PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Quan hệ kinh tế quốc tế là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự
hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới, các xu hướng vận động của
quan hệ kinh tế quốc tế rất đa dạng, nhưng nổi bật trong giai đoạn hiện nay là hội
nhập kinh tế quốc tế và hội nhập kinh tế khu vực. Quá trình hội nhập này chi
phối sự phát triển của tất cả các quốc gia, có thể tạo ra những tác động tích cực
cũng như gây ra tác động tiêu cực đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Là một khu vực có vị trí chính trị, kinh tế quan trọng thì Châu Á - Thái
Bình Dương cũng không nằm ngoài xu hướng chung này. Trong mấy chục năm
qua, Châu Á - Thái Bình Dương đã nổi lên là một khu vực phát triển kinh tế
năng động, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế và chính trị thế
giới. Từ nửa cuối những năm 1980 của thế kỷ XX, để duy trì tính năng hoạt động
kinh tế của khu vực, đối phó với sự canh tranh ngày càng cao về kinh tế trên thế
giới, một số nước Châu Á - Thái Bình Dương đã liên kết với nhau tạo ra nền
thương mại và đầu tư quốc tế thông thoáng. Trong bối cảnh đó, Diễn đàn hợp tác
kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được thành lập vào tháng 11 năm
1989 tại Canberra (Australia).
Việt Nam đã là thành viên của APEC từ năm 1998, đã có nhiều cơ hội
thuận lợi và nhất là những bài học kinh nghiệm về hội nhập quốc tế, nhưng cũng
phải đối diện với những khó khăn thách thức rất lớn khi tham gia APEC. Do vậy,
việc duy trì môi trường hoà bình ổn định và tăng cường hợp tác cùng có lợi với
các nước trong khu vực có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Qua hơn một thập kỷ tồn tại và phát triển, APEC đã từng bước lớn mạnh và
đến nay đã có 21 thành viên với trình độ phát triển kinh tế khác nhau. Đối với
APEC, Việt Nam đã và sẽ tiếp tục đưa ra các cam kết trong kế hoạch hành động
quốc gia hàng năm, đồng thời tham gia ngày càng sâu vào một số lĩnh vực của kế
hoạch hành động tập thể, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu chung của APEC.
1
2
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á-
THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC)
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) là một diễn
đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu
tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện trong khi thực
sự mở cửa đối với tất cả các nước và khu vực khác
1. Lịch sử hình thành APEC.
1.1. Bối cảnh ra đời chung.
- Kinh tế toàn cầu: Sự gia tăng của quá trình toàn cầu hoá trên tất cả các
lĩnh vực khiến các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng tính phụ thuộc vào nhau.
Trong khi đó, vòng đàm phán Uruguay trong khuôn khổ GATT có nguy cơ
không đạt được kết quả như mong đợi, đã thúc đẩy thêm quá trình khu vực hoá
với sự hình thành các khối mậu dịch khu vực lớn trên thế giới như EU, NAFTA,
AFTA
- Kinh tế khu vực: Khu vực châu Á, đặc biệt là Đông Á là những nền kinh
tế năng động trên thế giới vào những năm 1980 có tốc độ tăng trưởng trung bình
là 9-10%/năm. Mặc dù vậy, chưa có hình thức hợp tác kinh tế thương mại có
hiệu quả trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương để thúc đẩy sự phát triển kinh
tế.
- Chính trị: Sự điều chỉnh chiến lược của các quốc gia lớn vào cuối những
năm 80 khi chiến tranh lạnh chấm dứt, đặc biệt là sự hội tụ về lợi ích kinh tế
cũng như chính trị giữa những nước lớn dẫn tới việc hình thành một cơ cấu kinh
tế thương mại trong khu vực.
- Các nước đang phát triển (ASEAN) cũng muốn tăng cường tiếng nói
trong khu vực để thúc đẩy phát triển kinh tế, nhưng không muốn làm lu
mờ những cơ chế hợp tác chính trị sẵn có.
