216
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y VŨ QUANG DIỄN
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CỦA TỔ HỢP CÁC
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
ĐỂ XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN
ĐỊNH HƯỚNG LAO PHỔI MỚI AFB (-)
Chuyên ngành : Nội hô hấp
Mã số : 62.72.20.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Thư viện Quốc gia.
- Thư viện Học viện Quân y. 218
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.
Vũ Quang Diễn, Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn Xuân Triều (2006), “Nh
ận xét
giá trị của kỹ thuật PCR trong chẩn đoán lao phổi mới AFB âm tính”, T
ạp
chí y học quân sự, Cục quân y, (số chuyên đề), ISSN 0866- 725X, tr. 22-
25.
2.
Vũ Quang Diễn, Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn Xuân Triều (2007),
“So sánh
triệu chứng lâm sàng, một số xét nghiệm cận lâm sàng
ở bệnh nhân lao
phổi mới AFB dương tính với lao phổi mới AFB âm tính và b
ệnh phổi
không lao”, Tạp chí y học thực hành, (4), tr. 13-16.
3.
bùng nổ bệnh lao trở lại trên toàn cầu. Lao phổi AFB(-) là thể lao không phát
hiện thấy AFB trong đờm bằng soi trực tiếp nhưng nuôi cấy BK(+), chiếm
khoảng một nửa các trường hợp lao phổi. Lao phổi AFB(-) rất hay bị chậm trễ
trong chẩn đoán, hoặc bị chẩn đoán nhầm với các bệnh phổi không do lao, vì
vậy khi phát hiện được thì bệnh thường đã ở giai đoạn muộn, tổn thương phổi
nặng, là lý do làm cho trong những năm gần đây tỷ lệ tử vong do lao phổi
AFB(-) có xu hướng tăng cao hơn so với lao phổi AFB(+). Việc áp dụng các
kỹ thuật vi sinh hiện đại để chẩn đoán lao phổi AFB(-) vẫn còn khó khăn do
kinh phí làm xét nghiệm cao, thời gian cho kết quả chậm, đòi hỏi đầu tư trang
thiết bị, kỹ thuật cao. Xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán định hướng lao phổi
AFB(-) dựa vào lâm sàng, X.quang phổi, test tuberculin và các kỹ thuật chẩn
đoán khác có thể áp dụng rộng rãi là vấn đề cấp thiết, chưa có nghiên cứu nào
tại Việt Nam công bố. Đề tài tiến hành nhằm 2 mục tiêu :
1. Xác định giá trị của các tổ hợp triệu chứng trong lao phổi mới
AFB(-).
2. Góp phần xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán định hướng lao phổi mới
AFB (-).
Ý NGHĨA KHOA HỌC, NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đây là nghiên cứu tiêu chuẩn chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB(-)
đầu tiên được công bố tại Việt Nam. Bằng mô hình hồi quy logistic đề tài đã
xác định được các tổ hợp triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng có giá trị cao
trong lao phổi mới AFB(-) bao gồm các tổ hợp có từ 2 đến 8 triệu chứng. Sử
dụng mô hình hồi quy logistic và phương pháp phân tích trên đường cong
ROC, đề tài đã xây dựng được ngưỡng điểm và tiêu chuẩn để chẩn đoán định
hướng lao phổi mới AFB(-). Tiêu chuẩn xây dựng đã được kiểm định lại trên 220
một nhóm bệnh nhân mới để đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu, tỷ lệ chẩn đoán
EO (1994), đường kính cục sẩn của phản ứng Mantoux > 9,9mm có Se là
86,5%, nhưng Sp thấp (28%). Luh KT (1996) thấy A60-ELISA có Se:
69,6%, Sp: 92,1% trong lao phổi hoạt động. Test Quantiferon Tuberculosis
có lợi ích trong chẩn đoán nhiễm lao hơn so với phản ứng Mantoux, với độ
nhạy 98%, độ đặc hiệu 89% theo Guan M (2006).
1.2. CHẨN ĐOÁN LAO PHỔI AFB(-)
Chẩn đoán xác định lao phổi AFB(-) phải dựa vào kỹ thuật nuôi cấy BK.
