Các phương pháp tư duy sáng tạo - Pdf 12

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BÀI THU HOẠCH
MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: CÁC PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY SÁNG TẠO
GVHD: GS.TSKH. HOÀNG VĂN KIẾM
NGƯỜI THỰC HIỆN: PHẠM VIẾT VĂN
MSHV: 02 08 4805 33 KHÓA: K18
TP. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN


iii.Xác định lời giải hay nhất 9
iv.Chuyển bước 9
4.Phương pháp phân tích hình thái 10
a)Các bước tiến hành: 6 bước 10
b)Ví dụ về phương pháp: 10
5.Kỹ thuật phân tích SWOT 11
a)Cách dùng kỹ thuật SWOT 12
b)Tư duy linh hoạt với SWOT 13
6.Tư duy bên ngoài chiếc hộp (thinking out of the box) 14
a)Tư duy “bên trong chiếc hộp” 14
b)Tư duy “bên ngoài chiếc hộp” 15
c)Tư duy “bên ngoài chiếc hộp” cần những tố chất sau: 15
Kết luận 16
Tham khảo 17
GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Giới thiệu
Thật không quá lời khi nói rằng nếu không có sáng tạo thì không thể có xã hội phát triển như ngày nay.
Nhờ sáng tạo mà con người đã chế ra được biết bao nhiêu thứ để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống cũng
như nâng cao năng suất lao động. Từ thửa sơ khai, con người đã biết cách tạo ra các công cụ như là
búa, rìu để phá cây, đập đá hay săn thú. Đến khi phát triển hơn con người chế ra cái cày, cái cuốc, rồi
đến máy cày Nhờ sáng tạo, con người, qua từng thời đại đã chế tạo ra biết bao nhiêu thiết bị, công cụ
để mở rộng khả năng của chính mình.
Nếu không có tư duy sáng tạo, chúng ta không thể giải quyết được những vấn đề nan giải đòi hỏi có
tính đột phá và hoàn toàn mới lạ, chúng ta sẽ không có được laptop, iPhone, iPad sẽ không có máy
bay, tàu cao tốc, Điều đấy cho thấy sáng tạo có ý nghĩa vô cùng to lớn với sự phát triển của con
người. Tuy nhiên, có một câu hỏi được đặt ra là "làm thế nào để có được tư duy sáng tạo?"
Từ lâu, các nhà khoa học đã nhận thấy sự quan trọng cũng như sức mạnh mà sáng tạo mang lại, nên đã
tiến hành những nghiên cứu nhằm tìm ra các phương án biện pháp thích hợp để kích hoạt khả năng
sáng tạo, tăng cường khả năng tư duy của một cá nhân hay một tập thể làm việc chung trong một lĩnh
vực. Trong bài này chúng ta cùng nhau tìm hiểu về một số phương pháp nâng cao khả năng tư duy sáng

một số nghiên cứu thực nghiệm, Osborn nhận thấy rằng những người giàu trí tưởng tượng có khả năng
phát ra nhiều ý tưởng hơn những người khác nhưng lại yếu về mặt phân tích, phê phán. Ngược lại, một
số người giỏi phân tích, phê bình các ý tưởng có sẵn hơn là tự mình đưa ra ý tưởng mới. Nên ông đề ra
phương pháp để tận dụng khả năng của hai loại người này.
Với não công, các ý niệm/hình ảnh về vấn đề trước hết sẽ được nêu ra
một cách phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càng nhiều,
càng đủ càng tốt. Các ý kiến có thể rất rộng và sâu cũng không giới
hạn bởi các khía cạnh nhỏ nhặt nhất của vấn đề mà những người tham
gia nghĩ tới. Trong não công thì các vấn đề được đào xới từ nhiều khía
cạnh và nhiều góc nhìn khác nhau. Sau cùng, các ý kiến sẽ được phân
nhóm lại và đánh giá.
Não công thường được áp dụng nhiều trong trường hợp:
• Cần phát triển các ý tưởng.
• Giải quyết các vấn đề - các khó khăn, những phương hướng giải quyết mới, phân tích ảnh
hưởng và các đánh giá của vấn đề
• Cần quản lý các quá trình - tìm cách nâng cao hiệu quả công việc và xử lý sản phẩm.
• Quản trị các đề tài - nhận diện đối tượng, độ nguy hại, các phân phối, các tiến độ công việc, tài
nguyên, vài trò và trách nhiệm, thủ thuật, các vấn đề
• Xây dựng đội ngũ (team building) - Tạo sự chia sẻ và bàn thảo về các ý kiến trong khi khuyến
khích người trong đội ngũ tư duy
a) Đặc điểm và yêu cầu:
• Phương pháp này có thể tiến hành bởi một hay nhiều người. Số lượng người tham gia nhiều sẽ
giúp cho phương pháp tìm ra lời giải được nhanh hơn hay toàn diện hơn nhờ vào nhiều góc nhìn
khác nhau bởi các trình độ, trình tự khác nhau của mỗi người.
• Dụng cụ: Tốt nhất là thể hiện bằng một bảng viết cho mọi thành viên đều đọc rõ tình trạng của
hoạt động động não. Nếu tiến hành cá nhân hay vài người thì có thể thay thế bằng giấy viết.
Ngày nay, người ta có thể tiến hành bằng cách nối các máy tính cá nhân vào chung một mạng
4/17
GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
làm cùng tiến hành việc động não. Bằng cách này những người ở xa nhau cùng có thể tham gia

