Nghiên cứu ứng dụng laser Nd/YAG với hai bước sóng khác nhau cắt mống mắt chu biên điều trị glôcôm góc đóng - Pdf 12


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y PHẠM TÂN TIẾN
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG LASER Nd:YAG VỚI HAI
BƯỚC SÓNG KHÁC NHAU CẮT MỐNG MẮT CHU
BIÊN ĐIỀU TRỊ GLÔCÔM GÓC ĐÓNG CHUYÊN NGÀNH: PHẪU THUẬT ĐẠI CƯƠNG

Chuyên ngành: Nhãn khoa

MÃ SỐ: 62 72 56 01
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Quân y
- Thư viện Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 DANH MỤC CÔNG TRÌNH VÀ BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ
CỦA TÁC GIẢ 1. Phạm Tân Tiến, Nguyễn Hồng Giang, Trần Nguyệt Thanh (2003),
Nhận xét một số thông số kĩ thuật laser Nd:YAG cắt mống mắt, Tạp chí Y
học Việt Nam, 293, Tr. 110-114.
2. Phạm Tân Tiến, Nguyễn Hồng Giang (2003), Kết quả theo dõi một năm
điều trị glôcôm có nghẽn đồng tử bằng phương pháp sử dụng laser Nd:YAG
cắt mống mắt chu biên, Tạp chí Y học Việt Nam, 293, Tr. 115-120.
3. Trần Nguyệt Thanh, Phạm Tân Tiến, Nguyễn Hồng Giang (2007),
Phối hợp laser hiệu ứng nhiệt và quang phá hủy cắt mống mắt chu biên:
nhận xét bước đầu các thông số laser, Tạp chí Nhãn khoa Việt Nam, 9, Tr. 3-
8
4. Lê Thị Đông Phương, Phạm Tân Tiến, Đỗ Tùng Lâm (2007), Đánh giá
kết quả bước đầu sử dụng laser Nd:YAG 532 nm quang đông điều trị dự
phòng bong võng mạc, Tạp chí Nhãn khoa Việt Nam, 9, Tr. 22-30
5. Phạm Tân Tiến, Trần Nguyệt Thanh, Nguyễn Hồng Giang (2008), Kết
quả theo dõi nhãn áp sau một năm cắt mống mắt bằng phối hợp laser
Frequency-doubled Nd:YAG và Q-switched Nd:YAG điều trị glôcôm góc
đóng, Tạp chí Nhãn khoa Việt Nam, 10, Tr. 53-58.


hiệu ứng nhiệt và quang hủy của laser Neodym:YAG, là frequency-
doubled Nd:YAG và laser Q-switched Nd:YAG, cắt mống mắt điều trị
glôcôm góc đóng ở Việt nam. Nghiên cứu đã đánh giá được hiệu quả
của phương pháp và hạn chế các biến chứng khi phối hợp hai laser cắt
mống mắt. Phương pháp này giúp việc cắt MM bằng laser trở nên dễ
dàng hơn và đặc biệt hạn chế được biến chứng chảy máu.
2. Nghiên cứu đã đưa ra được quy trình điều trị, kĩ thuật và các thông
số của hai loại laser trong phối hợp cắt mống mắt ở người Việt nam một
cách hiệu quả, và có thể áp dụng phổ biến ở các cơ sở đã trang bị máy
laser.
3. Bố cục của luận án:
Luận án gồm 114 trang, gồm:
Đặt vấn đề 2 trang
Tổng quan 35 trang
Đối tượng và phương pháp 12 trang
Kết quả 21 trang
Bàn luận 42 trang
Kết luận 2 trang
Có 27 bảng, 5 biểu đồ, 21 hình ảnh.
Có 156 tài liệu tham khảo: Tiếng Việt: 13, tiếng Anh: 140, tiếng Pháp:
2, tiếng Nga: 1.
Có 3 phụ lục 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Một số nét về sự hình thành và lưu thông thủy dịch
Thủy dịch (TD) được tạo thành chủ yếu ở các nếp thể mi và đổ vào hậu
phòng (HP), sau đó qua lỗ đồng tử ra tiền phòng. TD thoát khỏi tiền
phòng qua góc MM-giác mạc. Khoảng 85-90% TD thoát lưu qua đường