Như vậy, chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển của nền kinh tế ở
khu vực châu Á - Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng
đầu tồn tại và phát triển, các nền kinh tế thành viên APEC đã đóng góp gần 70%
cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn cầu.APEC cũng có các quốc gia
có chủ quyền, cũng có các thành viên là các thực thể kinh tế như: Hongkong,
4
Đài Bắc - Trung Quốc, nên người ta chỉ gọi là các nền kinh tế thành viên, chứ
không gọi là các nước thành viên APEC.
1.3. Quá trình kết nạp thành viên của APEC.
Hiện nay, APEC có 21 thành viên chiếm khoảng 52% diện tích lãnh thổ,
59% dân số, 70% nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới và đóng góp khoảng
55% GDP toàn cầu và gần 43 % thương mại thế giới. Hiện tại APEC đã quyết
định ngừng việc kết nạp thành viên mới để chấn chỉnh tổ chức.
Khi mới bắt đầu thành lập năm 1989, APEC có 12 sáng lập viên là
Australia, Brunei Darussalam, Canada, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, New
Zealand, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Thái Lan và Mỹ. Tháng 11/1991
APEC kết nạp thêm 3 thành viên nữa là Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan.
Mexico và Papua New Guinea gia nhập 11/1993 và Chi Lê tham gia tháng
11/1994. Tháng 11/1998, Peru, Nga và Việt Nam trở thành thành viên chính thức
của APEC.
2. Các giai đoạn phát triển của APEC.
Từ khi thành lập (1989) đến nay, APEC luôn luôn củng cố và phát triển về
nội dung hoạt động của mình, có thể chia làm các giai đoạn sau:
2.1. Giai đoạn đầu (1989 - 1993).
APEC tập trung xây dựng khuôn khổ ban đầu cho hợp tác kinh tế, xác định
dần các lĩnh vực cần đưa ra hợp tác ở cấp khu vực và thành lập các uỷ ban, nhóm
chuyên gia, nhóm công tác. Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ nhất ở Canberra
1989 mới chỉ đưa ra 2 lĩnh vực hoạt động, Hội nghị Bộ trưởng lần thứ hai ở
Singapore 1990 đã đưa ra 7 lĩnh vực hợp tác, Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ
ba 1991 tại Seoul (Hàn Quốc) đã bổ sung thêm 3 lĩnh vực hoạt động. Tại hội
nghị này, tự do hoá mậu dịch và thương mại là một nội dung quan trọng, đề xuất
việc tham khảo nguyên tắc của GATT để thúc đẩy tự do hoá, đồng thời cũng
bàn thảo về các biện pháp ngắn và dài hạn để sớm phục hồi và phát triển các nền
kinh tế trong khu vực.
2.3. Giai đoạn từ 1998 đến nay.
Các hoạt động của APEC chuyển hướng sang các hoạt động thuận lợi hoá
thương mại và hợp tác kinh tế - kỹ thuật. Bên cạnh đó, cũng chú trọng tới một số
nội dung khác tác động sâu sắc tới môi trường kinh tế, an ninh trong khu vực,
6
tăng cường các hoạt động cải thiện hình ảnh của Diễn đàn trên trường quốc tế
cũng như tăng cường sự hiểu biết và hỗ trợ của các tầng lớp xã hội.
Hội nghị cấp cao lần thứ 7 tại Ocklân (Niu Zealand) tháng 9 năm 1999 với
chủ đề chính: “Thách thức Ocklân” tán thành bắt đầu vòng đàm phán mới của
WTO và thông qua các nguyên tắc chính sách cạnh tranh, chuẩn bị xây dựng các
tiêu chuẩn về Ngân hàng.
Hội nghị cấp cao lần thứ 8 tại Bandaxeri Bêgaoan (Brunây) tháng 11 năm
2000 với chủ đề chính: “Mang lại lợi ích cho cộng đồng” nhấn mạnh ba trọng
tâm là phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghệ thông tin.
