NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM - Pdf 64

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG
THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO
VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM.
1.1 Hoạt động cho vay của NHTM.
1.1.1 Những vấn đề chung về hoạt động cho vay của NHTM
Trải qua nhiều thế kỉ từ khi xuất hiện đến nay hệ thống các ngân hàng
thương mại với hàng ngàn chi nhánh ở khắp năm châu đã không ngừng thể hiện
tầm quan trọng không thể thiếu của mình đối với sự phát triển nền kinh tế thế giới
nói chung, cũng như đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia riêng biệt.
Chính hệ thống Ngân hàng với những phương tiện giao dịch hiện đại (Ngân hàng
điện tử) đang từng bước xoá bỏ sự ngăn cách về địa lý, không gian và thời gian
làm cho các lục địa xích lại gần nhau hơn.
Ngày nay sản phẩm của ngân hàng không còn chỉ đơn điệu với nhận tiền
gửi, đổi tiền, giữ tiền hộ…mà đã trở nên vô cùng phong phú đa dạng với thẻ ngân
hàng, chuyển tiền điện tử, bao thanh toán, phonebanking,….Tuy nhiên những dịch
vụ hiện đại này mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu tài sản của ngân
hàng, còn phần tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng vẫn là các dịch vụ
cho vay. Ở hầu hết các nước khả năng cho vay đối với khách hàng chính là lý do
cơ bản để ngân hàng được các cơ quan quản lý có thẩm quyền cấp phép hoạt động.
Mọi người mong muốn các ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng địa
phương thông qua các hoạt động cho vay đáp ứng nhu cầu tài chính của doanh
nghiệp và của người tiêu dùng với một mức lãi suất hợp lý. Do đó, cho vay được
coi là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng. Hoạt động cho vay cũng có
mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục
vụ, bởi cho vay thúc đẩy tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho
nền kinh tế. Không những vậy thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị
trường sẽ có thêm những thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng và
nhờ đó giúp họ có khả năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những nguồn
khác với chi phí thấp hơn. Đối với hầu hết các ngân hàng thương mại, đặc biệt ở
các nước đang phát triển thì thu nhập từ cho vay chiếm quá nửa tổng giá trị tổng
nguồn thu của ngân hàng.

- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay mà ngân hàng chỉ cho vay khi khách
hàng có tài sản đủ tiêu chuẩn để thế chấp, cầm cố, hay có sự bảo lãnh của bên thứ
ba.
Nếu dựa vào thời hạn cho vay thì bao gồm:
- Cho vay ngắn hạn;
- Cho vay trung hạn;
- Cho vay dài hạn
Ngoài những căn cứ trên thì còn nhiều cách phân chia nữa của hoạt động
cho vay. Trong đó đối với những ngân hàng phân chia hoạt động cho vay theo tiêu
thức thời gian thì phần cho vay trung và dài hạn thường chiếm tỷ trọng khá cao
trong cơ cấu cho vay
1.1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
* Khái niệm về cho vay trung và dài hạn của NHTM
Hiện nay giữa các nước khác nhau trên thế giới quan niệm về cho vay
trung và dài hạn không hoàn toàn giống nhau. Tại thị trường tài chính Việt Nam
cho vay trung và dài hạn vẫn được coi là các khoản cho vay có thời hạn trên 1
năm. Trong đó theo qui định cách đây vài năm thì cho vay trung hạn là các khoản
cho vay có thời hạn từ 1 đến 3 năm và cho vay dài hạn là những khoản cho vay có
thời hạn trên 3 năm. Nhưng hai năm trở lại đây NHNN Việt Nam đã qui định thời
hạn của khoản cho vay trung hạn là từ 1 đến 5 năm và dài hạn là trên 5 năm để
nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp vì thông thường tài sản hình
thành từ khoản vay trung dài hạn của doanh nghiệp có thời gian sử dụng tương đối
dài.
* Mục đích đi vay trung dài hạn của các doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp đi vay trung và dài hạn chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu
mua sắm tài sản cố định mới, phương tiện vận tải mới, đổi mới trang thiết bị công
nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng các dự án mới về nhà ở, các
xí nghiệp - nhà máy sản xuất, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng qui mô vừa và
lớn…..ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
* Lý do lựa chọn phương án vay trung và dài hạn của khách hàng:

