Qui hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 - Pdf 12

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
PHẦN I 5
CÁC TIỀM NĂNG VÀ NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH
KIÊN GIANG 5
.I ĐIỆU KIỆN TỰ NHIÊN 5
II. TIỀM NĂNG CÁC NGUỒN LỰC 5
1. Nguồn nhân lực 5
1.1. Dân số và lao động 5
1.2. Trình độ lao động 6
2. Tài nguyên đất 6
3. Tài nguyên nước 6
4. Tiềm năng từ khoáng sản 6
5. Tiềm năng từ nông nghiệp, thủy sản 7
.III CƠ SỞ HẠ TẦNG 7
1. Hệ thống giao thông 7
2. Phát triển hệ thống thông tin liên lạc 8
3. Tình hình lưới điện và mức độ điện khí hoá 8
4. Tình hình cung cấp nước sạch 9
5. Các khu, cụm công nghiệp trong tỉnh 9
.II TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KT - XH NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 10
1. Tăng trưởng GDP 10
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11
2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành 11
2.2. Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế 11
3. Kim ngạch xuất khẩu 12
.III TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 12
.IV THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 12
PHẦN II 13
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẾN 2005. .13
.I QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CN-TTCN 13

2. Mục tiêu phát triển Công nghiệp 29
2.1. Mục tiêu tổng quát 29
2.2. Mục tiêu cụ thể 30
.IV ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP TỈNH KIÊN GIANG GIAI ĐOẠN 2006 -
2015 34
A. Các nhóm ngành tập trung phát triển: 34
1. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng 34
1.1. Dự báo 34
1.2. Định hướng phát triển 34
1.2.1 Công nghiệp khai khoáng 34
1.2.2. Sản xuất ximăng và clinker 35
1.2.3. Sản xuất bê tông 35
1.2.4. Sản xuất các loại vật liệu xây, lợp 36
1.2.5. Sản xuất vật liệu nhẹ, vật liệu chống ồn từ sét Keramzít 36
2. Công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản và thực phẩm 37
2.1. Dự báo nguồn nguyên liệu 37
2.2. Định hướng phát triển 38
2.2.1. Chế biến đường 38
2.2.2. Chế biến rau quả 39
2.2.3. Xay xát và lau bóng gạo 39
2.2.4. Chế biến thuỷ hải sản 40
2.2.5. Công nghiệp chế biến súc sản 40
2.2.6. Chế biến bột cá, thức ăn gia súc 41
B. Các nhóm ngành kêu gọi đầu tư trong thời gian tới: 42
1. Sản xuất bánh kẹo các loại 42
2. Sản xuất sữa tươi, sữa hộp 42
3. Sản xuất beer, nước ngọt, nước có hương vị trái cây 42
4. Công nghiệp chế biến gỗ, giấy 42
5. Công nghiệp cơ khí chế tạo, đóng và sửa chữa tàu 43
5.1. Cơ khí chế tạo, sản xuất thiết bị điện tử 43

.VII NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 53
PHẦN IV 54
GIẢI PHÁP VÀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH 54
.I NHỮNG GIẢI PHÁP 54
1. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp 54
2. Tổ chức sản xuất 54
3. Đổi mới trang thiết bị và công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm 55
4. Giải pháp về thị trường 55
5. Tăng khả năng huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển 56
6. Đảm bảo các điều kiện môi trường và an tòan vệ sinh thực phẩm trong sản xuất công nghiệp 56
7. Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo ngành nghề 57
.II CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH 57
.III TỔ CHỨC THỰC HIỆN 58
1. Sở Công nghiệp 58
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính 58
3. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thuỷ sản 59
4. Sở Tài nguyên môi trường, Sở Xây dựng: 59
5. Sở Thương mại 59
6. Sở Khoa học - Công nghệ 59
7. UBND các huyện, thị xã, thành phố 59
KIẾN NGHỊ 59
KẾT LUẬN 60
LỜI NÓI ĐẦU
Kiên Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng và điều kiện tương đối thuận lợi trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tiềm năng để phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
cũng rất đa dạng. Trong những năm qua, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của tỉnh luôn được
duy trì và phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng hàng năm khá cao. Tuy nhiên, kết quả đạt
được so với tiềm năng và lợi thế của tỉnh vẫn chưa tương xứng, nhất là tốc độ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của ngành công nghiệp trong GDP toàn tỉnh còn chậm, việc thu hút vốn đầu tư phát
triển công nghiệp còn thấp, cơ sở hạ tầng đầu tư cho ngành công nghiệp chưa đúng mức, chưa

- Nguồn dữ liệu của Cục Thống kê Kiên Giang về hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
nói chung và công nghiệp nói riêng.
- Căn cứ tình hình thực tế của Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang.
4
PHẦN I
CÁC TIỀM NĂNG VÀ NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH KIÊN
GIANG
.I ĐIỆU KIỆN TỰ NHIÊN
Kiên Giang là tỉnh cực Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng Đồng bằng Sông Cửu
Long (ĐBSCL), có đường biên giới đất liền chung với Vương Quốc Campuchia dài 56,8 Km,
phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, phía Đông và Đông Nam giáp các tỉnh An Giang, Cần
Thơ, Hậu Giang và phía Tây giáp Vịnh Thái Lan với bờ biển dài 200 Km.
Toàn tỉnh chia thành 13 huyện, thị xã, thành phố bao gồm: 01 thành phố thuộc tỉnh,
01 thị xã, 9 huyện ở đất liền và 2 huyện đảo, trải rộng trên 4 vùng sinh thái: vùng Tứ Giác
Long Xuyên, vùng Tây Sông Hậu, vùng Bán Đảo Cà Mau, vùng Biển và Hải Đảo với tổng
diện tích tự nhiên 6.346,1 km
2
. Vùng biển có hai huyện đảo với 140 hòn đảo lớn nhỏ.
Địa hình phần đất liền tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống
Tây Nam. Riêng Bán Đảo Cà Mau độ cao trung bình từ 0,2 đến 0,4 m, một số nơi có độ cao
dưới 0,0 m so với mực nước biển. Phần hải đảo chủ yếu là địa hình đồi núi, xen kẽ đồng bằng
nhỏ hẹp với nhiều cảnh quan thiên nhiên.
Kiên Giang có hệ thống sông ngòi dày đặc rất thuận lợi cho việc vận chuyển cũng như
lưu thông hàng hoá bằng đường thuỷ. Bao gồm: Sông Cái Lớn có chiều dài 60 km, sông Cái
Bé có chiều dài 70 km, sông Giang Thành có chiều dài 27,5km, sông Rạch Giá - Hà Tiên, kinh
Vĩnh Tế, kinh Tám Ngàn, kinh Rạch Giá - Long Xuyên, là những tuyến giao thông thuỷ
chính của tỉnh cũng như tiêu thoát nước chính trong mùa lũ. Ngoài ra, còn có các kinh rạch dày
đặc khác phục vụ phát triển ngành nông nghiệp, giao thông nông thôn, có tổng chiều dài 2.055
km.