Hội nghị cấp cao lần thứ 9 tại Thượng Hải (Trung Quốc) tháng 10 năm
2001 xác định chủ đề chính: “`Đối phó với những thách thức mới trong thế kỷ
mới” thông qua “Thoả thuận Thượng Hải”tập trung vào việc mở rộng viễn cảnh
APEC. Đưa ra tuyên bố chống khủng bố đầu tiên của các nhà lãnh đạo APEC.
Hội nghị cấp cao lần thứ 10 tại Lôtcabôt (Mêxico) tháng 10 năm 2002 với
chủ đề chính: “Thực hiện tầm nhìn APEC về thương mại, đầu tư mở và tự do”.
Tuyên bố chống khủng bố thứ hai được đưa ra cùng với việc thông qua sáng kiến
về an ninh thương mại trong khu vực.
Hội nghị cấp cao lần thứ 11 tại Băng Kốc (Thái Lan) tháng 10 năm 2003
xác định chủ đề chính: “Thế giới của những khác biệt” “Đối tác vì tương lai”
thông qua tiêu chuẩn minh bạch hoá trong tám lĩnh vực cụ thể gồm: dịch vụ, đầu
tư, luật và chính sách cạnh tranh, tiêu chuẩn và hợp chuẩn, sở hữu trí tuệ, thủ tục
hải quan, tiếp cận thị trường, đi lại của doanh nhân.
Hội nghị cấp cao lần thứ 12 tại Xantiago (Chilê) tháng 11/2004 chủ đề
3.1. Mục tiêu.
Năm 1989, các thành viên sáng lập APEC xây dựng 3 mục tiêu:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Phát triển và củng cố hệ thống thương mại đa phương.
- Tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau và thịnh vượng của các nền kinh tế
thành viên.
Tầm nhìn APEC được xác định rõ hơn vào năm 1994, khi các nhà lãnh đạo
APEC cam kết thực hiện “Các mục tiêu Bogor” về thương mại mở và tự do
trong khu vực. Mục tiêu dài hạn được nêu rõ trong tuyên bố Bogor 1994
“Thương mại và đầu tư tự do và thông thoáng trong khu vực châu Á - Thái Bình
8
Dương vào năm 2010 đối với thành viên APEC phát triển và 2020 đối với thành
viên APEC đang phát triển” được thực hiện dựa trên 3 trụ cột: Tự do hoá thương
mại và đầu tư, thuận lợi hoá kinh doanh, hợp tác kinh tế và kỹ thuật.
* Tự do hoá thương mại và đầu tư
Tập trung vào việc mở cửa thị trường, cắt giảm và dần dần dẫn đến loại bỏ
hoàn toàn các rào cản thuế và phi thuế đối với thương mại, đầu tư. Các nền kinh
tế thành viên cùng nhau tiến hành thực hiện các IAP, theo đó các quốc gia sẽ đưa
ra các cam kết một cách tự nguyện về tự do hoá thuế quan, phi thuế quan, dịch
vụ và đầu tư phù hợp với nguyên tắc của WTO, giúp các nền kinh tế thành viên
củng cố nền kinh tế của mình, thông qua việc chia sẻ ý kiến và mang lại nhiều lợi
ích cho hoạt động hợp tác kinh tế trong APEC.
* Thuận lợi hoá kinh doanh
Một trong những mục tiêu chính của APEC chính là việc tạo thuận lợi tối
đa cho sự phát triển thương mại của các nền kinh tế thành viên. Kể từ khi thành
lập APEC luôn nỗ lực, tạo thuận lợi cho thương mại bằng cách đặt ra các mục
tiêu cụ thể, nhất là có chương trình hỗ trợ xây dựng năng lực cho các nền kinh tế
đang phát triển. Thuận lợi hoá kinh doanh tập trung vào việc giảm chi phí giao
dịch trong kinh doanh, tăng cường trao đổi thông tin và tự do thương mại, làm
cho thị trường hoạt động có hiệu quả hơn.
trong chương trình tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại và đầu tư:
- Nguyên tắc toàn diện (Comprehensiveness): Thực hiện tự do hóa và thuận
lợi hóa toàn diện ở tất cả các lĩnh vực, nhằm tháo gỡ những cản trở trong quá
trình thực hiện mục tiêu lâu dài của APEC nêu trong tuyên bố Bogor năm 1994.