• Tất cả câu trả lời, các ý, các cụm từ, ngoại trừ nó đã được lập lại đều sẽ được thu thập ghi
lại (cách ghi có thể tóm gọn trong một chữ hay một câu cho mỗi ý riêng rẽ).
• Vạch định thời gian cho buổi làm việc và ngưng khi hết giờ
5/17
GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
4. Bắt đầu động não: Người lãnh đạo chỉ định hay lựa chọn thành viện chia sẻ ý kiến trả lời (hay
những ý niệm rời rạc). Thư ký phải viết xuống tất cả các câu trả lời, nếu có thể, công khai hóa
cho mọi người thấy (viết lên bảng chẳng hạn). Không cho phép bất kỳ một ý kiến đánh giá hay
bình luận nào về bất kỳ câu trả lời nào cho đến khi chấm dứt buổi động.
5. Sau khi kết thúc động, hãy lượt lại tất cả và bắt đầu đánh giá các câu trả lời. Một số lưu ý về
chất lượng câu trả lời bao gồm:
• Tìm những câu ý trùng lặp hay tương tự để thu gọn lại.
• Góp các câu trả lời có sư tương tự hay tương đồng về nguyên tắc hay nguyên lí.
• Xóa bỏ những ý kiến hoàn toàn không thích hợp.
• Sau khi đã cô lập được danh sách các ý kiến, hãy bàn cãi thêm về câu trả lời chung.
2. Phương pháp đối tượng tiêu điểm (Method of Focal
Objects)
Phương pháp đối tượng tiêu điểm là một phương pháp tích cực hóa tư duy trong khoa học sáng tạo. Nó
được giáo sư trường đại học tổng hợp Berlin F. Kunze đưa ra những năm 1926 với tên gọi ban đầu là
phương pháp danh mục (catalogue), và được nhà bác học người Mỹ C. Whiting hoàn thiện.
Ý tưởng của phương pháp là cải tiến một đối tượng bằng cách chuyển giao những dấu hiệu (tính chất,
chức năng) của những đối tượng ngẫu nhiên vào đối tượng cần cải tiến. Ví dụ đưa tính chất "thơm" của
"nước hoa" vào đối tượng "bút", ta có "bút có mùi thơm".
a) Các bước thực hiện:
Các bước thực hiện của phương pháp này bao gồm:
• Bước 1: Chọn đối tượng tiêu điểm cần cải tiến
• Bước 2: Chọn ngẫu nhiên 3, 4 đối tượng tiêu điểm.
• Bước 3: Liệt kê các đặc điểm về đối tượng được chọn.
• Bước 4: Kết hợp các đặc điểm của đối tượng được chọn với đối tượng tiêu điểm,
• Bước 5: Phát ý tưởng từ sự kết hợp ở bước 4 dựa trên sự liên tưởng tự do

