MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam được Chính phủ giao nhiệm
vụ quản lý cho vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam không vì mục tiêu lợi nhuận
nhưng bảo đảm sử dụng vốn an toàn, hiệu quả và góp phần thúc đẩy kinh tế
đất nước. Trong những năm tới, hệ thống Ngân hàng Phát triển từng bước xây
dựng và phát triển trở thành tổ chức tài chính có uy tín trong và ngoài nước
với phương châm hoạt động là phát triển bền vững hiệu quả và hội nhập. Để
đạt được mục tiêu này, một trong những khâu quan trọng cần được quan tâm
là thẩm định tài chính dự án. Thẩm định tài chính dự án có chất lượng tốt sẽ
góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của Ngân hàng.
Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh là đơn vị trực thuộc Ngân
hàng Phát triển Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ tín dụng đầu tư và tín dụng
xuất khẩu của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Trong những năm qua
Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh đã thực hiện thẩm định cho vay các
dự án trên địa bàn tỉnh, nhiều dự án phát huy hiệu quả góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên trong quá trình thẩm định cho vay những
năm qua cho thấy chất lượng thẩm định tài chính dự án còn thấp so với mục
tiêu, còn bộc lộ những bất cập, gây ảnh hưởng xấu đến kết quả đầu tư.
Trong thời gian tới, để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển công nghiệp,
nhu cầu cho vay theo dự án là rất lớn, nếu không nâng cao chất lượng thẩm
định tài chính dự án thì nguy cơ tổn thất của Ngân hàng sẽ không nhỏ. Nhằm
góp phần đáp ứng đòi hỏi bức súc của thực tiễn, tôi chọn đề tài “ Nâng cao
chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại Chi
nhánh Ngân hàng phát triển Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
1
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng thẩm định tài
chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển.
- Phân tích chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho
trong hoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh.
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng Phát triển
1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng Phát triển
Các định chế tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo
nguồn lực cho sự phát triển trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia. Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, Chính phủ nhiều quốc gia trên
thế giới đã thành lập những định chế tài chính của Nhà nước nhằm tập trung
nguồn lực về vốn phục vụ cho mục tiêu phát triên kinh tế - xã hội mà bản thân
khu vực tài chính tư nhân không đáp ứng đuợc, các tổ chức này được hình
thành với các tên gọi khác nhau ở các quốc gia khác nhau nhưng tựu chung lại
là các tổ chức tài trợ phát triển (DFI).
Lịch sử phát triển kinh tế của một số nước trên thế giới và trong khu
vực Đông nam Á đã cho thấy mô hình các tổ chức tài trợ phát triển của chính
phủ rất có hiệu quả trong việc phát triển kinh tế quốc gia, ngày càng được
nhiều nước áp dụng. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nước lâm vào
tình trạng nền kinh tế kiệt quệ (điển hình là Nhật Bản) và họ phải bắt tay xây
dựng và khôi phục vực lại nền kinh tế trong điều kiện các nguồn lực đều hạn
chế. Nhiệm vụ quan trọng đặt ra ở các quốc gia này là xây dựng cơ sở hạ tầng
tạo nền tảng cho sự phát triển công nghiệp, các ngành kinh tế mới và khuyến
khích xuất khẩu để thu ngoại tệ. Chính phủ các nước này đã thành lập được
các định chế tài chính Nhà nước nhằm thu hút và tập trung nguồn lực để đầu
tư cho các chương trình mục tiêu kinh tế trọng điểm quốc gia. Điển hình là
Nhật Bản thành lập Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (JDB), ở Châu Âu thành
lập Ngân hàng đầu tư châu Âu (EIB), ở Đức thành lập Ngân hàng tái thiết
4
chính tín dụng của Chính phủ quy định.