trường lớp chính qui, chỉ học hỏi nhau qua kinh nghiệm thực tế nên chưa đáp ứng tốt nhu cầu
tuyển dụng ngày càng cao của các doanh nghiệp có qui mô lớn.
Theo số liệu thống kê, đến năm 2005 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chỉ đạt gần 9%,
tuy có tăng so năm 2000 là 4,72% nhưng vẫn còn thấp so tỷ lệ đào tạo bình quân chung cả
nước.
2. Tài nguyên đất
Kiên Giang có các nhóm đất chính là nhóm đất phù sa, nhóm đất mặn, nhóm đất phèn,
nhóm đất than bùn phèn, nhóm đất cát và nhóm đất đồi núi và phù sa cổ. Theo tài liệu điều tra
thì các nhóm đất ở Kiên Giang đều có thành phần cơ giới nặng, hạn chế hữu hiệu các yếu tố
phèn mặn nên rất thuận lợi để thâm canh tăng năng suất và đa dạng hoá cây trồng.
Diện tích đất tự nhiên của Kiên Giang đến năm 2005 là 6.346,1 Km
2
tăng thêm 77
Km
2
so với năm 2000. Trong đó: đất trồng lúa chiếm 55,6%; đất lâm nghiệp chiếm 16,72%; đất
trồng cây công nghiệp và cây lâu năm chiếm 13,17%; đất nuôi trồng thủy sản chiếm 5%; còn
lại là đất thổ cư, đất chuyên dùng, đất vườn tạp và qũi đất chưa sử dụng.
Theo qui hoạch chung của tỉnh, tổng diện tích đất sử dụng của Kiên Giang đến năm
2010 và 2015 là 6.346,13 Km
2
.
3. Tài nguyên nước
Theo tài liệu của chương trình cấp nước đô thị Kiên Giang, nguồn nước ngầm ở Kiên
Giang có trữ lượng dồi dào và chất lượng tốt ở các huyện An Biên, Vĩnh Thuận, Gò Quao, một
phần Huyện An Minh, Giồng Riềng, Tân Hiệp, Châu Thành. Vùng còn lại chất lượng nước
không tốt thường bị phèn mặn nhưng tạm sử dụng được. Riêng các huyện đảo, nguồn nước
ngầm rất hạn chế.
Nguồn nước mặt của Kiên Giang được cung cấp chủ yếu từ Sông Hậu thông qua sông
Cái Lớn, Cái Bé, Cái Sắn với chất lượng nước mặt nhìn chung là tốt, hàm lượng phù sa trung

mía, khóm, sản phẩm hàng hoá và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Theo tài liệu điều tra của Viện nghiên cứu biển Việt Nam và kinh nghiệm thực tế của
các ngư dân trong thời gian qua thì tiềm năng về thủy sản của vùng biển Kiên Giang có rất
nhiều, với các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: hải sâm, sò huyết, rau câu, tôm thẻ, cá
thu, mực, được trải dài trên bờ biển 200 km, với ngư trường rộng 63.290 Km
2
, trữ lượng
khai thác cho phép trên 200.000 tấn/năm. Ngoài ra, tỉnh đã và đang thực hiện dự án đánh bắt xa
bờ tại vùng biển Đông Nam bộ có trữ lượng 611.000 tấn và sản lượng cho phép khai thác là
40%. Số phương tiện khai thác những năm gần đây có sự sụt giảm rõ rệt do tình hình khai thác
gặp nhiều khó khăn, nhưng năng suất khai thác được đầu tư tăng thêm đảm bảo hiệu quả khai
thác, tính đến cuối năm 2005 có 7.400 chiếc với tổng công suất đạt trên 1.117.400 CV, tăng so
năm 2000 là 565 chiếc và 491.353 CV.
Ngoài ra, trữ lượng thủy sản phục vụ công nghiệp chế biến còn được mở rộng bằng
phương pháp nuôi trồng thủy sản và ngày càng phát triển mạnh. Vì phần lớn đất đai canh tác ở
Kiên Giang chiếm hơn 40% diện tích đất tự nhiên, rất ít núi cao, đồi trọc, trong đất liền có hệ
thống kênh rạch chằng chịt và rừng tràm che phủ, là môi trường thuận lợi cho phát triển mô
hình nuôi trồng thủy sản nội địa. Chủ yếu là nuôi tôm nước mặn và nước lợ, nuôi sò huyết theo
bãi triều, nuôi cá nước ngọt theo mương, vườn, ao đìa, ruộng lúa, rừng tràm,
Theo tài liệu của ngành thủy sản, diện tích nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng từ
13.049 ha năm 1995 tăng lên 34.628 ha năm 2000 và đến năm 2005 đạt 90.900 ha. Trong đó:
diện tích nuôi tôm phát triển mạnh nhất và chiếm tỷ trọng 81,55% trong cơ cấu đất nuôi trồng
thủy sản, với sản lượng tôm thu hoạch từ năm 2003 trở lại đây mỗi năm đạt trên 10.000
tấn/năm, đáp ứng nhu cầu cho ngành công nghiệp chế biến, góp phần làm tăng giá trị sản xuất
CN-TTCN và xuất khẩu.
Như vậy, với tiềm năng khai thác và nuôi trồng thủy sản của tỉnh, nếu được đầu tư
khai thác đúng qui hoạch đảm bảo phục vụ tốt cho nhu cầu ngành công nghiệp chế biến trong,
ngoài tỉnh đưa nền kinh tế - xã hội của vùng và của tỉnh phát triển.
.IIICƠ SỞ HẠ TẦNG
1. Hệ thống giao thông

