Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
TÊN ĐỀ TÀI VÀ THÀNH VIÊN NHÓM
Bài tập môn Quyết định đầu tư
QUYẾT ĐỊNH TÀI TRỢ DÀI HẠN
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN HÒA NHÂN
Nhóm số 10 – Lớp 2 Tài chính Ngân hàng – Cao học K26
Thành viên nhóm: 1. Ngô Đức Chiến
2. Trần Ngọc Minh Trang
3. Nguyễn Bạch Hồng
4. Hồ Thị Tuyết
5. Trần Thanh Phương
6. Lê Thị Phương Thảo
7. Nguyễn Hồng Thái
Mục lục
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 1
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
Lời mở đầu 03
Phần 1: Nhu cầu tài trợ dài hạn 05
Phần 2: Nguồn vốn tài trợ dài hạn 07
1. Vay dài hạn các Tồ chức tín dụng 07
2. Nợ dài hạn huy động qua thị ttuo7ng2 vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu
công ty 09
3. Cổ phiếu thường 12
4. Cổ phiếu ưu đãi 14
5. Tìn dụng thuê mua 16
Phần 3: Quyết định lựa chọn nguồn vốn dài hạn 24
1. Lựa chọn nguồn vốn dựa vào chi phí sử dụng vốn 24
2. Lựa chọn nguồn vốn dựa vào ưu, nhược điểm nguồn vốn 28
3. Lựa chọn nguồn vốn dựa vào ngân lưu kỳ vọng của công ty 28
Phần 4: Thực trạng nguồn vốn dài hạn tại Việt Nam 30
động đầu tư dài hạn nhằm thay thế các tài sản cố định, khi đã hư hỏng hoặc lạc hậu. Bên
cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng, mở rộng kinh doanh, các doanh nghiệp
cần phải bổ sung vốn đầu tư dài hạn vào các tài sản cố định và tài sản lưu động. Nói
chung, chỉ khi nào nguồn vốn huy động bên trong doanh nghiệp còn gọi là nguồn vốn
huy động nội bộ, nguồn tự tài trợ, không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn thì các doanh
nghiệp mới phải huy động đến các nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 3
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
*****
Phần 1: Nhu cầu tài trợ dài hạn
Nguồn vốn dài hạn của công ty được dùng để đầu tư vào những nhu cầu vốn dài hạn
cần thiết. Có thể nói, nhu cầu vốn dài hạn của công ty trước hết xuất phát từ nhu cầu đầu
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 4
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
tư vốn vào tài sản cố định của công ty, hoặc đầu tư vào các dự án đầu tư, kế đến là nhu
cầu đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên.
Bên cạnh quá trình hoạt động sản xuất hoạt động kinh doanh của mình, công ty thường
phát sinh nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, thay thế tài sản cố định, cải tiến
quy trình sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc giảm chi phí…
Nói chung công ty có nhu cầu đầu tư vào một dự án đầu tư.
Chúng ta nên hiểu rằng, dự án ở đây được hiểu theo hiểu rộng là bất cứ kế hoạch dài
hạn nào cần bỏ vốn ra và thu hồi về với thời hạn lớn hơn một năm, chứ không phải chỉ có
giới hạn trong dự án đầu tư vào tài sản cố định. Tuy nhiên, để đơn giản chúng ta thường
xem xét dự án đầu tư tài sản cố định như là điển hình về nhu cầu vốn đầu tư.
Xét về mặt nguyên tắc, công ty có thể sử dụng nguồn vốn dài hạn, bao gồm vốn chủ sở
hữu và nợ dài hạn để tài trợ cho những nhu cầu vốn dài hạn của công ty, nhưng do nguồn
vốn chủ sở hữu có giới hạn nên thường công ty phải sử dụng đến nguồn vốn vay dài hạn.