- Nguyên tắc phù hợp với GATT/WTO (GATT/WTO Consistency):
Là một Diễn đàn kinh tế mở, các biện pháp và chương trình hành động áp
dụng thực hiện mục tiêu tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư phải
phù hợp với quy tắc, luật lệ, thoả thuận trong khuôn khổ WTO.
- Nguyên tắc đảm bảo mối tương đồng (Comparability):
Các nền kinh tế thành viên phải đảm bảo tính tương đồng trong việc thực
hiện tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại và đầu tư, trên cơ sở xem xét thích đáng
mức độ tự do hóa và thuận lợi hoá đã đạt được ở mỗi thành viên trong tiến trình này.
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử (Non - Discrimination):
10
Các thành viên sẽ áp dụng hoặc cố gắng áp dụng nguyên tắc không phân
biệt đối xử giữa các thành viên và các quốc gia không phải là thành viên. Kết quả
thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư không những áp dụng
cho tất cả các nước thành viên mà còn áp dụng cho các quốc gia không phải là
thành viên.
- Nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch (Transparency):
Mọi chính sách, pháp luật hiện hành tại các thành viên phải được công khai
minh bạch hoá, phải đảm bảo tính trong sáng của các chính sách, pháp luật này.
- Nguyên tắc lấy mức bảo hộ hiện tại làm mốc (Standstill):
Chỉ tiến hành giảm không tăng thêm các biện pháp bảo hộ. Theo nguyên tắc
này, các thành viên luôn phải tuân thủ mức bảo hộ đã được thoả thuận hiện tại,
không tăng các biện pháp bảo hộ, đảm bảo sự công bằng trong đối xử giữa các
thành viên.
- Nguyên tắc vận dụng linh hoạt (Flexibility):
Trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tiến trình tự do hoá thương
mại và đầu tư, không thể áp dụng một cách cứng nhắc. Do trình độ phát triển
Đặc biệt là 4 lĩnh vực: viễn thông, giao thông vận tải, năng lượng, dịch vụ.
+ Đầu tư: thực hiện tự do hoá chế độ đầu tư dành cho nhau ưu đãi tối huệ
quốc (MFN) và đãi ngộ quốc gia, tạo thuận lợi cho đầu tư.
+ Thống nhất tiêu chuẩn hoá và đánh giá sự phù hợp.
+ Thống nhất thủ tục Hải quan.
+ Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
+ Chính sách cạnh tranh công bằng.
+ Công khai hoá kế hoạch thu chi của Chính phủ.
+ Nới lỏng cơ chế quản lý thương mại quốc tế.
+ Xây dựng quy chế xuất xứ hàng hoá xuất nhập khẩu.
+ Ban hành cơ chế hoà giải tranh chấp giữa các nước APEC.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh thương mại cuả các nước APEC.
+ Thực hiện những kết quả cuả vòng đàm phán Uruguay (vòng đàm phán
WTO).
+ Thu thập và xử lý thông tin của các nước.
12
Trong các Kế hoạch hành động riêng của mỗi thành viên cần nêu rõ thực
trạng, những rào cản trong từng lĩnh vực, các biện pháp để tự do hoá thương mại
và đầu tư, cùng lộ trình thực hiện.