Tài trợ theo dự án
Cho vay hợp vốn
Cho thuê tài chính
Forfaiting (một hình thức cấp tín dụng người bán trong các giao dịch mua
bán hàng trả chậm và không truy đòi đối với người bán mà thu tiền thẳng từ người
mua).
1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của
NHTM.
1.2.1 Khái niệm về thẩm định tài chính dự án.
Đối với bất kỳ một dự án nào khi được đưa vào xem xét để thực hiện thì
vấn đề được quan tâm hàng đầu là tính khả thi của dự án. Tính khả thi của dự án sẽ
được thể hiện thông qua sự phù hợp về mặt kỹ thuật, mặt kinh tế và tài chính của
dự án đối với nền kinh tế, với sự quản lý của nhà nước, với nhà đầu tư và với chủ
dự án. Trong đó tuỳ theo từng dự án được thiết kế phục vụ cho các mục đích khác
nhau (như dự án vì cộng đồng, dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, dự án
xây dựng nhà máy mới...) mà những tiêu chí về kinh tế, về kĩ thuật hay về tài chính
sẽ được đề cao. Tuy nhiên cho dù đề cao tiêu chí nào đi chăng nữa thì sự xem xét
thẩm định về mặt tài chính của một dự án trước khi đưa vào thực thi là không thể
coi nhẹ. Và cũng bao hàm những vấn đề cơ bản của công tác thẩm định, “Thẩm
định tài chính dự án chính là sự rà soát đánh giá một cách khoa học, toàn diện
mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư bao gồm doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế khác và các cá nhân”.
(Nguồn: sách thẩm định tài chính dự án – NXB tài chính – 2004)
Trong hoạt động cho vay của mình các ngân hàng thương mại chính là các
nhà tài trợ vốn. Ngoài những dự án ngân hàng cho vay theo chỉ định của chính phủ
nhằm phục vụ cộng đồng yếu tố lợi nhuận không được đặt nên hàng đầu, còn lại
hầu hết các dự án khác được ngân hàng cho vay đều nhằm mục đích tạo thu nhập
cho ngân hàng. Vì vậy việc thẩm định tài chính dự án là vô cùng quan trọng trong
hoạt động cho vay của ngân hàng.
1.2.2 Sự cần thiết của công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay

Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp và nhà đầu tư về ngắn hạn là tối đa
hoá vốn chủ sở hữu, còn về dài hạn chính là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Để đạt
được mục tiêu này thì vấn đề quan trọng đưa ra đối với doanh nghiệp là không
ngừng đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Và để đầu tư được người ta đưa ra câu hỏi
về vốn đầu tư. Dưới giác độ của dự án thì vốn đầu tư chính là tổng số tiền được chi
tiêu để hình thành nên các tài sản cố định, tài sản lưu động cần thiết và vốn dự
phòng.
Trong đó vốn đầu tư vào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng vốn đầu tư của dự án, đặc biệt là các dự án sản xuất. Và là phần để mua sắm,
cải tạo, mở rộng tài sản cố định (như: máy móc thiết bị sản xuất, nhà xưởng, đất
đai, phương tiện vận chuyển…). Phần vốn đầu tư còn lại được đầu tư vào tài sản
lưu động ròng. Đó là nguồn vốn để hình thành nên các tài sản lưu động ròng cần
thiết để thực hiện dự án (như: nguyên vật liệu, nhiên liệu, tiền thuê nhân công, chi
phí quản lý…). Lượng vốn lưu động ròng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào đặc điểm của
mỗi dự án; Ngoài hai phần vốn chính này là phần vốn dự phòng để kịp thời cung
cấp khi có phát sinh những chi phí ngoài dự kiến hay khi xảy ra rủi ro dự kiến.
Để xác định được lượng vốn cho dự án các nhà lập dự án tiến hành dự toán
vốn. Thông thường các nhà thẩm định và các nhà lập dự án sẽ căn cứ vào năm tiêu
chí cơ bản là: chính sách kinh tế, tình hình thị trường và sự cạnh tranh, chi phí tài
chính, tiến bộ khoa học kỹ thuật, khả năng tài chính của doanh nghiệp. Những tiêu
chí này được sử dụng trong các phương pháp dự toán vốn như dự báo theo tỷ phần
doanh thu, dự toán tổng thể. Nhà thẩm định sẽ xem xét toàn bộ quá trình lập dự
toán vốn này để biết được mức vốn chính xác cần thiết cho dự án.
Và:
Tổng vốn đầu
tư của dự án
=
Vốn cố
định
+