Các phương pháp nhằm cải thiện chất lượng mẫu đờm xét nghiệm (mẫu đờm
chứa nhiều trực khuẩn lao) như : Kích thích bệnh nhân ho khạc, dùng thuốc
long đờm, khí dung, ly tâm đờm, nội soi phế quản lấy bệnh phẩm, sinh thiết
qua thành ngực, cải thiện các kỹ thuật trong quá trình nhuộm soi sẽ tăng hiệu
quả chẩn đoán lao phổi AFB(-). Theo thống kê của CDC (2004) cho thấy tại
Mỹ có 45% số bệnh nhân lao phổi có nhuộm soi đờm AFB(+); 41% AFB(-),
nếu nuôi cấy đờm thì tỷ lệ dương tính đạt 69%. Như vậy còn một tỷ lệ đáng
kể chẩn đoán lao phổi không dựa vào xét nghiệm vi sinh. Chẩn đoán lao phổi
AFB(-) có thể dựa vào lâm sàng, X.quang, test tuberculin, hoặc phối hợp với
các phương pháp chẩn đoán tiên tiến khác.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm 206 bệnh nhân có tổn thương nhu mô phổi trên X-quang, nằm điều trị
tại Bệnh viện lao và bệnh phổi Trung ương –Phúc Yên từ tháng 4/2005 đến
tháng 6/2007. Chia làm 3 nhóm sau khi có chẩn đoán xác định.
Nhóm 1: 72 bệnh nhân lao phổi mới AFB(+), được chẩn đoán xác định
dựa theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế Thế giới (1997) với 2 tiêu chuẩn bắt
buộc sau: Có tối thiểu một tiêu bản nhuộm soi đờm trực tiếp tìm AFB kết quả 222
dương tính. Nuôi cấy đờm phân lập, định danh trực khuẩn lao người dương
IgA, IgM trong máu của bệnh nhân ở các nhóm nghiên cứu.
- Kỹ thuật PCR: Nghiên cứu tần xuất phát hiện thấy trực khuẩn lao trong
đờm của kỹ thuật PCR ở 2 nhóm bệnh nhân lao phổi.
- Nghiên cứu xét nghiệm huyết học thường quy: Nghiên cứu số lượng
hồng cầu, số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu, tốc độ lắng máu của bệnh
nhân ở các nhóm nghiên cứu.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
- Nghiên cứu tiến cứu, mô tả .
* Nghiên cứu lâm sàng: Nghiên cứu sinh trực tiếp khai thác tiền sử, bệnh sử
qua phỏng vấn trực tiếp 206 bệnh nhân nghiên cứu, khám chi tiết, toàn
diện từng bệnh nhân. Kết quả được ghi nhận vào " bệnh án nghiên cứu "
được chuẩn bị trước theo một mẫu thống nhất.
* Nghiên cứu cận lâm sàng:
- Nhuộm soi đờm trực tiếp tìm AFB cho tất cả các đối tượng nghiên cứu, mỗi
bệnh nhân được soi tối thiểu 3 lam kính của 3 mẫu, đánh giá kết quả theo quy định
của Hiệp hội chống lao Thế giới.
- Nuôi cấy đờm tìm BK cho tất cả các đối tượng nghiên cứu, đánh giá kết
quả theo quy định của Hiệp hội chống lao Thế giới.
- Phân tích X.quang phổi chuẩn của tất cả các đối tượng nghiên cứu. Phân
tích tổn thương cơ bản, vị trí tổn thương, tính chất phối hợp tổn thương, mức độ
tổn thương theo tiêu chuẩn của các tác giả.
- Thử phản ứng Mantoux cho 75 bệnh nhân nhóm AFB(-), 71 bệnh nhân
nhóm AFB(+), 56 bệnh nhân nhóm BPKL. Đọc kết quả theo quy định của
Chương trình chống lao Quốc gia, Hiệp hội chống lao Thế giới.
- Xét nghiệm PCR cho 70 bệnh nhân ở nhóm lao phổi AFB(+), 73 bệnh
nhân nhóm lao phổi AFB(-), 54 bệnh nhân ở nhóm BPKL.
- Xét nghiệm ELISA cho 64 bệnh nhân nhóm lao phổi AFB(+), 74 bệnh 224
225
khoảng cách ngắn nhất với góc trên cùng bên trái của đồ thị : Đây là ngưỡng
điểm có giá cao nhất để chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB(-).
* Chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB(-) dựa theo các triệu chứng chính, phụ.