DOIT giúp bạn tìm ra kỹ thuật sáng tạo nào là tốt nhất.
Chữ DOIT là chữ viết tắt từ Anh ngữ bao gồm:
D: Define Problem (Xác định vấn đề)
O: Open Mind and Apply Creative Techniques (Cởi mở Ý tưởng và Áp dụng các Kỹ thuật Sáng
tạo)
I: Identify the best Solution (Xác định lời Giải hay nhất)
T: Transform (Chuyển bước)
7/17
GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
a) Lịch sử của phương pháp
Kĩ thuật này đã được miêu tả lần đầu trong quyển "The Art of Creative Thinking" (tạm dịch Nghệ thuật
Tư duy Sáng tạo) của Robert W. Olson năm 1980.
b) Cách tiến hành
Dựa theo các bước viết tắt của DOIT việc tiến hành được phân ra như sau
i. Xác định vấn đề
Phần này tập trung vào phân tích vấn đề, để đoán chắc rằng vấn đề được đặt ra là đúng. Những bước
sau đây sẽ giúp khẳng định và cô lập nguyên do của vấn đề:
• Kiểm lại rằng bạn nắm vững vấn đề, không chỉ thấy dấu hiệu của nó. Hãy hỏi lập đi lập lại
rằng tại sao vấn đề tồn tại, cho tới khi nào bạn nhận ra cội rễ của vấn đề.
• Đặt câu hỏi tại sao vấn đề nảy sinh. Điều này có thể dẫn tới mệnh đề tổng quát hơn của vấn
đề.
• Hãy nắm rõ các giới hạn, biên giới của vấn đề. Rút ra từ các đối tượng cái gì là mục tiêu
muốn đạt tới, cái gì ràng buộc những hoạt động/thao tác để đạt mục tiêu, và cái gì là những
điều kiện môi trường có thể thay đổi hay hoán chuyển hay không các điều kiện này.
• Ghi xuống các mục đích, các đối tượng và/hoặc các tiêu chuẩn mà một lời giải của vấn đề
phải thoả mãn. Sau đó, hãy "kéo dãn" mỗi mụch đích, mỗi đối tượng và tiêu chuẩn ra và viết
xuống tất cả những ý tưởng mà nó có thể được "để mắt tới".
• Khi mà vấn đề có vẻ rất lớn, thì hãy chia nhỏ hay bẻ gãy nó ra thành nhiều phần. Tiếp tục
như vậy cho tới khi tất cả các phần chia ra đều có thể giải đoán được trong đúng phạm vi của
nó, hay là phải xác định một cách chính xác những vùng nào cần nghiên cứu để tìm ra.

đánh giá các phương án. Cuối cùng phương án nào cao điểm nhất sẽ được chọn.
• Khi lựa chọn lời giải phải luôn bám sát vào các mục đích của bạn. Việc quyết định sẽ trở nên
dễ dàng khi mà bạn hiểu rõ các mục đích này.
• Ghi ra tất cả những "mặt trái" hay yếu điểm của ý kiến của bạn. Hãy thật sự nghiêm khắc! Cố
gắng để làm tốt lên (mỹ hoá) các mặt xấu này. Sau đó hãy điều chỉnh lời giải để giảm các
khía cạnh yếu kém trên.
• Hãy nhấn mạnh các hậu quả tiềm tàng: xấu nhất cũng như tốt nhất có thể xảy đến khi thực thi
lời giải của bạn. Điều chỉnh lại lời giải để giảm nhẹ hết sức hậu quả xấu và tăng cường tối đa
những ảnh hưởng tích cực. Tiến hành "Chuyển bước" nếu bạn có đủ sức.
iv. Chuyển bước
• Sau khi xác định và đưa ra lời giải cho vấn đề, thì bước cuối cùng là thực hiện lời giải. Biến
lời giải thành hành động. Bước này không chỉ bao gồm sự phát triển sản phẩm bền vững của
các ý kiến của bạn mà còn bao gồm cả các mặt khác (như là thị trường và giao thương nêu
vấn đề có liên quan đến sản xuất). Điều này có thể cần nhiều thì giờ và công sức. Bước cuối
này thường trở nên khó khăn cho nhiều người nghiên cứu độc lập không có kinh nghiệm về
sản xuất. Do đó việc liên kết với các nhà sản xuất có kinh nghiệm hay các nhà đầu tư cũng là
một bước đòi hỏi một số kỹ năng gia tế cần thiết.
• Hiểu biết tường tận về thị trường, địa phương, chế độ, luật lệ, con người, xã hội và các yếu tố
sản xuất tại nơi mình muốn thực thi kế hoạch sẽ đóng vai trò tối quan trọng trong bước này.
• Một lời nhắc nhở khá quan trọng: Khi mà thì giờ cho phép, hãy lợi dụng tìm hiểu thêm những
quá trình nghiên cứu và những dự định khác xem các ý kiến nào đã được thử nghiệm.
• Có rất nhiều nhà sáng tạo thất bại trong giai đoạn này. Họ sẽ có nhiều vui sướng để sáng chế
ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới là những thứ có thể đi trước thị trường hiên tại trong nhiều
9/17
GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
năm. Họ lại thất bại để phát triển chúng và đành bó tay ngắm nhìn những người khác hưởng
lợi trên những ý tưởng sáng tạo này trong rất nhiều năm (như trường hợp của người sáng lập
ra thương hiệu McDonald's, người tìm ra chất kháng sinh penicillin đầu tiên, máy chụp
ảnh )
4. Phương pháp phân tích hình thái