Công ty có thể vay dài hạn thông qua các hình thức như vay ngân hàng hoặc thông qua
hình thức phát hành trái phiếu huy động vốn trên thị trường vốn. Do đó, đứng trên góc độ
công ty, vay dài hạn không phải là nguồn vốn duy nhất có thể huy động được để tài trợ
một cam kết của công ty đi vay sẽ trả lại vốn gốc vào một thời điểm nhất định. Nợ dài
hạn có thể chia thành nợ trung hạn và nợ dài hạn nếu căn cứ vào thời hạn. Căn cứ vào
nhu cầu vốn dài hạn của công ty, vào thực tiễn của thị trường vốn, công ty triển khai phát
hành trái phiếu để huy động vốn trên thị trường.
*****
Phần 2: Nguồn vốn tài trợ dài hạn
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 6
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
1. Vay dài hạn các tổ chức tín dụng
a. Khái niệm
Vay dài hạn các tổ chức tín dụng là hình thức doanh nghiệp huy động vốn bằng cách đi
vay các tổ chức tín dụng dưới dạng một hợp đồng tín dụng, và doanh nghiệp phải hoàn
trả khoản tiền vay theo lịch trình đã thoả thuận. Thông thường đây là vay vốn có thời
gian trên một năm. Trong thực tế, người ta chia thành vay vốn trung hạn (từ trên 1 năm
đến 5 năm), vay vốn dài hạn (trên 5 năm).
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, do việc sử dụng vay nợ ngân hàng có thể mang lại
lợi ích cho chủ sở hữu doanh nghiệp nên nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vay nợ ngân
hàng như một nguồn vốn thường xuyên của mình.
b. Đặc điểm
- Sử dụng các khoản vay dài hạn thường được trả vào những thời hạn định kỳ với những
khoản tiền bằng nhau. Đó là sự hoàn trả dần khoản tiền vay, trong đó bao gồm cả gốc và
lãi trong suốt thời gian diễn ra giao dịch.
- Lãi suất của những khoản vay dài hạn được áp dụng theo hai cách tuỳ theo sự thoả
thuận giữa người vay và người cho vay, có thể là lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi:
+ Lãi suất cố định được áp dụng khi người vay tiền muốn có một hợp đồng cố định và
không phải lo lắng trước sự biến động của thị trường. Lãi suất cố định được tính toán dựa
trên cơ sở mức độ rủi ro và thời gian đáo hạn, và thông thường nó được quy định cao hơn
so với lãi suất của trái phiếu doanh nghiệpcó thời gian đáo hạn và mức độ rủi ro tương tự.
+ Lãi suất thả nổi là lãi suất có thể thay đổi tuỳ thuộc vào những biến động của thị
trường. Lãi suất thả nổi được thiết lập dựa trên phần lãi suất ban đầu ổn định cộng với
- Làm gia tăng rủi ro tài chính và xấu đi hệ số nợ của công ty.
- Chịu sự kiểm soát của ngân hàng: Khi một doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thì phải
chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích vay vốn và tình hình sử dụng vốn.
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 8
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
2. Nợ dài hạn huy động qua thị trường vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu công
ty
a. Khái niệm
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
Trái phiếu có những yếu tổ đặc trưng sau:
- Mệnh giá: là giá trị danh nghĩa của trái phiếu, đại diện số tiền gốc được hoàn trả cho trái
chủ tại thời điểm đáo hạn.
- Lãi suất trái phiếu: là lãi suất danh nghĩa quy định mức lãi mà người sở hữu trái phiếu
được hưởng định kỳ.
- Thời hạn của trái phiếu.
Trái phiếu công ty là chứng chỉ vay vốn do công ty phát hành, thể hiện nghĩa vụ và sự
cam kết của Công ty thanh toán số lợi tức và tiền vay vào những thời điểm xác định cho
trái chủ.
b. Đặc điểm
- Người sở hữu trái phiếu là chủ nợ của doanh nghiệp: doanh nghiệp phát hành trái
phiếu là người đi vay, người mua trái phiếu doanh nghiệp chính là người cho doanh
nghiệp vay vốn, là chủ nợ của doanh nghiệp (hay còn gọi là trái chủ).
- Chủ sở hữu trái phiếu không có quyền tham gia quản lý và điều hành hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Trái chủ không có quyền ứng cử, bầu cử
vào Hội đồng quản trị, cũng như không được quyền bỏ phiếu, biểu quyết
- Trái phiếu có kỳ hạn nhất định: Trái phiếu có thời gian đáo hạn, khi đến hạn, doanh
nghiệp phát hành trái phiếu có trách nhiệm hoàn trả cho trái chủ toàn bộ số vốn gốc ban
đầu.