ra có ưu thế trong cắt MM. Loại laser này cắt MM không phụ thuộc vào
màu sắc, tuy nhiên dễ gây chảy máu và cũng khó khăn ở những MM
nâu, dày. Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng đơn thuần một loại laser
cắt MM thường gặp một số khó khăn và tỉ lệ phải tiến hành điều trị từ 2
lần trở lên khá cao, tỉ lệ biến chứng cũng cao hơn. Để khắc phục hạn
chế của sử dụng từng loại laser đơn thuần một số tác giả đã sử dụng
phối hợp laser hiệu ứng nhiệt và hiệu ứng quang hủy trong cắt MM như
Goin (1990), Ho (1992), Motschmann(1995), Pandav(2007). Kết quả
phối hợp laser trong cắt MM đã cho kết quả rất tốt, phát huy được ưu
điểm về tác động sinh học của mỗi loại laser, tỉ lệ thành công cao, đặc
biệt ở những mắt màu nâu, mật độ nhu mô chặt, dày ở người châu Á.
1.3.3. Chỉ định cắt mống mắt bằng laser
Tương tự như cắt MM bằng phẫu thuật. Trừ một số trường hợp như
giác mạc mờ đục, TP quá nông, mắt rung giật nhãn cầu nhiều, bệnh
nhân không hợp tác.
1.3.4. Ưu điểm của cắt mống mắt bằng laser: Chỉ cần dùng thuốc tê bề
mặt, không phải mở nhãn cầu, có thể điều trị ngoại trú, chăm sóc sau
mổ đơn giản, có thể làm việc sớm.
5
1.3.5. Nhược điểm của cắt mống mắt bằng laser: Không thực hiện
được ở mắt có giác mạc bị mờ đục, tiền phòng quá nông, bệnh nhân
không hợp tác, mắt rung giật nhãn cầu nhiều.
1.4. Các tương tác của laser với tổ chức sinh học
1.4.1. Hiệu ứng nhiệt
1.4.2. Hiệu ứng quang hủy
1.4.3. Hiệu ứng quang- hóa học.
1.5. Một số laser phổ biến được dùng trong cắt mống mắt:
1.5.1. Laser argon: Tác động hiệu ứng nhiệt
1.5.2. Laser Neodym:YAG:
- Laser Q-switched Nd:YAG: có tác động hiệu ứng quang hủy


Theo tính toán số mắt cần nghiên cứu là 73. Trong nghiên cứu là 82
mắt.
2.2.3. Phương tiện nghiên cứu: Bảng thị lực, hộp thử kính, nhãn áp kế
Maclakov quả cân 10g, thị trường kế Maggiore, máy soi đáy mắt trực
tiếp, sinh hiển vi có gắn máy ảnh, kính 3gương Goldmann. Phương tiện
phẫu thuật: kính tiếp xúc Abraham, máy laser Nd:YAG bước sóng 532
nm nhãn hiệu Laserex Integre SP, máy laser Q-switched Nd:YAG bước
sóng 1064 nm nhãn hiệu Laserex LQ2106.
2.3. Qui trình nghiên cứu:
2.3.1. Đánh giá lâm sàng trước điều trị: Khám xét lâm sàng, đo thị lực
có chỉnh kính, đo thị trường, nhãn áp, khám giác mạc, đánh giá tiền
phòng, góc tiền phòng theo phân độ Shaffer, tình trạng MM và lựa chọn
vị trí laser để cắt MM. Khám đánh giá tình trạng thể thủy tinh, tình
trạng đĩa thị giác.
2.3.2. Phương pháp điều trị: Bệnh nhân có cơn tăng nhãn áp được cho
thuốc hạ nhãn áp trước khi phẫu thuật. Tiến hành laser cắt MM khi nhãn
áp về bình thường, giác mạc trong trở lại. Tra thuốc co đồng tử
pilocarpin 1-2%, tra Dicain 1% 2-3 lần trước khi laser.
7
Điều trị gồm 2 bước: Bước 1: sử dụng laser frequency-double
Nd:YAG quang đông vị trí mở MM. Thông số laser được đặt: Đường
kính hội tụ tia 100-500µm, công suất 300-800mW, độ dài xung 0,2-0,5
giây, số phát bắn 4-12 phát để đạt được vết quang đông màu đen nhạt,
MM mỏng đi 1/2-2/3 chiều dày. Bước 2: sử dụng laser Q-switched
Nd:YAG xuyên thủng MM, thông số được đặt như sau: Năng lượng từ
2-7mj, số phát bắn có thể tới 15 phát để tạo được lỗ cắt MM có đường
kính 200-500µm. Sau điểu trị tra thuốc có kháng sinh và steroid.
2.3.3.Theo dõi sau điều trị: Theo dõi sớm: 1 giờ,1 ngày, 1tuần, 1 tháng.
Theo dõi muộn: 1, 3, 6, 9, 12 tháng. Nội dung theo dõi: thị lực, nhãn áp,