Triệu chứng có số điểm cao nhất là triệu chứng chính. Dựa trên ngưỡng
điểm đã được xác định để chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB(-) chúng
tôi xây dựng nên tiêu chuẩn chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB(-) theo
triệu chứng chính, phụ.
* Kiểm định tiêu chuẩn chẩn đoán định hướng lao phổi mới.
- Kiểm định tiến cứu tại Bệnh viện lao và bệnh phổi Trung ương - Phúc Yên
cho 45 trường hợp nhập viện, có tổn thương nhu mô phổi trên X-quang, tuổi
từ 17 trở lên, không áp dụng cho điểm cho các bệnh nhân có mắc các bệnh
kèm theo: HIV(+), bệnh tiểu đường, suy tim, và các bệnh lý mạn tính khác,
phụ nữ có thai. Bệnh nhân kiểm định được chẩn đoán lao phổi mới bằng soi
đờm trực tiếp dương tính. Hội đồng khoa học Bệnh viện Lao và Bệnh phổi
Trung ương - Phúc Yên chỉ đạo, giám sát và đánh giá kết quả. Tổng điểm của
các trường hợp kiểm định được đối chiếu với chẩn đoán xác định của từng
trường hợp để đánh giá.
- Kiểm định hồi cứu tại Bệnh viện lao và bệnh phổi Trung ương cho 1024
bệnh án đã có chẩn đoán xác định là lao phổi mới, được quản lý tại phòng Kế
hoạch tổng hợp. Tìm các triệu chứng trong bệnh án, đối chiếu với những triệu
chứng có điểm và cho điểm, tính tổng số điểm bệnh án có. Kết luận và ký, ghi rõ họ
tên người tham gia nghiên cứu. Nộp bản điểm cùng với bệnh án về phòng Kế hoạch
tổng hợp, phân công người kiểm tra lần 2 ( đảm bảo khách quan). Người kiểm tra
lần 2 ký, ghi rõ họ tên. Bản điểm được lưu tại bệnh án sau khi đã có tổng kết
và được bảo quản như tư liệu bệnh án.
1
P
2
P
3
Sốt nhẹ về chiều≥2 tuần 46(61,3)
48(66,7)
5(8,4) >0,05
<0,001 <0,001
Mồ hôi đêm 52(69,3)
53(73,6)
7(11,9) >0,05
<0,001 <0,001
Mệt mỏi 67(89,3)
66(91,7)
54(91,5)
>0,05
>0,05 >0,05
Chán ăn 59(78,7)
>0,05 >0,05
Đau ngực 44(58,7)
44(61,1)
48(81,4)
>0,05
<0,01 <0,01
Khó thở 27(36,0)
26(36,1)
17(28,8)
>0,05
>0,05 >0,05
Ran 28(37,3)
51(70,8)
8(13,6) <0,05
<0,001 <0,01
RRPN giảm 30(40) 35(48,6)
28(47,5)
1
P
2
P
3
Tổn thương thâm nhiễm 72(96,0)
64(88,9) 22(37,3)
>0,05
<0,001 <0,001
Tổn thương nốt 25(33,3)
12(16,7) 4(6,8) <0,05
>0,05 <0,001
Tổn thương hang 39(52,0)
61(84,7) 1(1,7) <0,05
<0,001 <0,001
Xơ- vôi 21(28) 11(15,3) 2(3,4) >0,05
<0,01 <0,001
>0,05
>0,05 >0,05
Hai phổi 10(13,3)
5(6,9) 5(8,5) >0,05
>0,05 >0,05
Phối hợp tổn thương 65(86,7)
68(94,5) 4(6,8) >0,05
<0,001 <0,001
Thâm nhiễm + hang 28(37,3)
48(66,7) 0(0) <0,001
<0,001 <0,001
Thâm nhiễm + nốt 14(18,7)
5(6,9) 2(3,4) <0,05
>0,05 <0,01
Thâm nhiễm + hang+xơ 7(9,3) 6(8,3) 1(1,7) >0,05
>0,05 <0,01
Thâm nhiễm + xơ 7(9,3) 2(2,8) 1(1,7) >0,05
1
P
2
P
3
Hồng cầu (T/l) 4,6 ±3,6 4,2± 0,5 4,2±0,7 >0,05
>0,05 >0,05
Bạch cầu (G/l) 8,2 ±4,1 8,6 ±2,2 10,1±3,2 >0,05
>0,05 <0,01
VSS giờ 1(mm) 30,8 ±15,5
31 ±15,2 33,5±17,5 >0,05
>0,05 >0,05
VSS giờ 2(mm) 48,8 ±19,9
43,2±15,7
45,9±17,6 >0,05
>0,05 >0,05
Lymphocyte(%) 21,6 ±7.2 20,1± 6,2
23,8±9,6 <0,01
>0,05 >0,05
Mantoux (+) n(%) 50(66,7) 60(84,5) 11(19,6) <0,05
3.2. GIÁ TRỊ CỦA CÁC TỔ HỢP TRIỆU CHỨNG TRONG LAO PHỔI
MỚI AFB(-)
3.2.1. Lựa chọn các triệu chứng để xây dựng nên các tổ hợp
Xây dựng một mô hình hồi quy logistic cho toàn bộ các triệu chứng gặp với
tần xuất cao ở lao phổi mới AFB(-), khác biệt có ý nghĩa so với nhóm BPKL,
ngoại trừ PCR(+) chúng tôi không đưa vào mô hình. Mô hình hồi quy logistic sẽ
lựa chọn các triệu chứng có giá cao để xây dựng nên các tổ hợp.