1.1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng Phát triển
Cũng là Ngân hàng, nhưng mô hình tổ chức hoạt động của Ngân hàng
Phát triển có nhiều khác biệt so với mô hình tổ chức hoạt động của các Ngân
hàng thương mại, thể hiện qua những đặc điểm sau:
- Ngân hàng Phát triển do Chính phủ thành lập và thuộc sở hữu của
Chính phủ hoặc Chính phủ giữ tỷ lệ vốn lớn, trong khi các Ngân hàng
Thương mại không có vốn của Nhà nước tham gia (các Ngân hàng cổ phần)
hoặc tham gia không nhiều; hình thức sở hữu của các ngân hàng này phổ biến
là sở hữu tư bản tư nhân hoặc vốn cổ phần.
- Ngân hàng Phát triển có quan hệ mật thiết với Chính phủ và hoạt
động theo cơ chế điều hành riêng của Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên
quan (cơ quan quản lý Ngân sách Nhà nước, các Bộ chuyên ngành, cơ quan
xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế đất nước). Các Ngân hàng thương mại
hoạt động theo mô hình của một doanh nghiệp trong nền kinh tế.
- Khác với các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Phát triển hoạt động
không vì mục đích lợi nhuận mà mục tiêu chính là tài trợ hỗ trợ phát triển
Kinh tế - xã hội theo chương trình mục tiêu của Chính phủ trong từng thời kỳ.
Trong khi các Ngân hàng thương mại hoạt động với mục tiêu chính là lợi
nhuận.
- Từ những đặc điểm về mục tiêu hoạt động và hình thức sở hữu của
Ngân hàng Phát triển do Chính phủ chi phối, dẫn đến hoạt động của Ngân
hàng Phát triển mang tính chất tuân thủ và chịu sự chi phối nhiều bởi cơ chế
6
chinh sách của Chính phủ, tính tự quyết và linh hoạt trong điều hành thực
hiện không được chủ động bằng các Ngân hàng thương mại.
- Hoạt động của Ngân hàng Phát triển chủ yếu tập trung vào cung cấp
tín dụng trung dài hạn, trong khi các ngân hàng thương mại tỷ lệ tín dụng
ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn. Xuất phát từ mục tiêu hoạt động của Ngân hàng
Phát triển là hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, do vậy các hoạt
kinh tế xã hội theo mục tiêu chiến lược của quốc gia.
- Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện
nay, để bảo đảm công bằng trong sân chơi Quốc tế hình thức hỗ trợ trực tiếp
(cho vay đầu tư với những ưu đãi riêng) có xu hướng dần bị thu hẹp và các
Quốc gia quan tâm đến các hình thức hỗ trợ gián tiếp.
1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển
Hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển bao gồm: cho vay ngắn
hạn xuất khẩu hàng hoá, sản xuất hàng xuất khẩu và cho vay đầu tư các dự án.
Hình thức cho vay dự án dài hạn được áp dụng nhiều ở một số nước.
Cho vay đầu tư là cho nhà đầu tư vay vốn để thực hiện dự án.
- Hoạt động cho vay đầu tư được thực hiện từ khâu thẩm định để quyết
định cho vay đến khi thu hồi hết nợ vay theo trình tự các bước gồm:
+ Tiếp nhận hồ sơ và thẩm định: Ngân hàng tiếp nhận hồ sơ dự án và
hồ sơ chủ đầu tư tiến hành thẩm định theo các nội dung quy định. Kết quả của
quá trình thẩm định là các nhận xét đánh giá về dự án đầu tư và chủ đầu tư,
các kiến nghị đề xuất về việc tài trợ dự án thông qua báo cáo thẩm định.
+ Quyết định cho vay: trên cơ sở kết quả thẩm định và tham khảo ý
kiến khác, người có thẩm quyền ra quyết định và các điều kiện cho chủ đầu tư
vay vốn tài trợ dự án (đối với trường hợp đồng ý cho vay).