quân mỗi tuần hoạt động 7 chuyến, đáp ứng được nhu cầu đi lại cho khoảng 450 lượt
khách/tuần.
2. Phát triển hệ thống thông tin liên lạc
Trong thời gian qua mạng lưới bưu chính, viễn thông có tốc độ phát triển khá mạnh,
đi đôi với đầu tư phát triển điện, giao thông, phần lớn do thực hiện chủ trương CNH-HĐH
đất nước nên hệ thống thông tin liên lạc là một trong những vấn đề được quan tâm phát triển
đáp ứng kịp thời cho nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Tính đến cuối năm 2005, mạng bưu cục trên địa bàn tỉnh có sự thay đổi rõ rệt, số
lượng bưu cục giảm xuống còn 43 bưu cục, giảm so năm 1995 là 8 bưu cục nhưng số điểm bưu
điện văn hoá xã đến nay đạt 113 điểm trong khi năm 1995 chưa đầu tư được điểm nào. Số máy
điện thoại cố định đạt 213.672 máy, tăng 37,87% so năm 2000 (năm 2000 chỉ có 42.897 máy
điện thoại); 100% xã có máy điện thoại. Với mật độ điện thoại trung bình 12,8 máy/100 dân,
tăng 33,67% so năm 2000. Loại hình dịch vụ mới như điện thoại di động, thuê bao internet bắt
đầu phát triển từ năm 1999 nhưng đến năm 2005 tăng lên rất nhanh, trong đó: điện thoại di
động có 43.306 máy, dịch vụ internet có 4.900 máy thuê bao, Điều này cho thấy, tốc độ đô
thị hoá ngày càng phát triển mạnh trong thời gian qua.
3. Tình hình lưới điện và mức độ điện khí hoá
Nguồn cung cấp điện cho các huyện, thị xã trong đất liền của tỉnh chủ yếu là từ nguồn
điện lưới Quốc gia, ngoài ra một số nhà máy còn có phụ tải điện chuyên dùng có nguồn phát
điện riêng ở đất liền như: Công ty xi măng Sao Mai, Công ty mía đường, Công ty xi măng Hà
Tiên 2. Vùng hải đảo nhu cầu điện được đáp ứng chủ yếu bằng các máy phát điện chạy bằng
dầu diesel hoặc xăng, gồm: đảo Phú Quốc có 8 máy, công suất 5MW; đảo Hòn Tre 2 máy; đảo
Tiên Hải - thị xã Hà Tiên có 02 máy, công suất 100 KW; Xã Lại Sơn - huyện Kiên Hải 02 máy,
8
công suất 464 KW; xã An Sơn - huyện Kiên Hải gồm có 02 hòn: Hòn Ngang và Hòn Củ Tron
được đầu tư 02 máy/hòn, tổng công suất 456 KW; xã Hòn Nghệ - huyện Kiên Lương 02 máy,
công suất 100KW; Hòn Heo - xã Sơn Hải - huyện Kiên Lương 01 máy, công suất 150 KW; xã
Hòn Thơm - huyện Phú Quốc 02 máy, công suất 126,4 KW.
Về đầu tư phát triển lưới điện, tính đến cuối năm 2005 toàn tỉnh có 137/139 xã
phường, thị trấn có điện từ điện lưới quốc gia và từ trạm phát điện do nhà nước đầu tư. Trong

/ngày, Thị xã Hà Tiên 600 m
3
/ngày. Hiện tại nước sạch đã đáp ứng
được 76,60% nhu cầu sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh.
5. Các khu, cụm công nghiệp trong tỉnh
Kiên Giang hiện có 02 cụm công nghiệp là: Cụm công nghiệp: Kiên lương - Ba Hòn -
Hòn Chông và Cụm công nghiệp: Rạch Giá - Tắc Cậu - Bến Nhứt, là nơi tập trung các cơ sở
sản xuất công nghiệp có qui mô lớn, công nghệ thiết bị tương đối hiện đại, tiên tiến trong các
ngành: sản xuất xi măng, chế biến thủy sản, bao bì, chế biến rau quả xuất khẩu,… và hàng năm
góp phần vào giá trị sản xuất chung rất đáng kể cho ngành công nghiệp Kiên Giang.
Đặc điểm của các cụm công nghiệp của Kiên Giang là có các hộ dân cùng cư ngụ
xung quanh khu vực nên vấn đề môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng là điều quan
tâm của Đảng, nhà nước và các ngành hữu quan của Tỉnh cũng như của địa phương nơi doanh
nghiệp đang hoạt động.
- Cụm công nghiệp: Kiên lương - Ba Hòn - Hòn Chông được qui hoạch từ năm 1995
theo quyết định số 240/BXD-KHĐT ngày 25/3/1995 của Bộ Xây dựng v/v “Phê duyệt nhiệm
vụ khảo sát thiết kế qui hoạch chung đô thị công nghiệp Kiên Lương”.
Tại thời điểm qui hoạch, diện tích của cụm công nghiệp này là 2.110 ha, bao gồm:
diện tích khu vực Kiên Lương: 553 ha, khu vực Ba Hòn: 524 ha và khu vực Hòn Chông: 1.033
ha.
Gắn với cụm công nghiệp này tập trung nhiều loại khoáng sản có giá trị kinh tế, trữ
lượng lớn và hàm lượng chất lượng cao, thích hợp cho việc đầu tư phát triển ngành công
nghiệp vật liệu xây dựng. Tập trung ở cụm công nghiệp này có 05 nhà máy sản xuất xi măng;
01 nhà máy liên doanh sản xuất bao bì; 01 nhà máy sản xuất gạch tuynel; 01 nhà máy chế biến
thủy sản đông lạnh; Ngoài ra, còn tập trung sản xuất nhiều ngành nghề khác như: khai thác đá,
sản xuất vôi nung, sản xuất nước đá,…
- Cụm công nghiệp: Rạch Giá - Tắc Cậu - Bến Nhứt.
Thành phố Rạch Giá được xem là trung tâm văn hóa và kinh tế - xã hội của Tỉnh Kiên
Giang, với cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh bao gồm: điện, nước, hệ thống giao thông,
thông tin liên lạc…, hoạt động sản xuất chế biến của cụm công nghiệp này là chế biến nông-

