Nghiên cứu ứng dụng phương pháp tạo hình vùng bè chọn lọc bằng laser điều trị glôcôm góc mở nguyên phát - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TÊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

TRẦN MINH HÀ

GIẢI PHẪU, SINH LÝ VÙNG GÓC
TIỀN PHÒNG

CHUYÊN ĐỀ TIÊN SĨ

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TÊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
=======

TRẦN MINH HÀ

GIẢI PHẪU, SINH LÝ VÙNG GÓC
TIỀN PHÒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Huy
Cho đề tài: Nghiên cứu ứng dụng phương pháp tạo hình vùng bè
chọn lọc bằng laser điều trị glôcôm góc mở nguyên phát
Chuyên ngành : Nhãn khoa

3.2. Những thay đổi của đường thoát thủy dịch trên mắt bị glôcôm góc mở
nguyên phát...............................................................................................26
KÊT LUẬN....................................................................................................29
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Cấu trúc giải phẫu của vùng góc tiền phòng........................................2
Hình 2: Vùng bè giác củng mạc........................................................................3
Hình 3: Hình ảnh 3 chiều của ống Schlemm và vùng bè cạnh ống Lớp nội mô
hình nón lót thành trong của ống Schlemm sát với vùng bè...............6
Hình 4: Cấu trúc bình thường của góc tiền phòng trên soi góc.........................9
Hình 5: Các đường thoát thủy dịch.................................................................12
Hình 6: A: Mắt bình thường, B: Mắt bị glôcôm góc mở nguyên phát. Cựa
củng mạc (SS) của mắt bị glôcôm ngắn hơn rõ rệt so với mắt thường.
Kích thước của cựa củng mạc cũng nhỏ hơn có ý nghĩa ở mắt bị
glôcôm góc mở nguyên phát.............................................................20
Hình 7. Hình ảnh vùng bè bình thường và bệnh lý x 500 lần.........................24
Hình 8. Hình ảnh vùng bè bình thường và bệnh lý x 3000 lần.......................25


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Góc tiền phòng là nơi nối tiếp giữa giác củng mạc phía trước, mống mắt
và thể mi ở phía sau (còn gọi là góc mống mắt giác mạc). Đây là con đường
lưu thông chính của thủy dịch ra khỏi nhãn cầu. Chính những thay đổi bất
thường về giải phẫu và sinh lý của vùng góc tiền phòng là nguyên nhân dẫn
đến tăng trở lưu thủy dịch, giảm thoát thủy dịch qua vùng này và gây tăng
nhãn áp. Nhãn áp cao lại là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn tới bệnh glôcôm góc

thể mi được tạo bởi phần trước của nhu mô và cơ thể mi. Phần này không
được che phủ bởi nội mô do đó đây là phần có khả năng thấm thủy dịch và tạo
nên con đường lưu thông màng bồ đào – củng mạc. Đây là con đường lưu
thông chính của thủy dịch ra khỏi nhãn cầu. Các thành phần của góc tiền
phòng bao gồm:
- Vòng Schwalbe
- Vùng bè giác củng mạc
- Ống Schlemm
- Cựa củng mạc
- Dải thể mi

Hình 1: Cấu trúc giải phẫu của vùng góc tiền phòng
1.1.1. Vòng Schwalbe
Vòng Schwalbe là giới hạn trước của góc tiền phòng, là nơi màng
Descemet mỏng dần và kết thúc. Khi soi góc có thể thấy đó là một đường hơi


3

nhô lên, được hình thảnh bởi những sợi bè màng bồ đào bám vào nhu mô
vùng rìa. Đây cũng là nơi chuyển tiếp giữa tế bào nội mô giác mạc và tế bào
vùng bè.
1.1.2. Vùng bè (Trabecular Meshwork)
Vùng bè là một dải hình lăng trụ tam giác, nằm trong chiều sâu của rìa
củng – giác mạc, nó nối giữa vòng Schwalbe ở phía trước với cựa củng mạc
và đoạn nối giữa mống mắt và thể mi ở phía sau. Mặt ngoài vùng bè tiếp giáp
với ống Schlemm còn mặt trong là giới hạn của tiền phòng. Vùng bè gồm ba
phần có cấu trúc và chức năng khác nhau, từ trong ra ngoài lần lượt là: bè
màng bồ đào, bè giác – củng mạc (nối với cựa củng mạc) và bè cạnh ống
Schlemm (gần sát với lớp tế bào nội mô của ống Schlemm và là vùng giàu tế