8
+ Giải ngân và giám sát cho vay: sau khi quyết định cho vay, bộ phận
quản lý tín dụng tiến hành làm hồ sơ theo quy định và giải ngân cho vay đầu
tư dự án, theo dõi tình hình hoạt động của dự án khi vận hành sản xuất và đôn
đốc thu nợ.
+ Xử lý nợ và thanh lý hợp đồng: trường hợp dự án không trả được nợ,
Ngân hàng áp dụng các biện pháp xử lý nợ theo quy định để thu hồi nợ vay.
Kết thúc quá trình cho vay (khi Người vay trả hết nợ hoặc khoản nợ xấu đã
được xử lý) ngân hàng thực hiện thanh lý hợp đồng tín dụng với người vay.
- Ngân hàng Phát triển tiếp nhận và huy động vốn cho vay gồm: vốn từ
Ngân sách Nhà nước, vốn huy động của các tổ chức kinh tế, chính trị, phát
dụng của các tổ chức tín dụng khác thì chủ thể cho vay là các thành phần kinh
tế khác (NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, Công ty tài chính ...)
- Đối tượng cho vay đầu tư của NHPT tập trung vào đầu tư cơ sở hạ
tầng kinh tế - xã hội, các lĩnh vực an sinh xã hội, phát triển các vùng kinh tế
trọng điểm trong của quốc gia. Đối tượng vay vốn của các NHTM không hạn
chế về khách hàng vay vốn và lĩnh vực ngành nghề sản xuất kinh doanh.
- Ngân hàng Phát triển hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà mục
tiêu chính là hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội hướng tới sự phát triển kinh tế
bền vững. Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng thương mại là tối đa hoá lợi
nhuận, các lợi ích xã hội thường ít được quan tâm.
- Hoạt động cho vay đầu tư của Ngân hàng Phát triển tương đối độc
lập, không mang tính cạnh tranh với hoạt động cho vay của các Ngân hàng
thương mại. Bởi lẽ Ngân hàng Phát triển có chức năng nhiệm vụ riêng biệt do
Chính phủ quy định, từ việc huy động nguồn vốn đến chính sách cho vay đều
được sự tài trợ và chi phối từ Chính phủ.
10
Mặc dù có những đặc điểm rất khác biệt giữa hoạt động cho vay của
Ngân hàng Phát triển và hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại,
song hoạt động cho vay của bất kỳ ngân hàng nào cũng nhằm hướng tới mục
tiêu hiệu quả và an toàn. Các Ngân hàng đều hướng tới giảm thiểu rủi ro và
nâng cao chất lượng tín dụng, một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới
chất lượng tín dụng của một ngân hàng là chất lượng thẩm định tài chính dự
án. Bởi vậy khi quyết định cho vay, chất lượng thẩm định dự án trong hoạt
động cho vay có vai trò cực kỳ quan trọng và được quan tâm đặc biệt.
1.2 CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT
ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1.2.1 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân
hàng Phát triển.
1.2.1.1 Khái niệm và sự cần thiết thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay của Ngân hàng Phát triển
trong thẩm định cho vay dự án.
“Thẩm định tài chính dự án là rà soát và đánh giá một cách khoa học
các khía cạnh tài chính của dự án nhằm xác định tính khả thi về tài chính của
dự án”.
Thẩm định tài chính dự án cần phải đạt được những yêu cầu
- Thẩm định tài chính dự án, người thẩm định phải xém xét đánh giá
các chỉ tiêu tài chính dự án (tổng mức đầu tư, doanh thu, chi phí, xác định
dòng tiền, chỉ số đánh giá hiệu quả tài chính và phân tích rủi ro dự án) một
cách kỹ lưỡng trong mối quan hệ logic giữa các chỉ tiêu tài chính của dự án.
12
- Thẩm định tài chính dự án không phải là một nội dung thẩm định độc
lập mà có liên quan mật thiết đến các nội dung khác của dự án như: thị trường
tiêu thụ sản phẩm để xác định doanh thu và chi phí hoạt động, hoặc giải pháp
xây dựng và lựa chọn thiết bị công nghệ để dự toán vốn tư dự án.