- Trái phiếu có lợi tức cố định: Nhìn chung lợi tức trái phiếu được xác định trước, không
loại trái phiếu phổ biến ở các doanh nghiệp. Khác với trái phiếu có bảo đảm, trái phiếu
không có bảo đảm là trái phiếu không có một tài sản cụ thể nào để đảm bảo cho khả năng
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 10
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
thanh toán của chúng, nhưng chúng vẫn được đảm bảo chắc chắn bằng thu nhập tương lai
và giá trị thanh lý của các tài sản của doanh nghiệp theo thứ tự ưu tiên của luật phá sản.
- Dựa vào tính chất của trái phiếu có thể chia ra trái phiếu thông thường, trái phiếu có
thể chuyển đổi, và trái phiếu có phiếu mua cổ phiếu.
- Dựa vào mức độ rủi ro tín dụng của trái phiếu doanh nghiệp người ta có thể chia trái
phiếu doanh nghiệp thành các loại khác nhau thông qua việc đánh giá hệ số tín nhiệm
d. Ưu điểm
- Lợi tức cố định xác định được trước; trong điều kiện doanh nghiệp làm ăn có lãi, thì
việc sử dụng trái phiếu để huy động thêm vốn vay sẽ nâng cao tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
sở hữu mà không phải chia sẻ quyền phân chia thu nhập cao cho trái chủ.
- Chi phí phát hành trái phiếu thấp hơn so với cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Do
trái phiếu hấp dẫn công chúng ở mức rủi ro thấp hơn cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
- Không bị phân chia quyền kiểm soát khi huy động thêm vốn;
- Giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn một cách linh hoạt, đảm bảo việc
sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả.
- Lợi tức trái phiếu được trừ vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập doanh
nghiệp, đem lại khoản lợi thuế và giảm chi phí sử dụng vốn vay.
e. Nhược điểm
- Buộc phải trả lợi tức cố định đúng hạn: Điều này có thể gây căng thẳng về mặt tài
chính và dễ dẫn tới nguy cơ rủi ro tài chính trong trường hợp doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp không ổn định.
- Phát hành trái phiếu là sử dụng nợ vay có kì hạn. Điều này buộc doanh nghiệp phải lo
việc hoàn trả tiền vay nợ gốc đúng hạn. Nếu doanh nghiệp có doanh thu và lợi nhuận dao
động thất thường, việc sử dụng trái phiếu để tài trợ tăng vốn dài hạn dễ đưa doanh nghiệp
tới nguy cơ mất khả năng thanh toán, dẫn đến bị phá sản.
- Làm tăng hệ số nợ của doanh nghiệp: Điều này có thể nâng cao doanh lợi vốn chủ sở
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 12
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
c. Các hình thức tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu thường
Việc phát hành thêm cổ phiếu mới nhằm huy động tăng vốn có thể thực hiện theo các
hình thức sau:
- Phát hành cổ phiếu mới với việc dành quyền ưu tiên mua cho các cổ đông hiện hành.
- Phát hành cổ phiếu mới bằng việc chào bán cổ phiếu cho người thứ 3, là những người có
quan hệ mật thiết với công ty như nhà cung cấp, khách hàng, nhà quản lý công ty…
- Phát hành rộng rãi cổ phiếu mới ra công chúng.
d. Ưu điểm
- Có thể không phân chia lợi nhuận nếu lỗ hoặc lãi ít
- Không phải hoàn trả gốc theo kỳ hạn cố định. Cổ phiếu thường không có thời gian đáo
hạn vốn, đồng thời công ty không có nghĩa vụ bắt buộc phải trả lợi tức cố định như sử
dụng vốn vay nên công ty không phải hoàn trả vốn gốc theo kỳ hạn cố định, điều này
giúp công ty chủ động sử dụng vốn linh hoạt trong kinh doanh không phải lo “gánh
nặng” nợ nần, giảm bớt nguy cơ phải tổ chức lại hoặc phá sản công ty.