1 ngày là 86,6%, 1 tuần là 95,1%, 1 tháng là 92,7% và ở giai đoạn
muộn đều ở tỉ lệ 97,6 đến 98,8%.
3.2.2. Kết quả nhãn áp
Bảng 3.6: Kết quả nhãn áp trung bình giai đoạn sớm sau điều trị
Thời gian
Số mắt (n)
Nhãn áp trung
bình (mmHg)
SD
Trước điều trị 82 17,67 1,75
Sau 1 giờ 82 18,10 2,64
Sau 1 ngày 82 17,43 1,65
Sau 1 tuần 82 17,53 2,54
Sau 1 tháng 82 17,45 1,49
9
Bảng 3.13: Kết quả nhãn áp trung bình giai đoạn muộn sau điều trị
Thời gian
Số mắt (n) NA TB (mmHg)
SD
Sau 3 tháng 82 17,35 1,33
Sau 6 tháng 82 17,19 1,07

239,02 81,28
Công suất (mW) 532,31 116,10
Thời gian (giây) 0,36 0,11
Số phát bắn 5,26 2,01
Năng lượng/phát bắn(mj) 194,93 73,75
Tổng năng lượng/mắt(mj) 1121,46 471,59

3.5.2 Thông số laser Q-switched Nd:YAG
Bảng 3.21: Kết quả các thông số laser Q-switched Nd:YAG
Thông số laser Trung bình SD
Số phát bắn 8,2 3,8
Năng lượng/ phát bắn (mJ) 4,93 2,89
Tổng năng lượng/mắt (mj) 36,6 16,65

Tổng năng lượng của cả hai laser hiệu ứng nhiệt và quang hủy để cắt
MM thành công là 1158,07±474,38 mJ. 11
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1. Nhận xét kết quả chức năng
4.1.1. Nhận xét về kết quả thị lực: Sau 12 tháng, số mắt có thị lực
<3/10 giảm dần, sau 1 tháng không có mắt nào thị lực < ĐNT 3m. Số
mắt thị lực ≥ 7/10 tăng nhiều nhất vào tháng thứ 3 sau điều trị, có lẽ
đây là giai đoạn thị lực phục hồi và ổn định (biểu đồ 4.1)

Biểu đồ 4.1: Tình hình thị lực trước và sau điều trị
Đánh giá sự biến đổi thị lực, chúng tôi thấy giai đoạn sớm thị lực ít
biến đổi. Tuy nhiên, số mắt thị lực giảm xảy ra nhiều nhất ở thời điểm
sau 1 ngày điều trị với tỉ lệ 6,09%, điều này phù hợp do một số biến