230
3.2.2. Giá trị của các triệu chứng được lựa chọn
Bảng 3.4. Giá trị của các triệu chứng được lựa chọn.
Triệu chứng Se
(%)
Sp
(%)
PPV
(%)
NPV
(%)
AC
(%)
Ho khạc đờm 72,0 61,1 73 65 69,4
Sốt nhẹ về chiều ≥2 tuần 61,3 91,5 90,2 65,1 74,6
Ra mồ hôi đêm 69,3 88,1 88,1 69,2 77,6
8
x x x x x x x x
97,2 96,6
7
x x x x x x x
97,9 94,9
6
x x x x x x
96,6 93,2
5
x x x x x
95,2 91,5
4
x x x x
93,8 91,5
3
x x x
85,0 98,3
2
x x
87,6 91,5
Các tổ hợp từ 2- 8 triệu chứng có Se từ 85% - 97,9%, Sp từ 91,5% -
98,3%.
232
3.3.3. Giá trị của các ngưỡng điểm trong lao phổi mới AFB(-)
Bảng 3.8. Giá trị của các ngưỡng điểm trong lao phổi mới AFB(-).
Ngưỡng điểm Se(%) Sp(%) AC(%) LR+ LR-
(0 ) 100 0 56 1 0
(1 ) 100 29 69 1,4048 0
(2 ) 100 42 75 1,7353 0
(3 ) 100 44 75 1,7879 0
(4 ) 100 51 78 2,0345 0
(5 ) 100 69 87 3,2778 0
(6 ) 100 73 88 3,6875 0
(7 ) 100 75 89 3,9333 0
(8 ) 100 86 94 7,375 0
(9 ) 96 92 94 11,328 0,0437
(10) 92 98 95 54,28 0,0814
(11) 88 98 93 51,92 0,1221
(12) 84 98 90 49,56 0,1628
(13) 81 98 89 47,9867 0,1899
(14) 64 100 80 0 0,36
(15) 55 100 75 0 0,4533
Tại các ngưỡng điểm từ 0- 8 điểm có độ nhạy 100%. Ngưỡng điểm từ 14
điểm trở lên có độ đặc hiệu là 100%.
3.3.4. Xác định ngưỡng điểm cho chẩn đoán định hướng lao phổi mới
AFB(-)
Biểu đồ 3.1. Đường cong ROC, ngưỡng điểm chẩn đoán định
hướng lao phổi mới AFB(-).
0.00 0.25 0.50 0.75 1.00
Mantoux(+) 3 Phụ
Mồ hôi đêm 2 Phụ
Ho khạc đờm 1 Phụ
Các triệu chứng có số điểm cao nhất được xếp vào triệu chứng chính là :
Tổn thương X-quang phối hợp và sốt nhẹ về chiều ≥2 tuần : Các triệu chứng
còn lại là triệu chứng phụ.
Bảng 3.10. Chẩn đoán lao phổi mới AFB(-) theo triệu chứng chính phụ.
STT
Tiêu chuẩn
1 2 triệu chứng chính.
2 1 triệu chứng chính + 3 triệu chứng phụ lâm sàng.