nghiệp nói riêng.
- Đầu năm 2005, Sở Công nghiệp được UBND Tỉnh giao khảo sát địa điểm và tiến
hành lập qui hoạch chi tiết khu công nghiệp Thạnh Lộc - huyện Châu Thành theo Nghị định
36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, với qui mô 250ha, định hướng phát triển các nhóm
ngành: chế biến nông - thủy sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng, công nghiệp cơ khí và tiểu thủ
công nghiệp, công nghiệp công nghệ cao và các ngành công nghiệp khác. Hiện Thủ tướng
Chính phủ đã thống nhất và có chủ trương giao cho UBND Tỉnh thực hiện việc đầu tư xây
dựng khu công nghiệp Thạnh Lộc - huyện Châu Thành - Tỉnh Kiên Giang.
.II TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KT - XH NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1. Tăng trưởng GDP
Giai đoạn 1996-2005 là mốc thời gian rất quan trọng của thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy
mạnh CNH-HĐH đất nước theo mục tiêu Đại hội VII của Đảng đề ra. Tỉnh Kiên Giang đã tập
trung triển khai thực hiện đồng loạt các chương trình, dự án trên tất cả các lĩnh vực nông - lâm
- ngư nghiệp, công nghiệp, giao thông, giáo dục, nhìn lại 10 năm qua từ 1996-2005 nền kinh
tế của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, bình quân hàng năm là 10,50%. Giai đoạn 1996-2000 tăng
7,99% (mục tiêu 7,92%) và 2001-2005 tăng 11,09% (mục tiêu 9-10%), với giá trị GDP năm
2005 đạt 10.834,9 tỷ đồng, tăng 12,83% so năm 2004 và tăng gấp 2,48 lần so năm 1995. Cả 02
giai đoạn thực hiện giá trị GDP đều tăng so mục tiêu qui hoạch đề ra.
Với kết quả GDP bình quân giai đoạn 1996-2005 tăng khá nên GDP bình quân đầu
người cũng tăng lên (theo giá thực tế), từ 3,17 triệu đồng năm 1995 tăng lên 9,73 triệu đồng
năm 2005, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1996-2005 đạt 9,53%.
Biểu 2: GDP các ngành thời kỳ 1995-2005
Chỉ tiêu Thực hiện (Tỷ đồng) Tốc độ tăng (%)
10
1995 2000 2005 96-00 01-05
Tổng GDP 4.359,0 6.403,0 10.834,9 7,99 11,09
- Nông - lâm - thủy sản 2.650,7 3.594,0 5.236,9 6,28 7,82
- Công nghiệp - xây dựng 897,2 1559,0 3.204,0 11,68 15,50
- Dịch vụ 811,1 1.250,0 2.394,0 9,04 13,88
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Ngoài quốc doanh 74,36 70,71 69,8
- Đầu tư nước ngoài 0 6,57 7,4
11
3. Kim ngạch xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu của tỉnh trong thời gian qua tuy còn gặp nhiều khó khăn về thị
trường như: cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực năm 1997, dịch SART, dịch cúm gia
cầm và gần đây là vụ kiện bán phá giá tôm của Mỹ, nhưng nhìn chung kim ngạch xuất khẩu
vẫn tăng lên, từ 43,75 triệu USD năm 1995 tăng lên 68,38 triệu USD năm 2000 và năm 2005
đạt trên 220 triệu USD, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1996-2000 là 9,34%; giai
đoạn 2001-2005 là 26,42%.
.IIITÌNH HÌNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Tính từ năm 2001 đến năm 2005, nguồn vốn huy động toàn xã hội đạt khoảng 19.861
tỷ đồng, chiếm 34% tổng GDP. Nguồn vốn trong dân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Kiên Giang, chiếm 61,40% trong tổng vốn đầu tư phát
triển toàn tỉnh.
Cơ cấu vốn đầu tư đã có sự chuyển dịch tích cực, trong đó nông lâm ngư nghiệp
chiếm 26%, công nghiệp - xây dựng 29%, dịch vụ 20%, các lĩnh vực xã hội 25%.
Vốn đầu tư phát triển ngành công nghiệp bình quân giai đoạn 1996-2005 mỗi năm thu
hút thêm 170 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 1996-2005 đạt 7,44%. Cụ thể: giai đoạn
1996-2000 chỉ tăng 1,35% nhưng sang giai đoạn 2001-2005 tăng đến 13,89% do đầu tư mở
rộng cơ sở, công suất, cải tiến máy móc thiết bị của một số nhà máy chế biến hiện có như xi
măng, sản xuất trụ điện, chế biến thủy sản, nông sản, mặt khác nhờ đầu tư qui hoạch khu
cảng cá Tắc Cậu trong năm 2001 và đi vào hoạt động năm 2003 đã thu hút thêm 28 dự án đầu
tư mới.
.IV THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY
Thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp của Kiên Giang những năm gần đây càng
phát triển mạnh, ngoài những thị trường truyền thống trong nước như: khu vực ĐBSCL,
TPHCM, các doanh nghiệp của tỉnh còn mở rộng quan hệ mua bán với trên 30 quốc gia và
vùng lãnh thổ như: Mỹ, EU, Nga, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển, Một số sản phẩm

trường tiêu thụ, công nghệ sản xuất cũ kỹ lạc hậu, sức cạnh tranh thấp, hiệu quả kinh tế không
cao nên đa số chuyển sang nghề khác, nhất là các ngành nghề truyền thống ngày càng giảm dần
cả về qui mô và số lượng cơ sở như: chế biến đường thủ công, đan lát, dệt chiếu, nấu rượu,
Mặt khác, từ khi có Luật Doanh nghiệp ra đời (năm 1999), các doanh nghiệp tư nhân, công ty
TNHH phải áp dụng chế độ hạch toán độc lập, có sổ sách kế toán rõ ràng, trong khi một số
doanh nghiệp tư nhân được hình thành trước đây đa số qui mô nhỏ, ở vùng nông thôn nên thực
hiện vấn đề này rất khó khăn, vì thế một số DNTN đã chuyển hình thức kinh doanh sang cơ sở
cá thể và chịu mức thuế khoán. Vì vậy số cơ sở DNTN giảm dần, từ 342 cơ sở năm 1995 giảm
còn 293 năm 2000 và năm 2003 là 219 cơ sở, đến năm 2005 mới tăng lên 345 cơ sở, nhờ cơ
chế thông thoáng và môi trường đầu tư thuận lợi nên thành phần ngoài quốc doanh gia tăng.
(Biểu 5):
Biểu 5: Số cơ sở sản xuất công nghiệp từ 1995-2005
Thành phần kinh tế
Số cơ sở (Cơ sở) Cơ cấu (%)
1995 2000 2005 1995 2000 2005
Toàn Tỉnh 10.445 9.508 8.794 100 100 100
- Doanh nghiệp nhà nước 17 13 13 0,17 0,14 0,15
- Doanh nghiệp có vốn ĐTNN 1 3 3 0,009 0,03 0,03
13
- DN ngoài quốc doanh 10.427 9.492 8.778 99,83 99,83 99,82
+ Doanh nghiệp tư nhân 342 293 345
+ Công ty TNHH 24 25 61
+ Công ty cổ phần 2 1 7
+ Hợp tác xã 1 2 1
+ Cơ sở cá thể 10.058 9.171 8.364
Dựa vào bảng số liệu trên cho thấy số lượng công ty cổ phần tăng lên do thực hiện
chủ trương chuyển đổi, sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm phát huy vai trò
làm chủ của người lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Về chuyển dịch cơ cấu cơ sở sản xuất công nghiệp thì khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh chiếm tỷ trọng rất cao, hơn 99% (năm 2005), riêng số lượng cơ sở sản xuất thuộc khu