vòng Schwalbe tới cựa củng mạc. Bè giác củng mạc gồm những lá bè
xếp chồng lên nhau. Trên những lá bè có những lỗ thủng có đường kính
từ 2-12 µm. Những lá này trải ra thành hình quạt về phía cựa củng mạc,
càng về phía cựa củng mạc cành có nhiều lớp. Ở phía vòng Schwallbe
chỉ có 3-4 lớp, trong khi ở cựa củng mạc có tới khoảng 15 lớp. Mỗi lá bè
gồm một lõi chứa chất cơ bản trong đó có rất nhiều glycoprotein, acid
hyaluronic, các sợi collagen và các sợi đàn hồi. Các lá bè được bao phủ
bởi các tế bào bè qua trung gian màng đáy và các tế bào bè này cũng
được che phủ bởi một lớp áo proteoglycane nhô vào trong khoảng gian
bè. Khoảng gian bè thay đổi theo áp lực nội nhãn. Ở chỗ tiếp xúc với bè
màng bồ đào, chúng rộng 5-6 µm nhưng ở chỗ tiếp xúc với bè cạnh ống
Schlemm, chúng chỉ rộng khoảng 2 µm. Thủy dịch đi qua những lỗ trên
lá bè sau đó qua khe gian bè rồi qua lỗ của các lá bè khác. Các lỗ trên
các lá bè không đối diện nhau. Ở tình trạng bình thường, các khe, lỗ này
còn tương đối rộng và lớp áo ngoại bào của các tế bào cho phép thủy


5

dịch thấm qua dễ dàng. Do đó đây cũng không phải là vị trí cản trở lưu
thông thủy dịch bình thường. Sắc tố có thể lắng đọng ở phần sau của lưới
bè. Vùng bè này chứa nhiều các tế bào thực bào, được cho là có thực
hiện các hoạt động tổng hợp ( tiết ra các chất nền laminar, collagen và
glycosaminoglycans). Các tế bào này cung cấp lớp lót cho các khoảng
gian bào và nội bào và cũng có thể liên quan đến cơ chế tự làm sạch của
vùng bè. Trong lớp này còn có các mô đàn hồi giúp cho các lỗ bè co lại
như cũ sau mỗi lần mở rộng. [2]


Vùng bè cạnh ống Schlemm: Vùng này còn được gọi là lớp dạng sàng

năng cho thủy dịch đi qua và hình thành một kênh xuyên tế bào. 20 Hồng cầu
có thể đi qua các kênh này nhờ khả năng thay đổi hình dạng của nó, nhưng
đại thực bào và tế bào hồng cầu ma bị mắc kẹt ở lớp trong của vùng bè. Một
số tác giả cho rằng cấu trúc này tạo ra một chức năng giống như van, vì các lỗ
mở ở vùng bè thường lớn hơn các lỗ mở ở màng đáy của thành ống Schlemm,
và các lỗ này lại thường không nằm đối diện trực tiếp.[4]

Hình 3: Hình ảnh 3 chiều của ống Schlemm và vùng bè cạnh ống Lớp nội mô
hình nón lót thành trong của ống Schlemm sát với vùng bè.
Sự hình thành của các không bào có vẻ phụ thuộc vào áp lực, số lượng
và kích thước của chúng giảm xuống khi nhãn áp thấp và tăng lên khi nhãn áp
cao. Phần lớn thủy dịch đi vào ống Schlemm là thông qua các kênh xuyên tế


7

bào này và chỉ có khoảng 1% thấm trực tiếp qua lớp màng trong. [5] Có
khoảng 25 đến 35 kênh thu thủy dịch từ ống Schlemm, chúng nối với nhau
thành một đám rối trong củng mạc. Đám rối này được dẫn lưu vào đám rối
thượng củng mạc và kết mạc bởi những nhánh thông và đưa tới các tĩnh mạch
sâu, trung và thượng củng mạc, ở hệ thồng này thì không có cấu trúc van.
1.1.4. Cựa củng mạc
Cựa củng mạc là chỗ nối tiếp giữa củng mạc và giác mạc. Mép sau của
cựa củng mạc tạo thành chỗ bám của các cơ thể mi. Khi các cơ thể mi co sẽ
kéo cựa củng mạc ra phía sau và mở ra các khoảng vùng bè. Các mô collagen
và đàn hồi của cựa củng mạc hòa lẫn với các tế bào vùng bè giác củng mạc và
vùng bè cạnh ống Schlemm. Tế bào cựa củng mạc là những tế bào giống
myofibroblast hướng vòng quanh phía trong cựa củng mạc. Những tế bào này
được phân bố bởi sợi trục không có bao myelin có nguồn gốc từ tế bào thần
kinh chạy về phía trước trong khoang thượng thể mi. Sự phân bố phức tạp của

