nền văn xuôiDTTS Việt Nam mới có những
bước đi đầu tiên. Trước hết là thơ, thời kỳ đầu, thơ các dân tộc thiểusố vẫn chịu
ảnh hưởng nặng nề của thơ ca dân gian. Những người làm thơ xuất thân từ tầng
lớp bình dân nên thơ ca dân tộc là sự kết hợp của cách mạng, nhân dân và văn
hóa dân gian.Từ sau 1945, thơ ca đạt được những thành tựu với các tác giả là: Y
Phương, Dương Thuấn, Lò Ngân Sủn…Tiếp đó là văn xuôi, do điều kiện kinh tế,
văn hóa xã hội, trình độ nhận thức của nhà văn,đối tượng phản ánh nên văn xuôi
DTTS ra đời muộn và phát triển chậm. Phải từ sau cách mạng, từ sự thay đổi có
tính bước ngoặt và căn bản về chất trong toàn bộ lĩnh vực của đời sống xã hội cuối
những năm 50,60 thì tư tưởng dân chủ mới được thể hiện rõ nét, đồng bào miền
núi mới thực sự có ý thức vươn lên làm chủ cuộc sống mới, làm chủ cuộc đời,
dám đấu tranh và phản kháng lại những áp bức, bất công, những phong tục tập
quán nghèo nàn, lạc hậu, những tư tưởng phi dân chủ…Mặc dù quá trình hình
thành và phát triển muộn nhưng thể loại văn xuôi DTTS miền núi phía Bắc vẫn
tạo được nền tảng vững chắc và quan trọng trong sự phát triển của văn học Việt
Nam. Năm 1958 với sự ra đời truyện ngắn Ché mèn được đi họp của Nông Minh
Châu, tác phẩm văn xuôi viết bằng tiếng dân tộc đầu tiên trong lịch sử văn học
Việt Nam của một tác giả người dân tộc thiểu số ra đời, sau được tác giả tự dịch ra
tiếng phổ thông. Với đứa con đầu lòng này, Nông Minh Châu được những người
trong nghề chào đón, được giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn Nghệ.
Tiếp theo thành công đó là tiểu thuyết Muối lên rừng được Nông Minh Châu viết
bằng tiếng Kinh ấn hành năm 1964 mở ra một thời kỳ mới cho tiểu thuyết phát
triển. Từ ảnh hưởng của Nông Minh Châu mà sau đó, văn xuôi các dân tộc thiểu
số đã xuất hiện thêm các tên tuổi như: Triều Ân, Nông Viết Toại, Vi Hồng, Lâm
Ngọc Thụ, Vương Trung, Hoàng Hạc… Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn phát
triển về tầm vóc và chất lượng (từ 1965 đến những năm 70,80 của thế kỷ XX), văn
xuôi miền núi giai đoạn này có điều kiện thuận lợi để phát triển về số lượng và
quy mô tác phẩm, hình thành nên một khu rừng văn xuôi sum suê
(2005),Hoa mía (2006)… Có thể nói, những cây bút người DTTS đã gìn giữ và
13
thổi bùng lên ngọn lửa văn chương của dân tộc mình, văn xuôi DTTS đã từng
bước bắt nhịp vào đời sống của đất nước, cổ vũ, động viên và đi sâu miêu tả số
phận con người miền núi đặc biệt là thân phận, số phận người phụ nữ miền núi,
họ chính là tiêu điểm của bức tranh toàn cảnh về số phận con người, sống ở
vùng núi cao, tồn tại bao hủ tục lạc hậu, bao khó khăn thử thách…Nhưng bên
trong con người họ vẫn sáng lên những phẩm chất tốt đẹp, những khát vọng
chính đáng và vững tin vào một tương lai tươi sáng. Đây cũng là ngọn lửa về
vấn đề nữ quyền được các tác giả DTTS miền núi phía Bắc thắp lên nhằm bênh
vực, đòi quyền lợi cho những người phụ nữ vùng cao.
1.1.2. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật
Về nội dung:Vùng miền núi và cuộc sống của đồng bào các dân tộc miền
núi là mảnh đất chứa đựng nhiều tiềm năng cho công việc sáng tạo.Hòa cùng
dòng chảy với văn học dân tộc, từ sau kháng chiến chống thực dân Pháp, văn
xuôi DTTS miền núi phía Bắc đã học tập và kế thừa thành tựu của văn xuôi
người Kinh viết về miền núi, các cây bút văn xuôi DTTS miền núi phía Bắc đã
đem đến cho độc giả những hiểu biết chân thực, toàn diện và đầy đủ hơn về
cuộc sống, con người, về các phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc ít
người qua các giai đoạn lịch sử của đất nước, luôn gắn liền với sự vận động, sự
đổi thay từng ngày, từng giờ của cuộc sống con người và thiên nhiên miền núi.
