VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHI PHÍ - LỢI ÍCH TRONG ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY HƯƠNG BÀI Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
(ĐĂNG TẠP CHÍ ĐẠI HỌC VINH, NĂM 2010)
Tóm tắt. Hương bài là loại cây lâm sản ngoài gỗ hiện đang có nhu cầu sử dụng lớn ở
huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Việc thực hiện mở rộng diện tích cây Hương bài ở địa
phương cần có đánh giá khoa học về hiệu quả kinh tế, xã hội và thích nghi sinh thái cây trồng.
Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích - CBA (Cost-Benefit Analysis) cho phép đưa ra tính
toán định lượng, quy đổi tất cả các chi phí và lợi ích về một đơn vị đo lường thống nhất là giá
trị tiền tệ. CBA có ý nghĩa rất lớn khi lựa chọn quyết định trong sử dụng hợp lí các nguồn tài
nguyên, môi trường. Bài báo vận dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích để đánh giá
hịệu quả kinh tế cây Hương bài, cung cấp các thông số cụ thể về giá trị kinh tế của cây Hương
bài và đề xuất các giải pháp mở rộng diện tích ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
I. MỞ ĐẦU
Để đạt được hiệu quả cao trong đầu tư hoặc hành động phát triển, các nhà đầu tư, nhà
quản lí thường đứng trước nhiều phương án lựa chọn. Sự lựa chọn quyết định của các nhà ra
chính sách gặp rất nhiều khó khăn vì phương án đưa ra thường mang tính chất định tính hay
trực quan, thiếu tính toán định lượng. Trong nông nghiệp, việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi
đòi hỏi phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu về, đưa ra được lợi ích ròng
của đối tượng sẽ lựa chọn đưa vào sản xuất hay hiệu quả của việc chi phí đó sẽ dễ thuyết phục
nhà quản lý hay người làm chính sách, đặc biệt là đối với sự ổn định trong sản xuất và đời
sống của người dân.
Mặc dầu khai thác rừng đã trở thành một vấn đề xã hội đáng quan tâm và việc hạn chế
nhu cầu lâm sản thay bằng vật liệu mới đã được đặt ra khá lâu nhưng trong thực tế nhu cầu đó
không thể triệt tiêu vì rừng là nguồn sống của cư dân miền núi. Là những người khai khẩn đầu
tiên trên mảnh đất miền Tây Xứ Nghệ, cuộc sống của người dân Quỳ Châu gắn bó với rừng
và nghề rừng. Việc tìm tìm kiếm các giải pháp phát triển nghề rừng giúp ổn định kinh tế - xã
hội cho đồng bào miền núi là một phần hết sức quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu khai thác
rừng đúng mức. Trồng cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng là một trong những hướng đi phù
hợp và đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững ở miền núi. Hiện nay trên thế giới đã biết đến giá
trị sử dụng của 5000 loài thực vật là lâm sản ngoài gỗ. Theo đánh giá chưa đầy đủ của Nhóm
Tư vấn khoa Sinh học, trường Đại học Vinh, ở Nghệ An có tới 600 loài lâm sản ngoài gỗ đã
bài. Hệ số chiết khấu có nhiều loại (hệ số chiết khấu do vay ưu đãi, hệ số chiết khấu của các
ngân hàng, ). Ở đây chúng tôi chọn hệ số chiết khấu bằng lãi suất khi đem vốn đầu tư gửi
ngân hàng. Giả thiết lãi suất gửi ngân hàng là 6%/năm vào thời điểm bắt đầu trồng thử
nghiệm cây Hương bài tại Quỳ Châu.
(2). Xác định giá trị hiện thời (PV - Present Value)
PV = B
t
- C
t
(1)
Trong đó:
PV: Giá trị hiện thời; B
t
: Lợi ích năm thứ t; C
t
: Chi phí năm thứ t
Giá trị hiện thời cho phép xác định lợi nhuận tại một năm nào đó. Tuy nhiên, giá trị này
không cho phép so sánh hiệu quả đầu tư giữa các năm.