PT 1

ngµy

Sau PT 1
tuÇn

Sau

PT 1

th¸ng

Sau
PT
3

th¸ng

Sa
u

PT 6

th¸ng

Sau

1 mắt tăng sau 5 ngày, sau 3 ngày điều trị bằng bằng thuốc hạ nhãn áp,
nhãn áp đều trở về giới hạn bình thường, không cần thêm thuốc hạ nhãn
áp. Ỏ các thời điểm theo dõi đến 12 tháng không có mắt nào tăng quá
24 mmHg. Diễn biến nhãn áp ổn định với mức nhãn áp trung bình ở
giới hạn bình thường, độ lệch chuẩn thấp dần và ổn định. So sánh bằng
phương pháp test T ghép cặp cho thấy, nhãn áp ở các thời điểm sau 1
giờ, 1 ngày, 1tháng, 3 tháng và 12 tháng so với trước điều trị không có
sự khác biệt (p>0,05). Tại thời điểm 6 và 9 tháng nhãn áp giảm có ý
nghĩa so với trước điều trị (p<0,05). Như vậy, gợi ý cho ta phải tiếp tục
theo dõi nhãn áp vì nhãn áp có thể tăng ở các thời điểm muộn hơn.
Motsmann (1995) cắt MM bằng phối hợp laser hiệu ứng nhiệt và quang
hủy, theo dõi 2,8 năm thấy 89% mắt trong giới hạn bình thường. Fleck
(1997) trong một nghiên cứu cắt MM bằng phẫu thuật và laser điều trị
glôcôm góc đóng cấp tính cho thấy kết quả nhãn áp không có sự khác
biệt giữa hai phương pháp. Tỉ lệ nhãn áp bình thường sau cắt MM bằng
laser 3 năm là 71, 4%, tỉ lệ này của chúng tôi cao hơn có thể do thời
gian theo dõi còn ngắn và đa số bệnh ở giai đoạn sớm.
13 Biểu đồ 4.2: Biểu đồ diễn biến nhãn áp trước và sau điều trị 12 tháng
Diễn biến của nhãn áp trước và sau điều trị (Biểu đồ 4.2) cho thấy
nhãn áp tăng cao nhất sau 1 giờ, điều này tương ứng với tăng nhãn áp
thường xảy ra ở giờ đầu, sau 1 tháng đến 12 tháng nhãn áp ít dao động,
chỉ trong khoảng trung bình 17,2-17,4 mmHg. Rõ ràng, cắt MM bằng
laser đạt hiệu quả cao, đã điều chỉnh và duy trì nhãn áp ổn định, một
mục tiêu quan trọng trong điều trị glôcôm.
4.1.3. Nhận xét tình trạng thị trường: Trước điều trị, 100% mắt không
có biến đổi thị trường do các mắt đều ở giai đoạn sớm của bệnh. Sau
điều trị, thị trường đa số không biến đổi, chỉ có một mắt thị trường thu