- Tăng vốn chủ sở hữu làm hệ số nợ giảm, tăng thêm khả năng vay nợ và tăng mức độ
tín nhiệm, giảm rủi ro tài chính.
- Trong một số trường hợp, chẳng hạn khi công ty làm ăn phát đạt, lợi nhuận cao, cổ
phiếu thường dễ bán hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu nên nhanh chóng hoàn
thành đợt phát hành huy động vốn.
e. Nhược điểm
- Phân chia quyền bỏ phiếu và kiểm soát công ty cho những cổ đông mới; gây khó khăn
cho việc quản lý và điều hành kinh doanh của công ty .
- Chia sẻ quyền phân phối lợi nhuận cho cổ đông mới; gây bất lợi cho các cổ đông cũ
khi công ty có triển vọng kinh doanh tốt trong tương lai.
- Lợi tức cổ phần thường không được trừ ra khi xác định thu nhập chịu thuế, dẫn đến
chi phí sử dụng vốn cổ phiếu thường cao hơn nhiều so với chi phí sử dụng nợ vay.
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 13
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
tức ưu đãi cho năm trước và năm hiện tại trước khi trả cổ tức cho cổ đông thường.
Không được hưởng quyền bỏ phiếu: Cổ đông ưu đãi thường không có quyền bỏ phiếu
bầu hội đồng quản trị và quyết định các vấn đề quan trọng trong quản lý công ty.
* Cổ phiếu ưu đãi giống với cổ phiếu thường ở những điểm sau:
Cùng thể hiện quyền sở hữu đối với công ty;
Không có thời gian đáo hạn;
Lợi tức cổ phiếu ưu đãi không được giảm trừ tính thuế thu nhập;
Lợi tức cổ phiếu được trả hàng năm trong nhiều năm.
* Giống trái phiếu:
– Lợi tức ưu đãi được trả theo một mức cố định
– Về cơ bản thì cổ đông không có quyền biểu quyết.
– Có mệnh giá và lợi tức cổ phần là tỉ lệ phần trăm so với mệnh giá
– Lợi tức cổ phần được ưu tiên nhận trước cổ phần thường nhưng sau trái phiếu
c. Ưu điểm
Không phải trả vốn gốc
Không bắt buộc phải trả lợi tức cố định đúng hạn. Mặc dù phải trả lợi tức cố định, nhưng
công ty không có nghĩa vụ phải trả lợi tức đúng kì hạn, mà có thể hoãn trả sang kì sau.
Điều này cho phép công ty tránh khỏi nguy cơ phá sản khi hoạt động kinh doanh đang
gặp khó khăn, không có khả năng trả cổ tức đúng hạn.
Tránh được việc chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát hoạt động kinh doanh cho các cổ
đông ưu đãi
Không bị chia sẻ quyền phân chia lợi nhuận cao cho cổ đông ưu đãi. Vì công ty chỉ phải
trả cho cổ đông ưu đãi một khoản cổ tức cố định.
Không phải cầm cố, thế chấp tài sản, cũng như lập quỹ thanh toán vốn gốc (như với trái
phiếu) , dẫn đến việc sử dụng cổ phần ưu đãi có tính chất linh hoạt, mềm dẻo hơn so với
sử dụng trái phiếu dài hạn.
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 15
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
d. Nhược điểm
Cổ tức ưu đãi được trả sau thuế nên không được khấu trừ thuế do đó không giúp công ty
điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong một thời gian ngắn.
- Người thuê chỉ phải trả tiền thuê theo thoả thuận, người cho thuê phải chịu mọi chi
phí vận hành của tài sản như chi phí bảo trì, bảo hiểm, thuế tài sản cùng với mọi rủi
ro về hao mòn vô hình của tài sản.
Như vậy, hình thức thuê vận hành hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có
tính chất thời vụ, ví dụ một doanh nghiệp xây dựng khi nhận được một công trình lớn
yêu cầu phải có máy đóng cọc cỡ lớn và họ cũng chỉ cần sử dụng trong 9 tháng đến 1
năm nên họ không cần mua mà đi thuê máy tỏ ra phù hợp hơn.