(3). Xác định giá trị hiện tại ròng (NPV - Net Present Value )
Chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất trong phân tích kinh tế là giá trị hiện tại ròng (Net
Present Value). Đại lượng này xác định giá trị lợi nhuận ròng hiện thời khi chiết khấu dòng
lợi ích và chi phí trở về với năm cơ sở bắt đầu (năm thứ nhất). Công thức được chúng tôi sử
dụng:
∑
−
−
+
−
=
n
t
n
t
t
t
r
C
r
B
R
1
1
1
1
)1(
)1(
(3)
Tỷ lệ R so sánh lợi ích và chi phí đã được chiết khấu. Trong trường hợp này, lợi ích
được xem là lợi ích thô, bao gồm cả lợi ích môi trường và xã hội, còn chi phí bao gồm vốn
cộng với các chi phí vận hành, bảo dưỡng và thay thế cũng như những chi phí khác (chi phí
cho môi trường và xã hội).
2
Phương án được quyết định là phương án có BCR lớn hơn 1, trong trường hợp có
nhiều phương án khác nhau phải lựa chọn thì phương án được quyết định là phương án có
BCR > 1 và lớn nhất.
2. Ứng dụng phương pháp chi phí - lợi ích vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế cây Hương
bài tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Quỳ Châu là huyện miền núi ở miền Tây Bắc của tỉnh Nghệ An có tiềm năng đất dốc
lớn với 103.963,22 ha, chiếm 98,30% tổng diện tích tự nhiên của huyện. Đây là trung tâm, nơi
nhiều vị có hương thơm khác như hồi, quế và bã mía để làm hương thắp.
+ Làm thuốc Đông y: Hương bài có vị cay, tính ấm, có độc nhiều; tác dụng khư
phong, khử độc, sát trùng, lợi niệu. Lá được giã ra để băng các vết lở loét. Quả mọng dùng
ăn được. Ở Malaixia, người ta dùng cây nấu nước xông; tro rễ cũng như tro lá dùng chế
thuốc bột dẻo chữa mụn rộp mọc vòng. Ở Trung quốc, rễ cây được dùng chữa mụn nhọt
sưng lở ghẻ ngứa, lâm ba kết hạch, hoàng đản, đau bụng, phong thấp tê đau; Rễ cây giã nát
ép lấy nước, tẩm vào gạo sống phơi khô, rang gạo cho thơm làm mồi nhử chuột (bả chuột).
Hương bài còn dùng để chữa trị ngộ độc cấp tính thông thường.
3
Trồng Hương bài trong vườn nhà
+ Làm cây cảnh: Cây Hương bài có dáng hình quạt, thích hợp để làm cây cảnh. Hoa
đẹp (hoa màu tím nhạt hoặc trắng), quả kết thành từng chùm xinh xắn. Thân cao khoảng 1
mét, có thể trồng trong chậu, thường trồng dọc theo lối đi.
Cây Hương bài Hoa Hương bài Quả Hương bài
2.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế cây Hương bài
+ Chi phí đầu tư cho 1 ha cây Hương bài:
* Giống: Giống Hương bài có thể tạo bằng cách dâm hom, tách gốc lấy mẹ hoặc ủ hạt.
Ở đây chúng tôi không nghiên cứu kĩ thuật tạo giống mà chỉ tính chi phí đầu tư để tạo giống
hay chi phí để mua giống. Kết quả khảo sát tại Quỳ Châu cho thấy: một kg giống Hương bài
có giá 7.500 đồng. Để sản xuất một ha Hương bài cần 500kg giống. Như vậy, chi phí về giống
cho mỗi ha cây Hương bài là: 3.750.000 VNĐ
* Công lao động: Công lao động bao gồm công xử lí thực bì, công làm đất (đào hố,
cày bừa), trồng, chăm sóc và thu hoạch.