(2003) nghiên cứu trên 55 mắt góc đóng cấp ở người châu Á thấy
có sự
mở rộng góc sau cắt MM chu biên bằng laser argon phối hợp với Q-
15
switched Nd:YAG, và độ mở góc tăng ở cả bốn góc phần tư. Các tác giả
đã sử dụng các thiết bị chẩn đoán hình ảnh hiện đại để đo chính xác góc
tiền phòng bằng siêu âm. Độ mở của góc được đo bằng cách sử dụng
khoảng mở góc AOD (angle-opening distance) ở điểm cách cựa củng
mạc 250 và 500 µm (AOD250 và AOD500) và diện tích vùng ngách
của góc ARA (angle recess area). Kết quả khám trên 55 mắt cho thấy:
AOD250, AOD500 và ARA tất cả đều tăng có ý nghĩa sau mở mống
mắt bằng laser (p<0,002). Nghiên cứu của Trần Thị Nguyệt Thanh và
Nguyễn Thị Hoàng Thảo (2007) trên người Việt nam gồm các bệnh
nhân glôcôm góc đóng nguyên phát giai đoạn tiềm tàng và sơ phát
cũng thấy tất cả các góc tiền phòng đều tăng độ mở sau khi laser cắt
mống mắt. Các tác giả cho rằng khi dòng thủy dịch đi qua lỗ cắt sẽ đẩy
chân mống mắt phẳng ra, làm góc tiền phòng mở rộng, điều này đặc
biệt hiệu quả khi các góc tiền phòng đóng cơ năng chưa có dính góc.
4.2.3. Tình trạng đĩa thị giác: Trước điều trị có 2 mắt (2,4%) có tỉ lệ
lõm đĩa 3/10. Sau điều trị không thấy thay đổi đĩa thị giác ở tất cả các
mắt được theo dõi tại các thời điểm trong một năm. Một số nghiên cứu
đã chỉ ra rằng sự phá hủy thần kinh thị giác trong glôcôm góc đóng
nguyên phát phụ thuộc vào nhãn áp hơn là glôcôm góc mở nguyên phát.
Chúng tôi nhận thấy bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi
sau cắt mống mắt bằng laser đã điều chỉnh tốt nhãn áp, có lẽ nhờ kết
quả này mà không có sự biến đổi thần kinh thị giác sau một năm theo
dõi.
4.3. Nhận xét về biến chứng
4.3.1. Biến chứng chảy máu: Các tác giả đều cho rằng biến chứng chảy
máu tại vị trí cắt thường phổ biến hơn khi sử dụng laser hiệu ứng quang

Nd:YAG là 22% (từ 0-69%, số liệu từ 13 nghiên cứu), và khi sử dụng
phối hợp hai laser trên tỉ lệ này là 9% (từ 8-10%, số liệu từ 2 nghiên
cứu). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có biến chứng tổn thương giác
mạc là 4,8%, thấp hơn tỉ lệ trung bình đục giác mạc sau laser mở MM
với sử dụng từng loại laser Argon hoặc Q-switched.
4.3.3. Tổn thương thể thủy tinh: Trong nghiên cứu của chúng tôi
không thấy trường hợp nào tổn thương thể thủy tinh do laser. Tuy nhiên
cũng đã có tác giả cảnh báo nguy cơ laser cắt MM có thể gây tổn
thương bao trước và đục TTT cục bộ.
4.3.4. Tăng nhãn áp: Hầu hết các tác tác giả đều cho rằng, tăng nhãn áp
sau cắt mống mắt bằng laser là biến chứng khá phổ biến, và xảy ra sớm
và thường những giờ đầu sau điều trị. Các nghiên cứu cũng cho thấy
tăng nhãn áp xảy ra sau cắt MM bằng laser argon không khác biệt so
với cắt MM bằng laser Q-switched Nd:YAG [22]. Tuy nhiên, trong
nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ này chỉ ở mức 6,09%, và nhãn áp tăng
sớm trong 24 giờ đầu sau điều trị, kết quả của chúng tôi có 4/5 mắt tăng
nhãn áp ngay sau giờ đầu, 1 mắt tăng NA sau 5 ngày. Chúng tôi thấy
các mắt có tăng NA vẫn duy trì được lỗ cắt MM từ 150-300µm. Chang
và cộng sự (1991) thấy 10% tăng nhãn áp sau mở MM bằng laser argon,
Kitazawa (1989) thấy 22,2% tăng nhãn áp sau cắt mống mắt bằng laser
Q-switched Nd:YAG, Ho và cộng sự trong kết quả nghiên cứu sử dụng
laser argon phối hợp laser Q-switched Nd:YAG cũng thấy tăng nhãn áp
sau điều trị là 25%. Kết quả tăng nhãn áp sau điều trị của chúng tôi thấp
hơn, có lẽ do số mắt giai đoạn tiềm tàng chiếm đa số (57,3%) trong
nghiên cứu.
18
4.3.5. Viêm màng bồ đào và dính sau: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng
hầu hết bệnh nhân đều có viêm màng bồ đào (MBĐ) trước thoảng qua
mức độ nhẹ sau cắt MM bằng laser. Tuy nhiên, viêm MBĐ có triệu
chứng lâm sàng sau mở MM bằng laser hiệu ứng nhiệt gặp nhiều hơn so