- Kết quả thẩm định tài chính dự án đưa ra những đánh giá về tài chính
của dự án, được thể hiện thông qua số liệu và chỉ số phân tích rõ ràng giúp
người ta có thể nhận biết dễ dàng về khả năng mức độ sinh lời của dự án, giúp
cho nhà đầu tư có thông tin để phân tích và quyết định đầu tư dự án.
- Thẩm định tài chính dự án phải tuân thủ theo nguyên tắc khách quan
và khoa học. Các chỉ tiêu tính toán, các kết luận đưa ra của báo cáo thẩm định
tài chính đều phải dựa trên những cơ sở về lý luận và thực tiễn và phải mang
tính logic và khoa học, kết quả thẩm định không gắn liền với ý trí chủ quan
của cá nhân người thẩm định.
- Thẩm định tài chính là nội dung quan trọng trong thẩm định dự án.
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào đối tượng quản lý dự án, thẩm định tài chính dự án
được quan tâm ở mức độ khác nhau: đối với nhà đầu tư và các tổ chức tín
dụng, thẩm định tài chính dự án được quan tâm nhiều và nó có vai trò quyết
định trong việc quyết định đầu tư, tài trợ dự án; đối với chính phủ và các cơ
quan quản lý vĩ mô thì lại quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Thẩm định tài chính dự án là quá trình tính toán và phân tích để lựa
bằng các phương pháp tính toán và phân tích tài chính có thể xác định được
mức độ rủi ro mà dự án chịu đựng đuợc, từ đó có những cảnh báo hạn chế rủi
ro, bác bỏ những dự án có mức rủi ro lớn hoặc đưa ra các giải pháp đầu tư
thích hợp nhằm hạn chế tối đa rủi ro vốn đầu tư trong những trường hợp bất
khả kháng.
14
1.2.1.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án
Thẩm định tài chính dự án bao gồm tính toán xác định các vấn đề liên
quan đến tài chính và hiệu quả tài chính dự án, như sau:
- Thẩm định tổng dự toán vốn đầu tư (tổng mức đầu tư của dự án):
Khi xây dựng dự án đầu tư, người lập dự án phải tính toán mức vốn cần
thiết để đầu tư dự án hay còn gọi là tổng mức đầu tư dự án. Tổng mức đầu tư
dự án là số tiền dự tính phải chi ra hình thành nên tài sản cố định và tài sản
lưu động đảm bảo cho dự án vận hành và hoạt động và tạo ra sản phẩm.
+ Chi phí để hình thành nên tài sản cố định là tất cả các khoản chi phí
bỏ ra từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn kết thúc quá trình đầu tư đưa
dự án vào vận hành sản xuất kinh doanh, bao gồm chi phí đến bù giải phòng
mặt bằng, xây dựng nhà xưởng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật, thuê đất …, mua
sắm thiết bị công nghệ chuyển giao công nghệ và các chi phí khác.
+ Chi phí hình thành tài sản lưu động bao gồm những chi phí chủ đầu
tư chi ra để mua nguyên vật liệu, trả lương, mua sắm công cụ dụng cụ phục
vụ sản xuất và khoản tiền mặt trong thanh toán.
+ Xét về cơ cấu hình thành, trong dự toán vốn đầu tư xây dựng (tổng
mức đầu tư dự án) gồm chi phí xây dựng lắp đặt, chi phí mua sắm thiết bị, chi
phí khác, chi phí dự phòng và chi phí đầu tư tài sản lưu động.
* Những căn cứ dự tính tổng mức đầu tư dự án:
Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, việc xác định tổng mức đầu tư dự án có
thể căn cứ vào suất đầu tư. Người ta có thể căn cứ vào suất đầu tư của những
dự án đầu tư có cùng tiêu thức chung về ngành nghề, quy mô hoặc vùng miền
để làm cơ sở dự kiến tổng mức đầu tư dự án; phương pháp tính này thường áp
sử dụng kết hợp các phương thức tài trợ trên.