• Kế hoạch hành động tập thể (CAPs)
Nội dung của kế hoạch này là các nước thành viên thuộc APEC cùng tiến
hành những biện pháp nhằm loại bỏ những trở ngại cho quá trình tự do hóa
thương mại và đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh giảm chi
phí khi hoạt động trên thị trường APEC. Có nhiều biện pháp cụ thể để thực hiện
kế hoạch hành động này. Những biện pháp sau đây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động thương mại và đầu tư.
Thực hiện sự thống nhất và vi tính hóa hệ thống hải quan của các nước
APEC.
Tăng cường áp dụng chế độ tối huệ quốc MFN, GSP khi buôn bán giữa các
nước hội viên.
tư vấn kinh tế APEC và được xem xét bởi các lãnh đạo kinh tế của APEC.
Những hội nghị này được tổ chức thường niên nhằm hoàn thiện cơ cấu chính
sách và pháp luật của APEC.
• Hội nghị các lãnh đạo kinh tế APEC: Được tổ chức hàng năm do mỗi
thành viên của APEC luân phiên đăng cai tổ chức. Các tuyên bố từ những hội
nghị này sẽ góp phần hoàn thiện kế hoạch chính sách cho APEC.
• Hội nghị Bộ trưởng APEC: Được tổ chức hàng năm trước Hội nghị các
nhà lãnh đạo kinh tế. Các Bộ trưởng xem xét những hoạt động trong năm và đưa
ra những đề nghị cho các lãnh đạo kinh tế xem xét.
14
• Hội nghị Bộ trưởng cấp khu vực : Được tổ chức hàng năm tập trung vào
nhiều lĩnh vực như: giáo dục, năng lượng, môi trường và sự phát triển bền vững,
tài chính, hợp tác khoa học kỹ thuật khu vực, phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ, công nghiệp truyền thống và công nghệ thông tin, du lịch, thương mại, vận
tải và vấn đề bình đẳng giới. Những đề xuất từ những hội nghị này đều được các
lãnh đạo kinh tế APEC xem xét.
• Hội đồng tư vấn kinh tế APEC: đề xuất cho các lãnh đạo kinh tế APEC
những vấn đề của APEC và những dự đoán về tình hình kinh tế thế giới qua một
bản báo cáo chính thức. Ngoài ra, trong các báo cáo này còn có những đề xuất để
cải thiện tình hình thương mại và đầu tư khu vực. Hội đồng tư vấn họp 4 năm
một lần và sẽ cử đại diện để tham gia Hội nghị Bộ trưởng.
4.2. Cấp làm việc.
• Ủy ban thương mại và đầu tư:
Ủy ban thương mại và đầu tư ( CTI ) được thành lập năm 1993 trên cơ sở
tuyên bố về “ Khuôn khổ về hợp tác và đầu tư ” của Hội nghị Bộ trưởng. Ủy ban
thương mại và đầu tư có nhiệm vụ thúc đẩy hợp tác kinh tế về tự do hóa thương
mại và tạo môi trường đầu tư cởi mở hơn giữa các nền kinh tế thành viên
• Uỷ ban SOM về hợp tác kinh tế -kỹ thuật ( ESC )
Được thành lập năm 1998 nhằm hỗ trợ Hội nghị quan chức cao cấp ( SOM )
trong các hoạt động hỗ trợ hợp tác kinh tế và kỹ thuật ( ECOTECH ) và triển
Quản lý họp mỗi năm hai lần thường vào cuối tháng ba và tháng bảy.
• Các Nhóm công tác .
Các Nhóm công tác có chức năng thực hiện nhiệm vụ do các nhà Lãnh đạo,
Bộ trưởng và quan chức cao cấp giao cho. Cho tới nay trong APEC đã lập ra 11
Nhóm công tác phụ trách các lĩnh vực sau: Hợp tác Kỹ thuật Nông nghiệp, Năng
lượng, Nghề cá, Phát triển Nguồn nhân lực, Khoa học và công nghệ, Bảo vệ tài
nguyên biển, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Thông tin và Viễn thông, Du lịch, Xúc
tiến thương mại, Vận tải. Phần lớn hoạt động của các Nhóm là khảo sát tiềm
năng phát triển và thúc đẩy sự tăng trưởng trong các lĩnh vực do từng Nhóm phụ
trách. Thông qua các hoạt động này, các thành viên APEC xây dựng những mối
liên hệ thực sự giữa các đại diện chính giới, giới doanh nghiệp và học giả.