2. Lực lượng lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
2.1. Số lượng lao động
Số lượng cơ sở công nghiệp các năm qua tuy có sự giảm sút nhưng lực lượng lao
động trong ngành lại tăng lên rất nhiều, năm 2005 lao động công nghiệp toàn tỉnh đạt 37.441
người, chiếm 4,26% trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và có tỷ
lệ tăng trưởng so năm 1995 là 8,32%. Phần lớn do công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà
nước ngày càng có hiệu quả, các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư thêm một số dây chuyền
sản xuất mới và thu hút thêm số lao động vào làm việc, một số dự án lớn của tỉnh được triển
khai thực hiện trong khoảng thời gian này (1996-2005) như: sản xuất xi măng, chế biến khóm,
chế biến đường, đồ hộp, sản xuất bột cá, nước đá, đặc biệt là các khu, cụm công nghiệp triển
khai thực hiện có hiệu quả đã thu hút rất nhiều lao động tham gia sản xuất.
Nguồn nhân lực công nghiệp Kiên Giang tập trung chủ yếu vào thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh chiếm 79,49% trong tổng số lao động công nghiệp của tỉnh, phần lớn do đa
số cơ sở công nghiệp đều ở vùng nông thôn nên thu hút nhiều lao động, nhưng nhìn chung chất
lượng lao động còn thấp, số lượng qua đào tạo chiếm tỷ trọng nhỏ, điều này làm hạn chế khả
năng ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến trong thời gian qua.
Về chuyển dịch cơ cấu lao động phân theo ngành (biểu 7) cho thấy: ngành công
nghiệp chế biến có số lượng lao động tham gia nhiều nhất, với 35.740 người năm 2005, chiếm
95,45% trên tổng số lao động ngành công nghiệp và có mức tăng trưởng là 6,34% so năm
1995, trong đó: ngành công nghiệp chế biến thủy sản sử dụng nhiều lao động nhất (chiếm
48,67% trên tổng số lao động công nghiệp chế biến), số còn lại là lao động của ngành chế biến
nông sản, lâm sản, cơ khí sửa chữa,
Biểu 7: Lao động công nghiệp phân theo ngành năm 1995 - 2005
Ngành kinh tế
Số lượng (người) Cơ cấu (%)
1995 2004 2005 1995 2004 2005
Toàn Tỉnh 34.507 37.381 37441 100 100 100
- Công nghiệp khai thác 513 983 1.202 1,48 2,62 3,21
- Công nghiệp chế biến, trong đó: 33.877 36.027 35.740 98,17 96,37 95,46
+ Chế biến VLXD 4.272 4.843 5.434 12,61 13,44 15,20

tốc độ tăng cao nhất trong giai đoạn 1996-2005 là 21,61%; tiếp theo là công nghiệp chế biến
nông sản 14,42%; công nghiệp chế biến thủy sản 13,04%;
Biểu 8: Năng suất lao động công nghiệp theo VA phân theo ngành
Ngành kinh tế
Số lượng (triệu đồng) Tốc độ tăng (%)
1995 2005 1996 - 2005
Toàn Tỉnh 22,34 75,75 12,99
- Công nghiệp khai thác 9,75 28,29 11,24
- Công nghiệp chế biến, trong đó: 22,49 77,90 13,23
+ Chế biến VLXD 84,97 226,72 10,31
+ Chế biến thủy sản 17,18 58,49 13,04
+ Chế biến nông sản 10,69 41,10 14,42
+ Chế biến lâm sản 7,54 22,43 11,52
+ Cơ khí sửa chữa 3,33 5,87 5,85
+ Công nghiệp khác 9,47 67,00 21,61
- Sản xuất - phân phối điện, nước 34,19 36,07 0,54
3. Kết quả hoạt động của ngành công nghiệp
3.1. Giá trị sản xuất CN - TTCN (Giá cố định 1994)
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1995 đạt 1.999 tỷ đồng, năm 2005 tăng lên 7.295,19
tỷ đồng, tăng hơn 3 lần so với năm 1995 (tăng 5.296,19 tỷ đồng). Tốc độ tăng trưởng bình quân
10 năm qua (1996-2005) là 13,82%. Trong đó: mức tăng của năm sau luôn tăng cao hơn năm
trước, với 12,4% bình quân giai đoạn 1996-2000 và 15,26% của giai đoạn 2001-2005. Vượt chỉ
tiêu qui hoạch cũ đề ra 1,93% (chỉ tiêu tăng 13,33% giai đoạn 2001-2005).
GDP của ngành công nghiệp và xây dựng giai đoạn 1996-2005 luôn duy trì được tốc
độ tăng trưởng khá cao là 13,57%/năm, trong đó giai đoạn 1996-2000 tăng 11,68%; giai đoạn
2001-2005 tăng 15,50% vượt chỉ tiêu qui hoạch cũ đến 3,5% (chỉ tiêu là 11-12%).
16
Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP toàn tỉnh ngày càng chiếm tỷ trọng cao,
từ 20,58% năm 1995 tăng lên 30,31% năm 2005, tuy nhiên vẫn còn thấp so chỉ tiêu qui hoạch
cũ đề ra (chỉ tiêu đến năm 2005 phải đạt tỷ trọng 30,77%).