Bước 5:
• YT1 (quán cà phê): A1 (vay) (5đ) + B2 (QBT) (5đ) + C3 (C7) (10đ) + D4 (đồng tính) (10đ)
• YT2 (quán cà phê): A3 (liên kết) (10đ) + B3 (Q7) (5đ) + C1 (T Nguyên) (10đ) + D3 (nam, nữ)
(10đ)
• YT3 (quán cà phê): A2 (tự có) (10đ) + B1 (Q1) (10đ) + C2 (R7) (5đ) + D2 (nữ) (5đ)
=> YT* (quán cà phê): A3 (liên kết) + B1 (Q1) + C1 (Trung Nguyên) + D3 (nam, nữ)
5. Kỹ thuật phân tích SWOT
Nhiều lần trong cuộc sống, chắc chúng ta từng lúng túng khi đứng trước các vấn đề đang đối mặt.
Chúng ta muốn hiểu rõ vấn đề, muốn có cái nhìn từ nhiều phía để thấy rõ những điểm mạnh, điểm yếu,
những nguy cơ và thách thức để có thể đưa ra những quyết định sáng suốt nhất. Trong những tình
huống ấy ta có thể thử sử dụng kỹ thuật phân tích SWOT!
Chữ SWOT viết tắt từ các chữ cái
đầu tiên của các từ sau:
Strengths: các điểm mạnh
Weaknesses: các điểm yếu
Opportunities: các cơ hội
Threats: các đe dọa, mối nguy
Khi sử dụng kỹ thuật SWOT này, chúng ta sẽ vẽ ra trên một tờ giấy hoặc trên một chiếc bảng 4 khu
vực được phân chia thành các mục S, W, O, T. Sau đó dùng kỹ thuật động não (brainstorming) để ghi
các ý kiến hoặc nhận xét chủ quan của cá nhân hay nhóm vào các khu vực tương ứng.
Strengths – Các điểm mạnh: đây là những yếu tố có giá trị hoặc điểm mạnh của tổ chức, cá nhân.
Những yếu tố này là thuộc tính bên trong (internal) và hữu dụng (helpful) của đối tượng đang xem xét.
• Bản thân chúng ta có những ưu điểm nào?
• Những thành công của ta trong năm vừa qua là gì?
• Chúng ta làm công việc nào có kết quả mỹ mãn nhất?
11/17
GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
• Cá tính và nhân cách của bản thân có những nổi trội gì so với người khác?
• Kiến thức nền tảng của tôi được xây dựng theo con đường nào mà người khác không có?
• Team chúng ta có những điểm mạnh gì?

GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
a) Cách dùng kỹ thuật SWOT
Kỹ thuật phân tích SWOT được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh doanh để phân tích tình hình công
ty, nghiên cứu về các đối thủ, …Tuy nhiên, ngày nay kỹ thuật này cũng được sử dụng nhiều trong các
lĩnh vực khác như giáo dục, phát triển cá nhân, …
SWOT có thể dùng cho cá nhân, tổ chức hay trong hoạt động nhóm. Chúng ta có thể dùng giấy viết
hoặc bảng. Một cách dùng khác là sử dụng các tờ giấy dính để phát cho các thành viên trong nhóm.
Mỗi thành viên sẽ viết các thông tin mình biết vào tờ giấy rồi đính lên bảng.
b) Tư duy linh hoạt với SWOT
Sau khi đã nắm vững kỹ thuật phân tích này, chúng ta cần quay lại để nhìn ra một tầm nhìn mới trong
kỹ thuật SWOT.
Việc phân chia các yếu tố thành điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và các mối nguy không nhất thiết là một
sự phân chia cứng nhắc. Chúng ta không nên có một cái nhìn cứng nhắc về Cơ hội và Mối nguy. Vì “cơ
hội có thể chuyển thành mối nguy”, và ngược lại “mối nguy có thể chuyển thành cơ hội” đúng như cụm
từ “nguy cơ” (trong Nguy hiểm có Cơ hội).
Ví dụ:
• Trước nguy cơ học sinh của trường có kết quả thi kém, chúng ta có cơ hội nhìn lại những lý do
tồn tại và các phương hướng cải thiện cho tương lai.
• Trước cơ hội mở rộng nhà trường về mặt nhân sự, tổ chức, cơ sở vật chất, có thể chúng ta sẽ đối
mặt với các mối nguy về tài chính, bộ máy nhân sự thêm cồng kềnh, công việc phân chia không
rõ ràng và chồng chéo.
• Trong nguy cơ của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay, nhiều công ty đã tìm thấy cơ hội
13/17
GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
để tổ chức lại bộ máy, tìm kiếm các thị trường mới, …
Do đó, giữa Nguy và Cơ luôn là một quá trình, một sự chuyển biến qua lại, chúng ta hoặc tổ chức của
chúng ta phải nhìn thấy được điều đó để tìm kiếm một sự cân bằng hoặc chấp nhận các thách thức khi
đưa ra quyết định.
Cuộc sống chứa đựng một sự vận động không ngừng và con người phải vận động khéo léo theo dòng
chạy ấy với một tư duy linh hoạt và tầm nhìn sắc sảo để không rơi vào bất cứ thái cực nào.