suất cố định, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phíếu có thể thu hồi, trái phiếu có
thể chuyển đổi). Việc doanh nghiệp lựa chọn loại trái phiếu nào để tài trợ cho dự
án còn tuỳ thuộc vào những vấn đề liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi,
khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu.
Tài trợ cho dự án bằng hình thức Leasing: thực chất đây là hình thức tài trợ
dự án thông qua cho thuê các loại tài sản. Doanh nghiệp có thể thuê ngắn hạn tài
sản hoặc thuê dài hạn tài sản. Đây là hình thức tài trợ rất phổ biến do nó có nhiều
ưu điểm so với các hình thức tài trợ khác đối với cả người cho thuê, người đi thuê
và với nền kinh tế.
Tài trợ bằng hình thức kết hợp: Đó là cách mà nguồn vốn cho dự án hình
thành từ sự kết hợp theo một tỷ lệ nhất định giữa vốn vay, vốn chủ sở hữu; Ứng
với mỗi hình thức tài trợ doanh nghiệp sẽ phải chịu một khoản chi phí vốn nhất
định. Nhất là trong hình thức tài trợ hỗn hợp chi phí vốn của dự án được đặc biệt
quan tâm. Bởi từ đó mà nhà soạn lập xác định nên đi vay bao nhiêu, nên dùng vốn
chủ bao nhiêu sao cho có được cơ cấu vốn tối ưu.
Nếu gọi T là thuế suất thu nhập doanh nghiệp.
K
e
: Chi phí thực của vốn chủ sở hữu
K
d
: Chi phí của vốn vay
W
e
: Tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong tổng vốn
W
d
: Tỷ trọng của vốn vay trong tổng vốn
Ta có công thức xác định chi phí vốn trung bình của dự án:
WACC = W

hao... hình thành nên giá thành sản phẩm sẽ là bao nhiêu có phù hợp với dây truyền
sản xuất, với thị trường hiện tại không? Phương pháp khấu hao như thế nào cũng
Doanh thu mỗi
năm của dự án
=
Lượng hàng
dự tính tiêu
thụ mỗi năm
X
Giá bán dự tính
của một đơn vị
sản phẩm
đặc biệt được quan tâm bởi nó ảnh hưởng khá lớn đến dòng tiền ròng của dự án.
Cán bộ thẩm định cần xem xét phương pháp khấu hao mà doanh nghiệp sử dụng là
phương pháp nào: khấu hao đường thẳng, khấu hao giảm dần,… có phù hợp với
loại tài sản và với qui định của nhà nước hay không. Những chi tiết này sẽ được
cán bộ thẩm định làm rõ trên cơ sở những nguyên tắc kế toán nhất định để xác định
chi phí hợp lý cho từng năm của dự án.
Từ xác định doanh thu và chi phí hàng năm của dự án nhà thẩm định sẽ
xác định được lợi nhuận hàng năm của dự án, từ đó dự tính được dòng tiền của dự
án. Đây là phần chính yếu để nhà thẩm định biết được tính khả thi của dự án cũng
như khả năng thu hồi nợ từ kết quả hoạt động của dự án.
1.3.3 Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án
Theo quan niệm chung hiện nay của các nhà kinh tế, dòng tiền của một dự
án là các khoản chi và thu được kì vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau
trong suốt thời gian tồn tại của dự án. Trong dòng tiền của dự án có dòng tiền ra,
dòng tiền vào và dòng tiền ròng (chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của
dự án). Trong đó dòng tiền ròng được coi là con số chính để xác định giá trị hay
hiệu quả trực tiếp của dự án. Khi xác định dòng tiền các nhà phân tích và thẩm
định có những nguyên tắc nhất định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status