23,51%. Tỷ trọng của khu vực quốc doanh địa phương, ngoài quốc doanh giai đoạn 1996-2000
có mức sụt giảm nhưng sang giai đoạn 2001-2005 đã tăng ổn định. Riêng tỷ trọng của khu vực
đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GO ngành công nghiệp. Tuy nhiên, so
chỉ tiêu qui hoạch được phê duyệt trước đây thì 3 khu vực quốc doanh trung ương, ngoài quốc
doanh và đầu tư nước ngoài tỷ trọng đến năm 2005 đều vượt mục tiêu đề ra, trong khi khu vực
quốc doanh địa phương giảm rõ rệt.
Biểu 10: Cơ cấu GO theo thành phần kinh tế (%)
Thành phần kinh tế
Chỉ tiêu QH cũ Thực hiện
1995 2000 2005 1995 2000 2005
Toàn Tỉnh 100 100 100 100 100 100
17
- Doanh nghiệp nhà nước TW 43,42 25,67 21,00 43,42 25,79 23,51
- DN nhà nước địa phương 23,01 21,61 33,89 23,01 22,09 24,53
- DN ngoài quốc doanh 33,42 25,32 20,79 33,42 25,18 26,57
- Doanh nghiệp có vốn ĐTNN 0,15 27,38 24,30 0,15 26,94 25,39
Về chuyển dịch cơ cấu theo các nhóm ngành: thì công nghiệp chế biến luôn chiếm tỷ
trọng cao (trên 98%) trong giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, trong đó: các mặt hàng chế
biến vật liệu xây dựng, chế biến thủy sản vẫn là những mặt hàng có nhiều lợi thế, với giá trị
cao hơn các ngành chế biến khác. Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành cũng có sự phát
triển nhanh và đều vượt chỉ tiêu tăng trưởng qui hoạch cũ đề ra, chỉ riêng nhóm ngành sản xuất
và phân phối điện nước chưa đạt mục tiêu qui hoạch.
Biểu 11: Tốc độ tăng trưởng, cơ cấu GO phân theo nhóm ngành
STT Ngành
Cơ cấu (%) Tốc độ tăng (%)
QH cũ Thực hiện QH cũ Thực hiện
2000 2005 2000 2005 01-05 01-05
01 Công nghiệp khai thác 1,04 1,05 1,14 0,97 13,36 11,47
02 Công nghiệp chế biến 98,58 98,19 98,49 98,60 13,24 15,29
03 CN SX & PP điện nước 0,36 0,75 0,36 0,43 30,84 19,36

doanh địa phương tỷ lệ VA/GO đạt trên 30%/năm. (Phu lục số 6)
Tỷ lệ giá trị tăng thêm trong giá trị sản xuất công nghiệp (VA/GO) là một trong những
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất công nghiệp của tỉnh. Tỷ lệ này càng cao càng thể hiện hiệu
quả của ngành công nghiệp nghiêng về công nghiệp chế biến. Theo số liệu thống kê cho thấy
bình quân mỗi năm từ 1995-2005 tỷ lệ VA/GO toàn ngành công nghiệp Kiên Giang luôn đạt ở
mức trên dưới 38%/năm và tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp cũng tăng tương ứng với
tốc độ tăng giá trị tăng thêm, không chênh lệch nhiều. Điều này chứng tỏ ngành công nghiệp
chế biến của tỉnh luôn ổn định và phát triển, phù hợp với định hướng chung của ngành, của
tỉnh.
4. Các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu
Trong 10 năm qua (1996-2005), hoạt động xuất khẩu của tỉnh ngày càng được các
doanh nghiệp quan tâm thực hiện, công tác tiếp thị và quảng bá sản phẩm ngày càng được đẩy
mạnh, góp phần mở rộng quan hệ mua bán với trên 30 quốc gia và vùng lãnh thổ như: Mỹ, EU,
Nga, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển, Một số doanh nghiệp đã tổ chức gian hàng
giới thiệu sản phẩm ở các Hội chợ trong và ngoài nước, đồng thời đăng ký mẫu mã hàng hoá,
giới thiệu sản phẩm trên mạng Internet, Từ đó, góp phần đưa giá trị kim ngạch xuất khẩu
ngày một tăng lên, nếu như kim ngạch xuất khẩu năm 1995 là 43,75 triệu USD, thì năm 2000
tăng lên 68,38 triệu USD và năm 2005 là 221 triệu USD, với tốc độ tăng trưởng của giai đoạn
này khá cao, bình quân mỗi năm tăng 16,41%, trong đó: giai đoạn 1995-2000 tăng 9,34% và
2001-2005 tăng 23,94%.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển biến tích cực, thủy sản là mặt hàng có điều
kiện nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu, thời gian qua có tốc độ tăng trưởng nhanh, nếu như
giai đoạn 1996-2000 chỉ tăng 1,74%/năm thì giai đoạn 2001-2005 tăng lên 22,97%/năm. Nông
sản xuất khẩu chủ yếu là gạo chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng những
năm gần đây tốc độ tăng trưởng chậm, còn các sản phẩm khác như: khóm các loại, dừa, tiêu,
sản lượng xuất khẩu ít, giá trị không cao.
Thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu chủ lực của tỉnh vẫn là các doanh nghiệp quốc
doanh, nhưng đặc biệt thời gian qua đã có sự tham gia của thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh trong hoạt động xuất khẩu, chủ yếu là lĩnh vực chế biến thủy sản được 9 đơn vị với các
sản phẩm như: nước mắm, tôm đông, cá đông, mực đông, cá cơm khô và khô các loại. Đóng