và Q-switched Nd:YAG là 0,5%, các tác giả cho rằng tỉ lệ lỗ cắt đóng
lại sau cắt MM bằng phối hợp laser argon và Q-switched Nd:YAG
không khác biệt so với cắt MM bằng laser Q-switched đơn thuần. Teoh
(2000) đã quan sát sự đóng lại lỗ cắt MM bằng laser argon theo sau sự
tái phát triển biểu mô sắc tố MM. Tác giả cho rằng sự tăng nhanh sắc tố
liên quan đến đóng lại lỗ cắt MM, và thường phổ biến hơn đối với cắt
MM bằng laser argon. Rõ ràng kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy sự phối hợp hiệu ứng nhiệt và hiệu ứng quang hủy của hai bước
sóng laser Nd:YAG trong cắt MM bằng laser đã làm giảm nguy cơ gây
viêm làm đóng lại lỗ cắt MM, giúp lỗ cắt duy trì tốt, không bị đóng lại.
4.3.8. Biến chứng khác: Chúng tôi không gặp một số biến chứng khác
sau mở MM bằng laser được một số báo cáo đã nêu như: Tổn thương
võng mạc, glôcôm ác tính, nhìn đôi và lóa mắt v.v
4.4. Đánh giá kết quả
4.4.1. Thành công về mặt giải phẫu: Về giải phẫu chúng tôi thấy 100%
mắt đều cắt được MM thành công với một lần điều trị. Ho và Fan
(1992), De Silva và cộng sự (2007) khi sử dụng phối hợp laser argon và
Q-switched Nd:YAG cắt MM cũng cho kết quả thành công 100% trong
một lần điều trị. Đây là điểm lợi thế hơn hẳn của việc sử dụng phối hợp
hai loại hiệu ứng nhiệt và quang hủy của laser trong cắt MM so với sử
20
dụng từng loại đơn thuần. Trong một nghiên cứu của H.A.Quigley
(1981) tỉ lệ thành công cắt được MM bằng laser argon đơn thuần trong
một lần điều trị chỉ đạt 43%, và 53% phải điều trị 2 đến 3 lần, có mắt
phải tiến hành bốn lần điều trị mới mở được MM. Với việc sử dụng
laser Nd:YAG Q-switched đơn thuần để cắt MM ở người Việt nam
trong một nghiên cứu của Trần Thị Nguyệt Thanh và cộng sự (2000)
cho thấy tỉ lệ mở MM thành công trong một lần điều trị là 65,8%, phải
điều trị 2 đến 3 lần là 34,2%.
4.4.2. Đánh giá kết quả chung: Theo tiêu chuẩn thành công sau cắt