vượt qua giới hạn của “chiếc hộp”. Bạn hãy coi đường thẳng đó
không bị giới hạn, kéo dài mãi, khi kéo càng dài thì việc quét hết các
chấm tròn càng rõ ràng. Đây là điều mà những nhà quản lý cần nhân
viên của mình tư duy và bản thân các nhà quản lý cũng cần phát
triển tư duy như vậy. Hãy nhớ, tư duy không có rào cản.
c) Tư duy “bên ngoài chiếc hộp” cần những tố chất sau:
• Sẵn sàng đón nhận những nhiệm vụ mới hàng ngày
• Sẵn sàng làm những việc khác nhau và dám làm theo những cách chưa ai làm
• Tập trung tìm hiểu những ý kiến mới và theo đuổi những ý kiến đó
• Tìm ra những giá trị mới của vấn đề cũ mà chưa ai thấy
• Biết lắng nghe người khác
• Biết hỗ trợ và tôn trọng người khác khi họ đưa ra những ý kiến khác lạ, thậm chí là “điên rồ”
Những người có tư duy ngoài “chiếc hộp” thường là những
người dám đón nhận cái mới, nhìn nhận công việc bằng
những lăng kính mới, sẵn sàng bỏ thăm dò và tìm hiểu những
điều mới mẻ đó. Họ tin rằng những ý tưởng mới dù có thể
chưa thuyết phục được phần đông nhưng họ vẫn nuôi dưỡng
và ủng hộ ý tưởng của mình. Họ nhận thấy rằng có được ý
tưởng là điều tốt nhưng thực hiện ý tưởng còn quan trọng hơn
nhiều.
Tư duy bên ngoài “chiếc hộp” chưa bao giờ là việc đơn giản
và không phải ai cũng có thể có được, có thể theo đuổi. Thành
công chỉ đến với những người dám nghĩ và dám làm.
Nhiều người trong chúng ta đã từng nghe nói đến Copernicus là người đưa ra học thuyết trái đất quay
xung quanh mặt trời còn Gallileo dám mạnh dạn ủng hộ quan điểm này ngay cả khi chết với câu nói:
“Dù sao thì trái đất vẫn quay”. Vào thời điểm đó, có thể ông là một trong những người, thậm chí là
người duy nhất dám vượt rào cản của cả hệ thống tư duy thời bấy giờ khi tất cả đều thừa nhận mặt trời
quay xung quanh trái đất. Nếu không có tư duy vượt giới hạn cả về không gian và thời gian, không dám
theo đuổi ý tưởng của mình thì không biết đến bao giờ loài người mới thoát khỏi ảo tưởng trái đất là
15/17

Mặc dù đã cố gắng, nhưng vì kiến thức có hạn, nên chắc chắn bài tìm hiểu này vẫn còn nhiều hạn chế,
rất mong có được nhận xét đóng góp của thầy và các bạn cùng lớp.
Người thực hiện
Phạm Viết Văn - 02 08 4805 33
16/17
GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Tham khảo
[1] Bài giảng môn Nghiên cứu khoa học, GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
[2] Phương pháp luận sáng tạo khoa học kỹ thuật - Giải quyết vấn đề và ra quyết định, Phan Dũng
[2] http://members.optusnet.com.au/charles57/Creative/Techniques/index.html
[3] http://en.wikipedia.org/wiki/Linus_Pauling
[4] http://thuyuyen.info/brainstorming-%E2%80%93-ky-thuat-dong-nao/
[5] http://vi.wikipedia.org/wiki/DOIT
[6] http://thunhan.wordpress.com/2009/05/25/ky-thuat-phan-tich-swot/
[7] http://www.palgrave.com/skills4study/studyskills/thinking/creative.asp
17/17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status