Xử lí thự bì là khâu trước khi tiến hành trồng Hương bài (gồm: phát, đốt, dọn sạch cỏ).
Tuỳ điều kiện thực bì cụ thể mà thời gian cho công đoạn này nhiều hay ít. Tại huyện Quỳ
Châu, thời gian xử lí thực bì được xác định là 13 công.
Làm đất, trồng: Làm đất toàn diện cày bừa (hoặc cuốc đập nhỏ) cuốc hố kích thước hố
(20x20x20cm). Trước khi trồng bón lót phân chuồng ủ vôi hoai mục, lượng phân 4 tấn/ha,
phân N.P.K 600kg/ha. Sau khi cuốc hố bón lót phân chuồng và N.P.K, vùi lấp đất kín phân,
Đào hố 0,45 0,3 0,36 0,45
Làm cỏ, chăm sóc 0,45 0,36 0,3 0,3
Tổng chi phí
10,64 4,62 6,26 4,35
Với các chi phí, doanh thu như bảng trên, áp dụng công thức 1,2,3 có kết quả về các
giá trị thể hiện hiệu quả kinh tế của cây Hương bài (bảng 2).
Các chỉ số
Năm
1 2 3 4
Chi phí (Đơn vị: triệu đồng)
10,640 4,260 6,260 4,350
Doanh thu (Đơn vị: triệu đồng)
75 108 114 100
Giá trị hiện thời(PV) (Đơn vị: triệu đồng)
64,360 103,740 107,740 95,650
Giá trị hiện ròng(NPV) (Đơn vị: triệu đồng)
64,360 162,228 258,084 338,394
Tỉ suất chi phí – lợi ích (B/C)
7,049 32,401 50,612 72,601
Bảng 2. Hiệu quả kinh tế của cây Hương bài (tính trên 1ha)
3. KẾT LUẬN
- Hương bài là loại cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị nhiều mặt. Qua phân tích và tính
toán cho thấy hiệu quả kinh tế của nó rất cao. Có thể nói, đây là loại cây triển vọng giúp nông
dân vùng cao làm giàu từ đất rừng. Đặc biệt, chúng ta có thể thu hoạch Hương bài từ năm đầu
gieo trồng (khác với các loại cây dài ngày). Nếu đối với cây Cà phê, cây Chè gía trị hiện thời
(PV) và giá trị hiện ròng (NPV) ở năm đầu và năm thứ 2 là âm và tỉ suất chi phí - lợi ích bằng
0 (vì chưa có doanh thu) thì cây Hương bài đạt giá trị cao từ năm thứ nhất (bảng 1). Hiệu quả
kinh tế của cây Hương bài từ năm thứ 3, 4, 5 cũng cao hơn cây Chè và Cà phê rất nhiều, điều
đó thể hiện qua tỉ suất chi phí - lợi ích. Trong khi đó, đầu tư ban đầu để trồng cây Hương bài
không cao (chi phí đầu vào), năm thứ nhất (chỉ trên 7 triệu đồng/ ha), các năm sau chi phí ít
Abstract. Dianella ensifolia is a non - timber plant is currently great demand for market
expansion in Quy Chau district, Nghe An province, where has over 74% of Thai people living
close to the forest. The implementation of the expanded area of Dianella ensifolia in the local
requires scientific evaluation of economic efficiency, social and ecological adaptations of
plants. Methods of Cost-Benefit Analysis - CBA allows to make quantitative calculations,
converted all costs and benefits to a unique unit of measurement is the monetary value. CBA
has great significance in the decision when choosing decision making the reasonable use of
resources, the environment. This paper applied the method Cost-Benefit Analysis to assess the
benefits of economic efficiency Dianella ensifolia plants, providing the specific parameters of
the economic value of this trees and proposed the solutions to expand cultivated areas in Quy
Chau district, Nghe An province.
6