- Môi trường công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Kiên Giang có cụm công nghiệp Kiên Lương - Ba Hòn - Hòn Chông thuộc huyện
Kiên Lương, tập trung chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng. Hiện nay, toàn tỉnh có 5 nhà máy
sản xuất xi măng, đều có hệ thống xử lý nước thải và khí thải, nhưng mức độ xử lý môi trường
chưa đạt yêu cầu theo quy định, riêng chỉ có nhà máy xi măng Holcim là có hệ thống xử lý
tương đối đạt tiêu chuẩn môi trường. Phần lớn các nhà máy còn lại, hệ thống xử lý chưa đạt
hiệu quả theo báo cáo đánh giá tác động môi trường như đã đăng ký, có một vài nhà máy thiết
bị công nghệ cũ kỹ, lạc hậu và các doanh nghiệp có qui mô nhỏ chưa đầu tư xây dựng hệ thống
xử lý nước thải, khí thải đúng tiêu chuẩn quy định, đã góp phần gây ra ô nhiễm môi trường cục
bộ trong vùng hoạt động của nhà máy, làm ảnh đến các hộ lân cận.
Các tác động trong thai thác đá vôi, đất đỏ, tạo tiếng ồn lớn, tiếng nổ mìn khai thác đá
vôi ở khoảng cách 100 m có thể đạt trên 130dBA; tiếng ồn do các xe vận tải nặng từ 50-
115dBA; độ rung lớn trong khu vực bán kính 400 m cách điểm đặt mìn, đây là những vấn đề
bức xúc trong thời gian qua chưa khắc phục được. Việc khai thác sét, đất đỏ đã làm thay đổi
chất lượng nước mặt trong khu vực, có thể làm hạ thấp mực nước ngầm khu vực do bơm tháo
khô mỏ, làm biến đổi chất lượng nước dưới đất, cũng như làm tăng nồng độ chất rắn lơ lửng
trong nước mặt ở khu vực lân cận, gây acid hóa đất và nước trong vùng nếu như mưa chảy
tràn, làm mất thảm thực vật tại vùng khai thác, dẫn tới làm mất khả năng giữ nước bổ sung cho
nguồn nước ngầm, gây xói lở…tạo các ao, hồ, gây mất mỹ quan vốn có trong khu vực.
- Môi trường khu công nghiệp Tắc Cậu chế biến hải sản
Hiện nay, khu công nghiệp chế biến hải sản khu vực cảng cá Tắc Cậu thuộc huyện
Châu Thành, tập trung trên 30 xí nghiệp chế biến hải sản, tuy nhiên cho đến nay chỉ có có một
vài cơ sở lập và được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường theo qui định của Luật
bảo vệ Môi trường, còn lại hầu hết các xí nghiệp đều trì hoãn lập báo cáo đánh giá tác động
môi trường hay lập bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường theo Luật định.
Một số xí nghiệp chế biến thủy sản chưa xây dựng hệ thống xử lý môi trường,
trong quá trình họat động nước thảy, thảy trực tiếp ra sông, làm ô nhiễm môi trường, tạo ra các
mùi rất khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe của
công nhân làm việc trong xí nghiệp và dân cư trong vùng xung quanh. Vấn đề phát triển các cơ
sở chế biến thủy sản không theo quy hoạch hoặc có quy hoạch nhưng không chú trọng yếu tố

phong phú, tiềm năng về ngư trường rộng lớn với các loại thủy sản đa dạng, cũng là điều kiện
thuận lợi để phát triển công nghiệp.
Một lợi thế quan trọng khác của Kiên Giang là có môi trường đầu tư thuận lợi, đặc
biệt là khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên và khu du lịch sinh thái huyện đảo Phú Quốc. Hai khu vực
này đã được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định qui hoạch phát triển, theo đó khu vực kinh tế
cửa khẩu Hà Tiên thực hiện theo Quyết định số 158/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
cho phép áp dụng một số chính sách tại khu vực này; còn huyện Phú Quốc thực hiện theo
Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg ngày 05/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án
phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”.
Quyết định số 38/2006/QĐ-TTg ngày 14/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
qui chế tổ chức và hoạt động của đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới - tỉnh Kiên Giang.
Tiến trình gia nhập AFTA, WTO sẽ tạo điều kiện cho Kiên Giang mở rộng thị trường
cho các sản phẩm có lợi thế về xuất khẩu và nhập khẩu các công nghệ tiên tiến khác. Trên cơ
sở đó, có thể khẳng định Kiên Giang là một trong những địa phương có nhiều thuận lợi để phát
triển kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng trong hiện tại cũng như trong tương lai.
2. Điểm yếu
Mặc dù có vị trí địa lý thuận lợi hơn các tỉnh trong khu vực ĐBSCL nhưng Kiên
Giang là tỉnh nằm xa khu kinh tế trọng điểm phía Nam, xa Thành phố Hồ Chí Minh, nên mối
liên kết giữa Kiên Giang với các vùng còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư cũng
như giao lưu kinh tế.
Là tỉnh có thế mạnh về khai thác, nuôi trồng thủy sản, nguồn nguyên liệu tuy dồi dào
nhưng giá cả, chất lượng không ổn định và chưa đồng nhất về quy cách. Công nghiệp chế biến
các mặt hàng này vẫn chưa phát triển, chủng loại mặt hàng chế biến chưa đa dạng, chủ yếu là
xuất khẩu những sản phẩm sơ chế và đông lạnh là nhiều nên giá trị đạt được chưa cao.
21
Trang bị kỹ thuật và công nghệ của công nghiệp trong tỉnh tuy có đổi mới nhưng còn
chậm so yêu cầu, thực hiện thiếu đồng bộ, nhất là khu vực ngoài quốc doanh.
Chất lượng nguồn nhân lực ở Kiên Giang còn thấp, số lượng lao động được đào tạo
chính qui còn quá ít, chưa đáp ứng tốt yêu cầu trong giai đoạn phát triển hiện tại cũng như
trong tương lai.