Hình thức thuê vận hành được coi là một loại hợp đồng để chấp hành, tài sản đi
thuê không được phản ánh trong sổ sách kế toán của người thuê, số tiền thuê trả theo
hợp đồng được ghi như một chi phí bình thường khác.
* Thuê tài chính (Net Lease ).
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hay dài hạn theo hợp đồng.
Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết bị mà người thuê cần
và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua lại tài sản từ người cho thuê. Trong
nhiều trường hợp, có những doanh nghiệp bán tài sản của mình cho người thuê rồi thuê
lại.
Trong hợp đồng thuê tài chính thì thời hạn thuê tài sản của bên thuê phải chiếm phần
lớn đời sống hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê phải
đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
Thông thường trong một hợp đồng thuê tài chính được chia làm 3 phần
Phần 1: Thời hạn thuê chính thức (thuê cơ bản)
Đây là khoản thời gian quan trọng nhất của hợp đồng thuê. Trong thời gian này các
bên trong hợp đồng không được quyền huỷ bỏ hợp đồng chỉ trừ những trường hợp đặc
biệt mà tất cả các bên đều đồng ý. Hết thời hạn này hầu như
người cho thuê đã thu hồi
đủ số tiến đầu tư ban đầu.
Phần 2: Thời gian cho thuê tự chọn
Ưu điểm Nhược điểm
Là hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn
cho doanh nghiệp
Chi phí thuê mua thường cao hơn các hình
thức tài trợ vốn khác
Doanh nghiệp không bị đọng vốn trong tài
sản cố định
Doanh nghiệp không được hưởng khoản
tiền chiết khấu như khi mua tài sản bằng
tiền mặt
Có thể hưởng lợi từ tấm chắn thuế Nếu tài sản được chuyển trả cho người cho
thuê vào thời điểm kết thúc hợp đồng thì
doanh nghiệp không được hường giá trị còn
lại của tài sản
Giúp doanh nghiệp hiện đại hóa công nghệ
và phương thức sản xuất
Rủi ro công nghệ không tương thích
Không phát sinh nợ và giữ vị thế tài chính
của doanh nghiệp
Có thể chịu một số ràng buộc bởi một số
biện pháp đảm bảo cho tài sản thuê
e. Phân loại Thuê tài chính
- Thuê trực tiếp: Máy móc, thiết bị sẽ do chính doanh nghiệp lựa chọn và thỏa thuận với
công ty cho thuê để mua tài sản đúng hãng mình cần.
- Bán và thuê lại: Loại hình này xảy ra trong trường hợp một doanh nghiệp bán tài sản
của mình cho một công ty khác và ngay sau đó ký hợp đồng thuê lại chính tài sản này.
Thường bán và thuê lại áp dụng trong lĩnh vực bất động sản. Trong loại hình thuê tài sản
này có hai đặc điểm quan trọng:
+ Bên đi thuê sẽ nhận được một khoản tiền mặt cần thiết từ việc bán tài sản.
+ Bên đi thuê sẽ có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê định kỳ trong suốt thời gian thuê để
hữu là 5 triệu VND, tỷ lệ khấu hao đều trong 5 năm. Phí đăng ký hợp đồng tài sản là
0,04% giá trị tài sản, phí bảo hiểm là 0,5% trên giá trị còn lại của tài sản. Thuế suất
thuế thu nhập của người cho thuê là 10%.
- Tỷ lệ MARR của doanh nghiệp là: 10%.
Với những thông tin trên các trường hợp được tính toán như sau:
Doanh nghiệp bỏ vốn mua thiết bị:
- Khấu hao hàng năm = 540 : 6 = 90 triệu VND/năm
- Tiết kiệm do khấu hao đem lại = 90 x 22% = 19,8 triệu VND/năm
Nhóm 3 – Lớp 2 – TCNH – Cao học K26Trang 20
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
- Giả sử doanh nghiệp không mua tài sản này thì họ sẽ gửi tiền vào ngân hàng để thu lãi
nên tỷ lệ chiết khấu sau thuế là = 9% x (1-0,22) = 7,02%/năm.