3 1 triệu chứng chính + 2 triệu chứng phụ cận lâm sàng
4 1 triệu chứng chính + 1 triệu chứng phụ cận lâm sàng + ≥ 2 triệu
chứng phụ lâm sàng.
5 5 triệu chứng phụ
Chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB(-) khi có một trong 5 tiêu
chuẩn trên. 234
3.4. KIỂM ĐỊNH TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN ĐỊNH HƯỚNG LAO
PHỔI MỚI
3.4.1. Kiểm định tiến cứu tiêu chuẩn chẩn đoán
Bảng 3.11. Kết quả kiểm định tiến cứu tiêu chuẩn chẩn đoán.
Tiêu chuẩn
chẩn đoán
151
37
92
8
2
416
2
4
6
8
10
12
14
16
18
Văn Sáng (1998) thấy trong lao phổi mới AFB(+): Ho khạc đờm kéo dài là
80,9%, sốt về chiều 57,9%. El- khushman H (2006) thấy ở 137 trường hợp lao
phổi: Ho: 79%, sút cân: 74%, mệt mỏi: 69%, sốt nhẹ về chiều: 69%, mồ hôi
đêm: 55%, đau ngực: 41%, khó thở: 39%, ho ra máu: 31%. Theo Bùi Xuân
Tám(1988) thì các trường hợp lao nhẹ, lao mới phát hiện khi nghe phổi có thể
vẫn bình thường, nhưng lao phổi có hang đang tiến triển thì thường nghe thấy
ran nổ, ran ẩm ở vùng đỉnh phổi, vùng liên bả cột sống, hố nách, cũng có thể
chỉ thấy rì rào phế nang giảm ở vùng tổn thương. Thomas C (2004) cho biết tỷ
lệ ho khạc đờm, sốt, gầy sút cân ở nhóm lao phổi AFB(-) là 84,2
%, 50,0 %,
62,5 %, thấp hơn so với nhóm lao phổi AFB(+): 92,0 %, 57,7 %, 70,7 %.
4.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng ở 3 nhóm
* Đặc điểm X.quang:
Chúng tôi thấy tổn thương thâm nhiễm, tổn thương hang, tổn thương ở
thùy trên của phổi, phối hợp các hình thái tổn thương là những đặc điểm
X.quang ở 2 nhóm lao phổi chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn nhóm BPKL (bảng 3.2),
một số nghiên cứu khác cho kết quả tương tự: Gomes M (2003) cho thấy
trong 153 bệnh nhân lao phổi mới, tổn thương thâm nhiễm là 86,5%, hang
55%, 45,5% thâm nhiễm có hang. Rathman G (2003) nghiên cứu ở bệnh nhân 236
lao phổi mới AFB(+) thấy tổn thương thâm nhiễm chiếm >90%, hang: 60,6%,
khu vực cao: 95%. Wilcke JT (1998) nghiên cứu 548 trường hợp lao phổi mới
thấy tổn thương thuỳ cao chiếm 92%, có 8% số bệnh nhân có tổn thương ở các vị
trí khác. El- khushman H và Cs(2006) thấy ở lao phổi mới có 71% là tổn
thương thâm nhiễm phối hợp với các tổn thương khác, tổn thương ở phổi phải
là 51%, phổi trái: 27%, tổn thương 2 phổi là 22%, tổn thương thùy cao 63%.
nhóm lao phổi AFB(+) là 87,6%, nhóm lao phổi AFB(-) là 50%, 0% ở nhóm
ung thư phổi. Maekura
R và Cs(2001) cho thấy ELISA có độ nhạy là 81,1%, độ
đặc hiệu là 95,7% trong lao phổi hoạt động, lao phổi AFB(-), ELISA có độ nhạy
là 73,5%. Luh KT và Cs (1996) nghiên cứu ở 273 bệnh nhân lao phổi hoạt động
thấy A60-ELISA có Se: 69,6%, Sp: 92,1%, PPV: 67,9%, NPV: 89,2%. Nhiều
tác giả cho rằng kết quả của ELISA phần lớn phụ thuộc vào kháng nguyên sử
dụng để phát hiện kháng thể kháng lao. Điều này giải thích sự khác nhau về
kết quả của ELISA ở mỗi nghiên cứu, tuy nhiên đều thống nhất với nghiên
cứu của chúng tôi ở điểm là độ nhạy của ELISA ở nhóm lao phổi AFB(+) cao
hơn so với nhóm AFB(-), tỷ lệ ELISA(+) của nhóm lao phổi cao hơn nhiều so
với nhóm BPKL.