Hoạt động của các Uỷ ban chuyên đề, các Nhóm đặc trách của SOM và các
Nhóm công tác là nền tảng chủ yếu của diễn đàn APEC. Thực tế, đây là những
16
diễn đàn nhỏ để các thành viên thảo luận, tư vấn chính sách và hợp tác trên các
lĩnh vực cụ thể. Những nghiên cứu của các Nhóm đặc trách, các chương trình
hợp tác do các Nhóm công tác soạn thảo là cơ sở chủ yếu để Hội nghị Bộ trưởng
đưa ra các quyết định liên quan đến phương hướng hoạt động của APEC.
• Các Nhóm đặc trách của SOM .
Bên cạnh các Nhóm công tác, Hội nghị Quan chức Cao cấp (SOM) đã lập
ra ba Nhóm đặc trách nhằm xác định các vấn đề và đưa ra khuyến nghị
về những lĩnh vực quan trọng cần xem xét trong khuôn khổ hợp tác của APEC.
Hiện đang có ba Nhóm đặc trách của SOM là: Nhóm đặc trách về Mạng các
điểm liên hệ về giới (Gender Focal-Points Network), Nhóm chỉ đạo về thương
mại điện tử (Electronic Commerce Steering Group) và Nhóm đặc trách về Chống
khủng bố (Counter-Terroism Task Force).
• Ban Thư ký APEC.
Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ tư ở Băng Cốc năm 1992 nhận thấy cần
phải có một cơ chế giúp việc hiệu quả để hỗ trợ và phối hợp các hoạt động trong
APEC nhằm tăng cường vai trò và hiệu quả của APEC trong xúc tiến hợp tác
VÀ CÁC NƯỚC APEC
1. Sự cần thiết hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và APEC.
1.1. Nhu cầu phá thế bị bao vây cấm vận kinh tế, cô lập về chính trị.
APEC ra đời vào thời điểm quan hệ giữa Việt Nam với các nước tham gia
sáng lập diễn biến phức tạp, phần lớn các thành viên APEC đều là nước thân Mỹ,
đồng minh với Mỹ và đã ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh với Việt Nam.
Trong giai đoạn từ 1989 – 1995, thực hiện chủ trương của Đảng về mở rộng
quan hệ đối ngoại với tất cả các nước, hội nhập khu vực và quốc tế, hoạt động
đối ngoại Việt Nam tập trung giải quyết các trở ngại, mặc cảm trong quan hệ với
các nước láng giềng, khu vực, trong đó lưu ý đặc biệt tới các nước lớn, có quan
hệ phức tạp với Việt Nam trong lịch sử như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, các
nước ASEAN, nhất là đối với Mỹ. Mỹ là một nước lớn thành viên của APEC,
nên trong quan hệ này phải làm cho phía Mỹ nhận rõ việc bình thường hoá quan
hệ Việt - Mỹ là phù hợp với lợi ích của hai nước, khu vực và lợi ích quốc tế. Và
ngày 03/02/1994, Chính phủ Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.
Trong phát triển kinh tế đối ngoại, hai vấn đề kinh tế và chính trị quốc tế có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Thông thường, mối quan hệ chính trị - ngoại
giao mở đường và thúc đẩy mối quan hệ thương mại - kinh tế phát triển. Ngược
lại, mối quan hệ thương mại - kinh tế phát triển sẽ có tác dụng củng cố, tăng
cường mối quan hệ chính trị quốc tế. Vì thế, cần phải xử lý tốt mối quan hệ giữa
kinh tế với chính trị quốc tế, trên cơ sở đó xác định sự cân bằng lợi ích giữa các
bên theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; thấy được hoạt động kinh tế đối
ngoại phụ thuộc vào yếu tố chính trị quốc tế, vào lợi ích của các nước đối tác và
chính sách đối ngoại phải phù hợp với xu thế của thời đại, hội nhập được với các
quốc gia thay vì trở thành đối tượng chống đối của các quốc gia.