16
+ Vốn chủ sở hữu (vốn tự có): là vốn của chủ đầu tư bỏ ra để đầu tư dự
án từ tài sản của doanh nghiệp, bao gồm các nguồn chủ yếu là nguồn vốn tích
luỹ từ thu nhập của doanh nghiệp dùng để tái đầu tư, phát hành cổ phiếu (đối
với công ty cổ phần) và thặng dư vốn do phát hành cổ phiếu.
+ Vốn vay nợ: chủ đầu tư vay vốn của các tổ chức tín dụng đầu tư tài
sản cố định, vay tín dụng ngắn hạn để đầu tư tài sản lưu động; vay tín dụng
thương mại, phát hành trái phiếu vay vốn từ các tổ chức và cá nhân trong nền
kinh tế.
+ Thuê tài sản (leasing): đây là hình thức thuê tài sản để đầu tư sản xuất
kinh doanh trong đó bên cho thuê (chủ sở hữu tài sản) cho người thuê (người
sử dụng tài sản) được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản thuê trong
thời gian nhất định để kinh doanh đồng thời phải trả cho Bên cho thuê một số
tiền về quyền sử dụng tài sản đó.
Một dự án có thể được tài trợ vốn bởi một trong các hình thức trên,
hoặc được tài trợ hỗn hợp nhiều hình thức. Khi thẩm định về nguồn vốn tài
trợ dự án cần xác định nhu cầu vốn đầu tư theo tiến độ thực hiện dự án, nguồn
vốn đầu tư và tính khả thi của các nguồn vốn tài trợ dự án; khả năng đáp ứng
nhu cầu vốn trong từng giai đoạn thực hiện dự án để đảm bảo tiến độ thi công
dự án. Ngoài ra, cần phải xem xét tỷ lệ và tiến độ của các nguồn vốn tham gia
có hợp lý hay không, thông thường vốn tự có phải tham gia đầu tư trước.
- Thẩm chi phí, lợi ích và dòng tiền của dự án
* Doanh thu:
Doanh thu là nguồn thu dự kiến từ việc bán sản phẩm, dịch vụ trực tiếp
tạo ra từ dự án. Doanh thu dự án hàng năm được xác định trên cơ sở kế hoạch
sản xuất kinh kinh doanh tiêu thụ sản phẩm và giá bán sản phẩm.
Doanh thu của dự án là số dự kiến, do vậy khi thẩm định phải xem xét
cơ sở tính toán doanh thu như: mức huy động công suất so với công suất thiết
17
suốt quá trình hoạt động của dự án, từ đó xác định được lợi ích mang lại tư từ
hoạt động đầu tư dự án; vấn đề này được các nhà đầu tư cũng như các nhà tài
trợ quan tâm khi quyết định đầu tư dự án đó là dòng tiền của dự án. Dòng tiền
phát sinh trong suốt chu kỳ hoạt động của dự án theo các mốc thời gian khác
nhau, do tiền có giá trị theo thời gian nên không thể so sánh giá trị dòng tiền ở
các mốc thời gian khác nhau mà phải quy về một thời điểm để so sánh, thông
thường người ta quy dòng tiền trong tương lai về hiện tại theo một tỷ lệ chiết
khấu (r) thích hợp để tính toán hiệu quả tài chính dự án.
Dòng tiền ròng của dự án được xác định trên cơ sở dòng tiền chi cho
hoạt động đầu tư; dòng tiền thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm
của dự án và dòng tiền thu được từ lợi ích dự án mang lại cho nền kinh tế.