* Kết quả PCR ở 3 nhóm:
PCR(+) ở 2 nhóm bệnh nhân lao phổi chiếm tỷ lệ cao: Nhóm AFB(+):
98,6%, nhóm AFB(-): 91,7 %. Có 5,5% ở nhóm BPKL có PCR(+) (bảng 3.3)
Một số kết quả nghiên cứu về độ nhạy của PCR trong lao phổi AFB(+) và
AFB(-): Clarridge JE: 94% và 62%, Miller N : 98% và 78%, Nolte FS: 95%
và 57%, Yuen KY: 100% và 92%. Hồ Minh Lý (2003) thấy ở bệnh nhân lao
AFB(-), PCR(+) từ 60%-85%, độ đặc hiệu: từ 90%-100%, PCR(+) ở bệnh
phẩm nuôi cấy (+) là 92%. Độ nhạy, độ đặc hiệu của PCR trong nghiên cứu
của chúng tôi phù hợp nghiên cứu của Hồ Minh Lý và Yuen KY, nhưng so
với các nghiên cứu khác trên Thế giới thì độ nhạy của PCR ở nhóm AFB(-)
trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn, lý do của sự khác biệt này là nhóm
AFB(-) của chúng tôi được chọn có kết quả nuôi cấy BK(+).
238
239
cho thấy sốt nhẹ về chiều ≥2 tuần, tổn thương X.quang phối hợp có số điểm
cao nhất (5 điểm mỗi triệu chứng). Chúng tôi không đưa PCR vào xây dựng
thang điểm chẩn đoán vì: PCR được coi gần như là tiêu chuẩn vàng, ngoài ra
mục tiêu nghiên cứu là sử dụng các kỹ thuật đơn giản, tiện lợi, có thể áp dụng
rộng rãi để chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB(-). Bảng 3.8 cho biết độ
nhạy, độ đặc hiệu và tỷ lệ chẩn đoán đúng, LR tại từng ngưỡng điểm cụ thể của
thang điểm chẩn đoán định hướng lao phổi mới AFB(-). Độ đặc hiệu tăng theo
ngưỡng điểm, nhưng độ nhạy thì càng giảm.
Sử dụng phương pháp phân tích đường cong ROC, để chẩn đoán định
hướng lao phổi mới AFB(-) chúng tôi chọn ngưỡng điểm 10 điểm. Tại ngưỡng
10 điểm có độ nhạy là 92%, độ đặc hiệu: 98% ( Biểu đồ 3.1).
Tattevin P và Cs (1999) xây dựng thang điểm để dự đoán lao phổi trên
211 bệnh nhân cho thấy: Tiêm BCG > 10 năm được 1 điểm, không tiêm BCG:
2 điểm, không nhiễm HIV: 5 điểm, lâm sàng điển hình: 12 điểm, X.quang điển
hình 14 điểm. Ngưỡng điểm dự đoán là 18 điểm với độ nhạy là 100%, độ đặc
hiệu là 48,4%.
Wisnivesky JP và Cs (2000), xây dựng thang điểm dự đoán lao phổi cho
thấy: Lâm sàng và các yếu tố nguy cơ cho lao phổi được 4 điểm, Test
tuberculin(+): 5 điểm, X.quang đông đặc thùy trên phổi được 6 điểm, ran nổ
được 3 điểm. Juan PW và Cs (2000) dự đoán lao phổi AFB(-) dựa vào lâm
sàng và X.quang cho thấy: Ngưỡng chẩn đoán lao phổi có độ nhạy 98%, độ
đặc hiệu 46%. Do có sự khác nhau về dịch tễ bệnh lao ở mỗi khu vực nghiên
cứu giữa các tác giả nên các triệu chứng được cho điểm và số điểm của các
triệu chứng giữa các nghiên cứu có khác nhau. Tuy nhiên có thể thấy triệu
chứng lâm sàng, X-quang, Mantoux phù hợp với lao được sử dụng nhiều
trong thang điểm để dự đoán lao phổi với số điểm được cho cao. Ngưỡng
điểm được chọn để chẩn đoán lao phổi của các tác giả có độ nhạy cao hơn, độ