Vấn đề quyết định nhất đối với sự phát triển của Việt Nam trong năm sắp
tới đó là phải có tư duy mới về phát triển, nhận diện đúng các chiều hướng thay
đổi của quốc tế và khu vực, hành động quyết đoán theo nguyên tắc hợp thông lệ
quốc tế cũng như đặc thù phát triển của đất nước.
19
20
Hiện nay, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia, cho nên
để tránh tụt hậu về kinh tế, hội nhập khu vực và quốc tế là những chính sách
ngoại giao chủ chốt của mỗi quốc gia. “Mở cửa” nền kinh tế ra bên ngoài, nhưng
phải đảm bảo sự ổn định chính trị, an ninh quốc gia. Nhận thức rõ những cơ hội
và thách thức của vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế đối với các nước đang phát
triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng, xuất phát từ mục tiêu hội nhập
kinh tế quốc tế là để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo
định hướng XHCN, Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) khẳng định chủ trương
“Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” và nghị quyết 07/NQ-TW ngày 27/11/2001
của Bộ Chính trị đã khẳng định tính tất yếu của toàn cầu hoá, chỉ rõ khả năng tận
dụng những cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, để tránh khỏi nguy cơ
tụt hậu, đổi mới phương châm đối ngoại “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin
cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập
và phát triển”.
Đại hội Đảng lần thứ X vẫn tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại của Đại
hội IX và có bổ sung thêm: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”,
đồng thời xác định rõ lộ trình, quy mô, bước đi thích hợp, với tinh thần mạnh mẽ,
toàn diện và sâu rộng, thật sự vững chắc.
Việt Nam đã tham gia tích cực vào Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) ký
Hiệp định khung với Liên minh châu Âu, khai thông quan hệ với các tổ chức tài
chính tiền tệ quốc tế, để tranh thủ các điều kiên thuận lợi, nắm bắt được thông
tin, cập nhật đầy đủ chiều hướng phát triển của thế giới và điều chỉnh chính sách
trong nước.
Tham gia APEC, Việt Nam có cơ hội đối thoại chính sách với các nền kinh
tế phát triển hơn, tận dụng cơ hội to lớn này để tham gia vào chuỗi giá trị khu
vực và mạng sản xuất toàn cầu, để thúc đẩy khả năng hội nhập thực tế từ bên
trong đất nước, nâng cao năng lực và hiệu quả cạnh tranh trong khu vực và trên
thế giới theo cách tham gia tích cực vào hệ thống phân công lao động khu vực,
không đối đầu và “phối hợp” hiệu quả hơn với các nước lớn, các nước phát triển
chủ động đưa ra các cam kết cao hơn, nhằm thúc đẩy việc sớm khởi động lại
vòng đàm phán. Tuyên bố cũng chúc mừng Việt Nam gia nhập WTO, coi đây là
một nỗ lực thúc đẩy vòng Doha.
22
- Hội nghị đã thông qua báo cáo về các biện pháp cải cách APEC nhằm làm
cho APEC ngày càng có sức sống mạnh mẽ, năng động và hiệu quả hơn. Nhiều
thành viên đánh giá “Năm APEC 2006 là năm cải cách APEC”.
- Hội nghị cấp cao và Hội nghị Bộ trưởng đã thông qua 6 biện pháp mẫu
của các hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực chất lượng cao, hai
hướng dẫn mẫu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đánh gía kế hoạch hành động
thuận lợi hóa thương mại về giảm chi phí giao dịch thương mại 5% (TFAP) giai
đoạn 1 (2001-2006) và khung kế hoạch TFAP giai đoạn 2 nhằm giảm tiếp 5%
giao dịch thương mại (2006- 2010).