thước điểm hội tụ hoặc cả hai. Chúng tôi sử dụng laser Frequency-
doubled Nd:YAG với hiệu ứng nhiệt chỉ ở bước một để quang đông
MM như bước chuẩn bị nhằm hạn chế chảy máu và phần nào mỏng bớt
MM, không dùng laser này để xuyên thủng MM. Chúng tôi nhận thấy
nên đặt các thông số laser quang đông như sau để đạt được vết quang
đông mong muốn: đường kính tia: 200-300µm , công suất 500-700mW,
độ dài xung 0,2-0,3 giây, 5-8 phát bắn. Tony Ho và Richard Fan (1990)
sử dụng laser argon ở bước một với các thông số: đường kính tia 50 µm,
công suất 700mW, và độ dài xung 0,1 giây. Các tác giả dùng đường
kính tia nhỏ với thời gian ngắn, nhưng Ho và cộng sự đã dùng rất nhiều
phát bắn, trung bình là 55±26 (từ 15-140 phát). Các tác giả cho rằng
điều quan trọng là đạt được sự hình thành lớp sắc tố đen, bởi vì điều này
sẽ hấp thụ năng lượng tia laser tới mà không làm bốc hơi và hình thành
lớp chắn làm ảnh hưởng tới sự xuyên thủng sau đó. Về năng lượng
laser frequency-doubled Nd:YAG, kết quả nghiên cứu của chúng tôi
22
như sau: năng lượng/phát bắn là 194,93 ± 73,75 mJ và tổng năng
lượng/mắt là 1121,46± 471,59 mJ. Nếu so với sử dụng laser argon đơn
thuần để cắt mống mắt, mức tổng năng lượng/mắt có thể lên tới 10J
(=10000 mj), thì mức năng lượng này thấp hơn nhiều. Rõ ràng, bằng
phương pháp phối hợp hai hiệu ứng quang nhiệt và quang hủy của laser
trong cắt mống mắt đã hạ thấp rất nhiều tổng mức năng lượng laser hiệu
ứng nhiệt cần sử dụng. Có thể điều này đã giúp giảm bớt các nguy cơ
biến chứng so với khi phải dùng ở mức năng lượng cao.
4.5.2. Các thông số kĩ thuật laser Q-switched Nd:YAG:
Laser Q-
switched Nd:YAG là loại có hiệu ứng quang hủy khi tác động lên mô,
chúng tôi sử dụng laser này ở bước hai để hoàn thành việc cắt mống
mắt. Tùy theo tình trạng MM và kết quả quang đông ở bước một mà lựa
chọn thông số khác nhau. Nếu hốc trên MM được tạo bởi laser

phẫu đạt 100% trong một lần điều trị, tỉ lệ thành công chung về chức
năng và giải phẫu đạt 98,8 %, với lỗ cắt MM được duy trì và bảo toàn
được chức năng thị giác sau một năm theo dõi. Biến chứng ít xảy ra và
thường nhẹ, dễ khắc phục, không để lại di chứng nặng. Hay gặp nhất là
các biến chứng: chảy máu tại vị trí lỗ cắt mống mắt (7,3%), tăng nhãn
áp tạm thời (6,09%), đục giác mạc (4,8%), dính góc tiền phòng
(10,9%), các biến chứng khác hiếm gặp hơn như viêm màng bồ đào,
dính sau.
2. Phương pháp phối hợp hai laser frequency-doubled Nd:YAG và
laser Q-switched Nd:YAG trong cắt mống mắt, điều trị glôcôm góc
24
đóng nguyên phát có qui trình điều trị đơn giản, dễ thực hiện ở tất cả
các mắt loại MM màu nâu, mật độ nhu mô chặt của người Việt nam.
Thời gian điều trị ngắn, an toàn, có thể điều trị ngoại trú.
Kĩ thuật điều trị bao gồm hai bước:
Đầu tiên là quang đông
mống mắt bằng laser frequency-double Nd:YAG với các thông số được
đặt như sau: Đường kính tia hội tụ 200-300 µm(trung bình là
239,02±81,18 µm), công suất 500-700 mW(trung bình 532,31±116,10
mW), độ dài xung 0,2-0,3 giây(trung bình 0,36±0,11 giây), số phát bắn
từ 5-8 phát(trung bình 5,94± 1,76 phát). Sau đó xuyên thủng mống mắt
bằng laser Q-switched Nd:YAG với thông số thường được đặt từ 2-6mj
(trung bình 4,62 ± 1,33 mj) ở chế độ xung đơn, với số phát bắn có thể
tới 15 phát để tạo được lỗ cắt kích thước từ 200-500 µm.
Phương pháp phối hợp hai laser frequency-doubled Nd:YAG
(hiệu ứng nhiệt) và Q-switched Nd:YAG (hiệu ứng quang hủy) đã hạn
chế được những bất lợi và phát huy được hiệu quả, lợi ích của mỗi loại
hiệu ứng laser trong cắt mống mắt, đặc biệt ở những mắt có mống mắt
nâu sẫm, mật độ nhu mô chặt ở người Việt nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status