- Thu nhập hàng năm sau thuế = 140 x (1-0,22) = 109,2 triệu VND/năm
Ta có:
Chỉ tiêu 0 1 2 3 4 5 6
Tiền mua thiết bị -540
Tiết kiệm do khấu hao 19,8 19,8 19,8 19,8 19,8 19,8
Thu nhập hàng năm 109,2 109,2
109,
2
109,2 109,2 109,2
Dòng tiền -540 129 129 129 129 129 129
Như vậy:
- NPV
1
= 74,50 triệu VND
- IRR
1
= 11,37%
- Giá trị còn lại tài sản:
Năm 0 1 2 3 4 5 6
Giá trị còn lại 540 432 324 216 108 0
- Phí bảo hiểm sau thuế = Giá trị còn lại x 0,5% x (1-22%)
Năm 0 1 2 3 4 5 6
Phí bảo hiểm 2,106
1,684
8
1,2636
0,842
4
0,4212 0
- Tỷ lệ chiết khấu dòng tiền = 10,5% x (1-22%) = 8,19%/năm
Ta có bảng tính sau:
Chỉ tiêu 0 1 2 3 4 5 6
Thu nhập sau thuế 109,2 109,2 109,2 109,2 109,2 109,2
Tiết kiệm do khấu hao 19,8 19,8 19,8 19,8 19,8
Mất khoản tiết kiệm khấu hao (9) (9) (9) (9) (9)
Tiền thuê sau thuế (109,2) (109,2) (109,2) (109,2) (109,2)
Chi phí đăng ký (0,216)
Phí bảo hiểm (sau thuế) (2,106) (1,6848) (1,2636) (0,8424) (0,4212) 0
Giá trị còn lại/Chuyển
nhượng
5
Dòng tiền
(2,3220
)
(6,0480) (1,8360) 9,9576 10,3788 15,8 109,2
Như vậy:
- NPV
đáo hạn (YTM) công ty trả cho nhà đầu tư.
Chi phí trả lãi vay được tính trừ vào lợi nhuận trước khi tính thuế. Vì vậy, chi phí sử
dụng nợ của công ty chính là chi phí sử dụng nợ đã điều chỉnh thuế.
Nếu lãi suất huy động nợ là Rd, Tc là thuế suất thuế thu nhập công ty thì chi phí sử dụng
nợ của công ty là : R
D
(1-T
C
)
Nếu công ty huy động nợ bằng trái phiếu suất huy động nợ chính là lãi suất trái phiếu khi
đáo hạn (YTM), được xác định vào công thức:
1
(1 ) (1 )
n
net
t n
t
D D
I M
P
R R
=
= +
+ +
∑
Trong đó P
net
là tiền thu được do bán trái phiếu, bằng giá bán trái phiếu trừ các chi phí
phát hành.
Đây là phương trình mũ có ẩn số lả R
của nhà đầu tư, cổ tức năm vừa qua và tốc độ tăng trưởng cổ tức.
Ngược lại, nếu biết giá cổ phiếu, cổ tức năm vừa qua và tốc độ tăng trưởng cổ tức, chúng
ta có thể vận dụng công thức này để suy luận ra tỷ suất sinh lời hay chi phí sử dụng vốn
chủ sở hữu. Từ công thức trên ta có thể suy ra R
e
xác định:
0
1
(1 )
e
D g
D
R g g
P P
+
= + = +
Tuy ưu điểm của phương pháp này đơn giản, dễ hiểu và dễ áp dụng nhưng không thể
áp dụng được đối với những công ty không chia cổ tức, cũng không phù hợp hợp khi phải
giả định một tỷ lệ tăng trưởng cổ tức cố định. Mặt khác, phương pháp này không thể hiện
một cách rỏ ràng mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro cũng như mức độ điều chỉnh rủi ro
đối với suất sinh lời yêu cầu của từng dự án của công ty.
Sử dụng mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)
Chúng ta có thể sử dụng mô hình capm để ước lượng chi phí huy động vốn cổ phần
thường .Mô hình định giá tài sản vốn cho rằng suất sinh lời kỳ vọng của một khoản đâu
tư phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:
- Lãi suất phi rủi ro: R
f
- Lãi suất đền bù rủi ro thị trường : R
m
- R