doanh nghiệp.
Công tác qui hoạch phát triển vùng nguyên liệu được tập trung triển khai tốt đáp ứng
cơ bản nhu cầu cho công nghiệp chế biến, tình hình đầu tư phát triển khu, cụm công nghiệp
cũng đạt được hiệu quả cao. Từ đó, đã khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất
ngày càng nhiều, với 95 dự án được triển khai thực hiện trong thời gian qua (2001-2005). Bên
cạnh những kết quả đạt được nhưng so với mục tiêu vẫn còn một số tồn tại cần phải khắc phục
như sau:
- Tốc độ phát triển công nghiệp tuy có tăng nhưng chưa ổn định, cơ cấu hàng nông
sản, hải sản chế biến tăng chậm, chưa bền vững. Nhiều sản phẩm xuất khẩu của tỉnh như gạo,
thuỷ sản đông lạnh, khóm, tuy chất lượng có nâng lên, nhưng nhìn chung khả năng cạnh tranh
kém, phần lớn do sản phẩm còn đơn điệu, sản phẩm xuất khẩu còn ở dạng thô chỉ qua sơ chế
nên giá trị không cao. Một số sản phẩm thời gian qua chưa được quan tâm phát triển nên ngày
22
càng khó khăn và mất dần thị trường như: dệt chiếu, đồ đất nung, đan lát, hiện nay đang khôi
phục lại.
- Sản xuất còn phân tán, nhỏ lẻ chưa hình thành được các khu, cụm công nghiệp chế
biến tập trung, chưa tạo được mối liên kết mạnh mẽ giữa các khâu sản xuất, chế biến và hợp
đồng tiêu thụ hàng hoá.
- Công tác qui hoạch phát triển vùng nguyên liệu được quan tâm triển khai thực hiện
và đạt được một số kết quả nhất định, nhưng nhìn chung công tác qui hoạch chưa đồng bộ, phát
triển chậm so kế hoạch, một số vùng tuy được đầu tư qui hoạch nhưng năng suất thấp, chưa
đáp ứng đủ nhu cầu chế biến của các nhà máy. Đầu tư cơ sở hạ tầng chậm chưa khuyến khích
đầu tư công nghiệp ở các vùng sâu vùng xa, tốc độ phát triển ở các vùng này còn thấp so tiềm
năng nguyên liệu và lao động tại địa phương.
- Các cơ chế chính sách của Trung ương, của tỉnh về phát triển công nghiệp Kiên
Giang trong thời gian qua luôn được vận dụng nhằm phát huy thế mạnh của tỉnh. Nhưng nhìn
chung hiệu quả chưa cao, do đó chưa khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế, đặc biệt
là doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia đầu tư sản xuất. Chưa có chính sách hỗ trợ cho các
cơ sở mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ; chưa xây dựng và ban hành được chính sách hỗ trợ
cho các doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, sử dụng năng lượng tiết

phương Prék Chák-Kông Pông Trách của Campuchia, đồng thời nâng cấp nhiều cửa khẩu phụ
lên thành cửa khẩu chính. Như vậy, sẽ thuận lợi trong quan hệ mua bán với các nước trên thế
giới.
Quá trình toàn cầu hoá là sự liên kết ngày càng chặt chẽ các loại hình thị trường như:
thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường bất động sản, thị trường lao động,… thông
qua việc cắt giảm tiến tới xoá bỏ các rào cản đang tồn tại giữa các nước (bao gồm cả những
hàng rào thuế quan và phi thuế quan) để tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá được giao lưu tự
do giữa các nước, tiến dần tới các thị trường thống nhất và thị trường thế giới vận hành theo
các qui chế của WTO.
Trong bối cảnh này, các nước kém phát triển sẽ phải chịu những sức ép cạnh tranh rất
nặng nề của các nước phát triển về đầu tư vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý, chất xám,
thông qua việc thành lập các khu vực mậu dịch tự do, cởi bỏ hàng rào thuế quan và bằng các
phương tiện kinh tế, chính trị khác,…. Chính sách toàn cầu hoá và khu vực hoá, đối với Việt
Nam sẽ là một thách thức lớn, có cả mặt tích cực và tiêu cực, nếu biết nắm bắt cơ hội và chọn
lựa phương thức tiếp cận thích hợp, đòi hỏi phải có những giải pháp sáng tạo, đồng bộ, hữu
hiệu mới có cơ may vượt ra khỏi sự kiềm toả của các nước đã phát triển và tạo thế đứng vững
chắc trên thị trường thế giới.
1.2. Tác động của một số nền kinh tế thế giới
- Kinh tế Mỹ
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được thông qua tạo cơ hội rất có ý nghĩa cho Việt
Nam trong việc đẩy mạnh xuất khẩu những sản phẩm có thế mạnh sang thị trường Mỹ, và cũng
tạo điều kiện cho những nhà đầu tư Mỹ hoạt động trên thị trường Việt Nam tiếp cận với nguồn
vốn của Mỹ, như nguồn vốn EXIM Bank để mở rộng đầu tư,… Đồng thời, các tổ chức hỗ trợ
của Mỹ cũng sẽ có điều kiện đẩy mạnh các hoạt động của mình trên lãnh thổ Việt Nam trong
việc hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó cũng có nhiều thách thức đặt ra như các doanh
24
nghiệp Việt Nam sẽ hoạt động trên cùng một mặt bằng với các doanh nghiệp khác ở thị trường
này. Điều này có nghĩa là việc tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ có ý
nghĩa quyết định trong việc tận dụng các cơ hội Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ
tạo ra.

lai, xuất khẩu sang Trung Quốc sẽ tăng nhanh, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa 2 nước đến
năm 2010 từ 10 tỷ USD lên 15 tỷ USD (đến năm 2004 đã đạt xấp xỉ 7,2 tỷ USD). Trung Quốc
là một thị trường đặc biệt quan trọng có nhiều nhu cầu mà Việt Nam có thể đáp ứng như: lương
thực, thực phẩm (gạo, ngô, khoai, sắn), hoa quả, chuối, hải sản, chè, cà phê, cao su, apatit,
chromit và ngược lại Việt Nam có thể mua của Trung Quốc một số mặt hàng như: bông, nhựa
đường, ống tráng kẽm, sắt thép, vật liệu xây dựng trang trí nội thất, vải,… Ngoài ra, Việt Nam
có thể hợp tác liên doanh với Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực sản xuất.
- Kinh tế các nước ASEAN
ASEAN là khối liên kết kinh tế khu vực mà tỷ trọng ngoại thương chiếm tới hơn 30%
trong cán cân thương mại của Việt Nam. Trong những năm qua, ASEAN đã đóng góp một
phần vốn FDI quan trọng đối với Việt Nam, tính đến hết năm 2004, tổng vốn đầu tư của
ASEAN vào Việt Nam là 5.206,3 triệu USD, bằng 17,35% tổng số vốn FDI vào Việt Nam. Các
dự án đầu tư của ASEAN thường tập trung vào một số lĩnh vực công nghiệp, lắp ráp, xây dựng,
khách sạn và du lịch. Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước ASEAN có nhiều bước phát
triển tốt, tính đến hết năm 2004:
25

Trích đoạn Tiểu thủ cụng nghiệp truyền thống và ngành nghề nụng thụn Cụng nghiệp sản xuất và phõn phối điện nước Xử lý mụi trường sản xuất cụng nghiệp Mục đớch quy hoạch cỏc khu, cụm cụng nghiệp tập trung Đầu tư phỏt triển cơ sở hạ tầng phục vụ phỏt triển cụng nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status