Dòng tiền chi dự án được xác định bao gồm:
+ Chi phí đầu tư tài sản cố định: đây là những khoản chi phí bỏ ra để
hình thành tài sản cố định đã được dự kiến trong Tổng mức đầu tư dự án. Chi
đầu tư xây dựng dự án tương đối lớn và được chi ra theo tiến độ thực hiện đầu
tư dự án, thông thường đầu tư trong 1 năm, đối với các dự án có quy mô lớn
có thể kéo dài hơn.
+ Chi phí cơ hội: chi phí cơ hội là chi phí mà nhà đầu tư đã bỏ ra từ
trước đó đầu tư nên tài sản cố định, nay tài sản đó được sử dụng để đầu tư dự
án; giá trị tài sản này là chi phí cơ hội và được tính vào chi phí đầu tư dự án.
19
Việc xác định chi phí cơ hội không căn cứ vào giá trị quá khứ (giá mua) mà
được tính theo giá của tài sản đó ở thời điểm hiện tại.
+ Chi phí chìm: Chi phí chìm là chi phí đã xuất hiện từ trước khi đầu tư
dự án và không thể bù đắp cho dù dự án có được chấp thuận hay không chấp
thuận. Có thể phân tích rõ hơn là chi phí chìm là khoản chi có trước, không
liên quan đến sự tăng chi phí của dự án và không được tính vào chi phí đầu tư
dự án.
+ Chi đầu tư vào vốn lưu động ròng: đối với dự án đầu tư vào hoạt
động sản xuất kinh doanh đều phải đầu tư vốn lưu động ròng. Vốn lưu động
vào tài sản lưu động (tồn kho, trả tiền lương…). Khi dự án kết thúc quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho được bán và không được thay
thế, các khoản phải thu được chuyển thành tiền mặt, nhà đầu tư thu hồi được
vốn lưu động bằng số vốn lưu động đã chi ra đầu tư tài sản lưu động. Khoản
thu này có được vào năm hoạt động cuối cùng của dự án.
+ Giá trị thu hồi tài sản cố định: kết thúc chu kỳ hoạt động của dự án,
dù cho giá trị tài sản cố định đã khấu hao hết hay không hết thì tài sản cố định
vẫn còn giá trị thị trường nhất định. Nhà đầu tư bán tài sản cố định ra thị
trường thu được một khoản tiền nhất đinh (gọi là tiền thu từ thanh lý tài sản
cố định); khoản tiền thu thanh lý tài sản cố định sau khi điều chỉnh (cộng
thêm hoặc giảm trừ) với các khoản thuế phải nộp theo quy định từ tiền bán
thanh lý tài sản cố đinh tạo nên luồng tiền thu ở năm cuối của dự án.
* Đặc điểm của ngân hàng Phát triển hoạt động không vì mục tiêu lợi
nhuận, mục tiêu chính là hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Các
dự án Ngân hàng Phát triển cho vay có tác động tích cực cho sự nghiệp phát
21
triển kinh tế - xã hội của quốc gia, những lợi ích dự án mang lại cho nền kinh
tế và xã hội là không nhỏ và cần được lượng hoá để xác định hiệu quả dự án.