- Khẳng định quyết tâm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực an ninh con người,
chống khủng bố, an ninh năng lượng, cùng nhau ứng phó với những thách thức
chung như thiên tai, dịch bệnh, nạn tham nhũng
- Thông qua kết quả năm Hội nghị Bộ trưởng chuyên ngành được tổ chức
trong năm 2006 với nhiều sáng kiến của Việt Nam, đó là đóng góp lớn, tích cực
của Việt Nam tại một diễn đàn lớn.
Một thành công nữa trong năm APEC là Hội nghị các Tổng giám đốc với số
đại biểu tham dự đông nhất là 1500 đại biểu, trong đó có khoảng 750 đại biểu
nước ngoài và số nguyên thủ phát biểu đông nhất (10 nhà lãnh đạo) được đánh
giá là “Hội nghị thành công nhất kể từ khi bắt đầu được tổ chức tại Philipin năm
1996”. Trong khuôn khổ của Hội nghị này, Việt Nam cũng tổ chức rất thành
công diễn đàn xúc tiến thương mại và đầu tư với chủ đề “Những cơ hội kinh
doanh khi Việt Nam trở thành thành viên WTO”. Bộ Kế hoạch và đầu tư đã chủ
trì, tổ chức tốt diễn đàn đầu tư APEC trong hai ngày 15 và 16 tháng 11 năm 2006
tại Hà Nội
Bên cạnh những kết quả đạt được trong khuôn khổ hợp tác đa phương
APEC, Việt Nam cũng đạt được nhiều thoả thuận cực kỳ quan trọng cả về chính
quốc tế tài trợ cho Việt Nam. Giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nền
kinh tế thành viên APEC cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của Việt Nam, khoảng 60% giá trị xuất khẩu và 80% giá trị nhập
khẩu. 9 nước và vùng lãnh thổ có kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD vào Việt
Nam đều là thành viên APEC. Riêng lượng nhập khẩu từ 9 nền kinh tế này đã
chiếm hơn 90% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.
24
Trong tổng số gần 3 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2004
thì APEC đã có trên 2,2 triệu lượt khách, chiếm 75,7%. 10/14 nước, vùng lãnh
thổ có lượng khách du lịch tới Việt Nam đông nhất đều là thành viên APEC như
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan
Đối với Việt Nam, APEC thực sự là diễn đàn có ý nghĩa quan trọng, bởi ở
đó hội tụ hầu hết các đối tác thương mại và kinh tế hàng đầu thế giới. Trong
khuôn khổ APEC, ngoài hợp tác đa phương, mối quan hệ hợp tác song phương
cũng có vai trò đặc biệt quan trọng. Để góp phần minh chứng cho nhận định này,
cần đề cập tới mối quan hệ hợp tác thượng mại và đầu tư cùng các lĩnh vực khác
với một số nền kinh tế lớn của APEC.
2.1. Hợp tác kinh tế -thương mại giữa Việt Nam và các nước APEC.
2.1.1. Hợp tác thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ.
* Khái quát
Ngày 03/02/1994 Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với
Việt Nam và hai bên mở cửa cơ quan đại diện của nhau. Ngày 11/7/1995 Tổng
thống Hoa Kỳ tuyên bố chính thức bình thường hoá quan hệ với Việt Nam.
Đây là bước ngoặt quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách của Mỹ đối
với Việt Nam, và là bước ngoặt phát triển trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới và có vai trò quan trọng cũng như ảnh
hưởng lớn tới toàn bộ nền kinh tế thế giới. Việt Nam coi quan hệ với Hoa Kỳ là
nhân tố quan trọng trong chính sách đối ngoại của mình, đặc biệt là trên lĩnh vực
hợp tác kinh tế - thương mại.
* Hợp tác kinh tế - thương mại