Nếu như thơ ca các DTTS đã phản ánh về hiện thực đời sống và con người
vùng cao cả thời kì kháng chiên chống Pháp thì văn xuôi các DTTS lại chủ yếu
phản ánh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở
miền Bắc. Đầu TKXX, xuất hiện một số tác phẩm của nhà văn người Kinh viết về
đời sống sinh hoạt của người dân tộc thiểu số ở miền núi như Thế Lữ với tập
trường mà lòng yêu nước ấy còn có ở những người đang ngày đêm lao động để
làm hậu phương vững chắc cho người lính”[13, tr. 130].Đặc biệt là hình ảnh con
người miền núi với khát vọng “đi về phía sáng” trong công cuộc xây dựng xã hội
mới được phản ánh khá rõ nét. Đọc tác phẩm Ché Mèn được đi họp của Nông
Minh Châu, người đọc đã bắt gặp hình ảnh Ché Mèn, một nữ thanh niên miền núi
giác ngộ và trưởng thành trong quá trình xây dựng cuộc sống mới
15
“Mèn nhờ bạn viết giúp lá đơn. Từ đó Mèn là một đoàn viên thanh niên lao
động. Mèn được biết về Đoàn, Mèn càng gần Đảng. Cái hăng hái của Mèn
càng rõ ràng” [37, tr.127]. Ché Mèn dù mới 18 tuổi nhưng cô đã dám chống lại
các hủ tục mê tín, lạc hậu của đồng bào mình, đưa khoa học kĩ thuật vào phát
triển sản xuất mang lại ấm no cho gia đình và làng bản. Quả vậy, sau Ché Mèn
là hàng loạt nhân vật trẻ náo nức, mê say trong công cuộc lao động dựng xây
chủ nghĩa xã hội. Tóm lại văn xuôi thời kỳ này chủ yếu viết về con người, quê
hương miền núi, mang đến hơi thở và nhịp đập của núi rừng. Ngòi bút của họ
chạm đến từng kẽ lá, từng ngọn cỏ, từng mảnh đời, từng số phận nơi miền
núi.Khơi thông một vấn đề tưởng chừng còn xa lạ với tư duy của người miền
núi đó là đặt nhân vật trung tâm là người phụ nữ DTTS dám đứng lên đòi
quyền sống, quyền được yêu, được thỏa mãn khát vọng bản năng.
Từ sau 1975 và đặc biệt là từ sau 1986, đây là thời kỳ mà văn xuôi DTTS
phát triển khá mạnh mẽ“Dưới ánh sáng soi đường của Đảng, cuộc sống của đồng
bào vùng cao từng bước khởi sắc. Vẫn là sự hào hứng của kiến thiết, dựng xây,
đổi mới cuộc sống nhưng hiện thực miền núi có những sắc màu riêng, vấn đề
riêng- chung làm nên chất liệu thực tế của văn xuôi” [13, tr134].Trong không khí
hòa bình và xây dựng cuộc sống mớixuất hiện trong trang viết của các nhà văn là
những con người mới, cuộc sống mới trên tất cả các mặt trận sản xuất và chiến
đấu, ca ngợi sự đổi đời của nhân dân các dân tộc từ cuộc sống nô lệ tối tăm đã
lợi khiến cho số lượng tác phẩm xuất bản nhiều chưa từng có trong một thời gian
ngắn. Văn xuôi DTTS thời kì này có nhiều tác phẩm hướng về công cuộc xây
dựng đời sống, phát triển kinh tế ở miền núi và cả những vấn đề cũ mà trước đây
do cái nhìn hạn hẹp và vốn sống chưa phong phú nên văn xuôi DTTS còn chưa đề
cập tới. Các nhà văn hướng ngòi bút của mình phản ánh cuộc đấu tranh gian khổ
trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới nơi vùng cao,
dám nhìn thẳng vào sự thật để phản ánh những lối sống thực dụng,vô đạo đức của
một bộ phận người dân miền núi đã phá vỡ sự bình yên, trong trẻo vốn có của núi
rừng như: Gió hoang(1992) của Ma Trường Nguyên; Cao nguyên trắng của Mã A
Lềnh; Vùng đồi gió quẩn(1994) của Sa Phong Ba;Đàn trời
17
(2006), Chòm ba nhà(2009)của Cao Duy Sơn…
Nhiều nhà văn DTTS có ý thức đi sâu tìm hiểu cuộc đời và thân phận
con người. Đặc biệt với sự xuất hiện của các nữ nhà văn DTTS, do sự nhạy
cảm của giới mình đã có những trang viết cảm động chia sẻ và cảm thông sâu
sắc với số phận nhiều éo le trắc trở của những người phụ nữ miền núi. Một số
tác phẩm đã thể hiện hạnh phúc cá nhân, đời thường, những câu chuyện về tình
yêu nhiều sóng gió… Đặc biệt là đi sâu khai thác số phận những người phụ nữ
để thấy được bức tranh toàn cảnh về những người phụ nữ vùng cao bao đời bị
sự kìm kẹp bởi những hủ tục lạc hậu, bị đày đọa cùng với bao khó khăn, thử
thách trong cuộc sống nhưng luôn khát khao được hạnh phúc và vươn lên để
thể hiện chính mình. Trong tâm hồn họ vẫn ánh lên những phẩm chất tốt đẹp,
những hoài bão ước mơ về một tương lai tươi sáng.
Về nghệ thuật: Có thể khẳng định, nghệ thuật xây dựng nhân vật và việc
sử dụng ngôn ngữ giản dị, linh hoạt, mang đậm sắc thái dân gian là những hình
thức nghệ thuật độc đáo của văn xuôi DTTS miền núi phía Bắc đã tạo nên một
bản sắc riêng cho bộ phận văn học này. Pautopxki đã nói: "Những nhân vật và