Khi thẩm định hiệu quả tài chính dự án, ngoài việc xem xét hiệu quả mang lại
trực tiếp từ dự án, cần quan tâm đến lợi ích mà dự án đem lại cho nền kinh tế,
cho xã hội ( ví dụ: tăng thu nhập cho một số cộng đồng dân cư, giảm ô nhiễm
môi trường, tăng trình độ dân trí); những lợi ích này cần đuợc tính toán lượng
hoá bằng giá trị để tính vào dòng thu (lợi ích) mang lại từ dự án. Đây là đặc
điểm khác biệt của NHPT với các NHTM về thẩm định tài chính dự án, khi
thẩm dịnh cho vay các NHTM quan tâm chính đến khả năng trả nợ của dự án
do vậy họ chỉ quan tâm đến hiệu quả tài chính trực tiếp từ bản thân dự án mà
không cần quan tâm nhiều đến lợi ích dự án đem lại cho nền kinh tế, cho xã
hội. Xuất phát từ đặc điểm riêng của mình, khi thẩm định dòng tiền dự án
ngoài việc xác định dòng tiền thu và chi trực tiếp từ dự án mang lại, cần tính
toán đến giá trị của chi phí cũng như lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh
Lãi suất chiết khấu (r) được các nhà đầu tư lựa chọn như thế nào? suất
sinh lời tối thiểu mà nhà đầu tư yêu cầu có thể dùng làm lãi suất chiết khấu dự
án. Chi phí vốn sẽ được xác định trên thị trường vốn và phụ thuộc vào rủi ro
của doanh nghiệp hay rủi ro của dự án, phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ của
dự án. Mỗi nguồn vốn tài trợ cho dự án có chi phí vốn khác nhau, lãi suất
chiết khấu cho từng dự án phụ thuộc vào nguồn và tỷ lệ tài trợ vốn cho dự án,
cụ thể như sau:
+ Vốn đầu tư là nợ: nhà đầu tư vay nợ từ các tổ chức tín dụng hoặc phát
hành trái phiếu để đầu tư dự án. Trường hợp vay nợ của các tổ chức tín dụng,
23
hàng năm phải trả lãi vay theo quy định, chính khoản lãi vay này được hạch
toán vào chi phí trước thuế làm giảm bớt một phần thu nhập chịu thuế, doanh
nghiệp được lợi ra một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp bằng lãi vay phải
trả (x) thuế suất; khi này chi phí vốn được tính như sau: nếu ký hiệu chi phí
nợ trước thuế là K
d
, và T
c
là thuế suất thuế thu nhập của doanh nghiệp thì chi
phí nợ sau thuế tính bằng = (1- T
c
)x K
d
. Trường hợp vay nợ thông qua phát
hành trái phiếu, thì lãi suất huy động nợ chính là lãi suất trái phiếu khi đáo
hạn với giả định những khoản đầu tư mới có mức độ rủi ro tương tự các tài
sản hiện có.
+ Vốn đầu tư là vốn chủ sở hữu: xem xét dưới góc độ một doanh
nghiệp thì lợi tức kỳ vọng chính là chi phí vốn chủ sở hữu. Để xác định chi
phí vốn chủ sở hữu, thông thường hay áp dụng mô hình CAPM. Theo mô
; tỷ lệ chi phí vốn chủ sở hữu: R
s
; tỷ lệ thuế
thu nhập doanh nghiệp phải nộp: T
c
WACC =
S
x R
s
+
B
x R
b
(1 – Tc)
- (S + B) (S + B)
Trong quá trình thẩm định tài chính dự án, Ngân hàng Phát triển luôn
quan tâm đến khả năng trả nợ của dự án, đồng nghĩa với việc thẩm định xem
xét kỹ dòng tiền của dự án. Tuy nhiên để khẳng định chắc chắn về hiệu quả
của dự án, khi thẩm định tài chính dự án cũng cần quan tâm đến các chỉ tiêu
hiệu quả tài chính dự án làm cơ sở tham khảo cho việc ra quyết định cho vay.
- Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án:
Quá trình thẩm định tài chính dự án, Ngân hàng Phát triển với tư cách
là nhà cho vay tài trợ thường quan tâm nhiều đến dòng tiền để xác định khả
năng và mức độ trả nợ của dự án. Bên cạnh đó, cũng quan tâm phân tích các
chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án làm cơ sở tham khảo để ra quyết định tài trợ
dự án, các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án chủ yếu được quan tâm gồm:
* Chỉ tiêu giá trị hiện tại dòng (NPV): giá trị hiện tại dòng của dự án là
tổng hiện giá của giá trị dòng tiền của dự án với tỷ lệ lãi suất chiết khấu (r).
NPV >0, dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí vốn, NPV = 0 dự án có suất
sinh lời bằng chi phí vốn, NPV < 0 dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phí