gần ống Schlemm nhất. [7] Vùng này là sự hợp nhất của hai cấu trúc có
nguồn gốc khác nhau, đó là lưới ngoại bào của vùng bè cạnh ống Schlemm và
thành trong của ống Schlemm. Lưới ngoại bào ở vùng này rất dày đặc bao
gồm chủ yếu là các glycosaminoglycane, collagen, sợi đàn hồi và protein liên
kết do các tế bào bè ở lớp sàng và tế bào thành trong ống Schlemm tiết ra.
Lưới ngoại bào vùng bè là vị trí của sự cản trở bình thường đối với lưu thông
thủy dịch. Khi truyền những men làm phân hủy các glycosamineglycane vào
trong đường lưu thông thủy dịch sẽ làm tăng gấp đôi thuận lưu. Hiện có giả
thiết cho rằng sự cản trở lưu thông thủy dịch bình thường ở lưới ngoại bào
vùng bè được điều hòa bởi corticosteroid và sự thay đổi ion của các
glycosaminoglycanes. Các tế bào bè liên quan rất nhiều tới sự duy trì và điều
hòa trở lưu thủy dịch nhờ các khả năng như : thực bào, tiêu sợi huyết và thay
đổi khuôn ngoại bào bằng cách thiết ra các protein đặc hiệu làm phân hủy các
thành phần của lưới ngoại bào.[6]
1.3. Hình ảnh góc tiền phòng trên soi góc
Góc tiền phòng được quan sát thấy lần đầu vào năm 1907 bởi Trantas
bằng cách ấn vùng rìa trên một bệnh nhân có giác mạc hình cầu.


9

Bình thường, vùng góc tiền phòng không thể quan sát được trực tiếp.
Tuy nhiên, kỹ thuật soi góc sử dụng các loại kính soi góc đã giúp bác sĩ nhãn
khoa có thể quan sát được cấu trúc của góc tiền phòng. Có hai loại kính soi
góc cơ bản: soi góc trực tiếp, cho hình ảnh trực tiếp của vùng góc và soi góc
gián tiếp, cho hình ảnh gương soi của góc đối diện. Soi góc gián tiếp là kỹ
thuật thường được sử dụng phổ biến nhất.

Hình 4: Cấu trúc bình thường của góc tiền phòng trên soi góc
 Cấu trúc của góc tiền phòng trên soi góc

giữa bề mặt mống mắt với các cấu trúc của góc. Tuy nhiên, các đoạn dính
trước nhỏ gây ra bởi kỹ thuật laser tạo hình vùng bè có thể dễ bị nhầm lẫn với
chân mống mắt
- Mạch máu: các mạch máu chạy theo hình nan hoa có thể được nhìn
thấy ở mắt bình thường. Các mạch góc có thể nhìn thấy được ở khoảng hai
phần ba cá nhân có mắt xanh và 10% những người mắt nâu. Nguyên tắc
chung là bất kỳ mạch máu nào nếu chạy qua cựa củng mạc vào đến vùng bè
thì là mạch máu bất thường.
II. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA THỦY DỊCH VÀ SỰ THOÁT THỦY
DỊCH QUA VÙNG GÓC TIỀN PHÒNG
2.1. Sự hình thành thủy dịch


11

Thủy dịch là một loại dịch được chứa đầy trong tiền phòng và hậu
phòng với các chức năng chính:
- Giúp duy trì nhãn áp vào khoảng 15 mmHg, là yếu tố cần thiết để duy
trì hình dạng và chức năng thị giác của nhãn cầu.
- Nuôi dưỡng các tổ chức không có mạch máu như giác mạc, thể thủy
tinh và vùng bè củng giác mạc.
- Thủy dịch giúp tạo một môi trường khúc xạ trong suốt, không màu với
chỉ số khúc xạ là 1.33332,34.
- Tham gia vào hệ dẫn truyền tín hiệu thần kinh tại chỗ và các phản ứng
miễn dịch. 35
Thành phần của thủy dịch rất giống với huyết tương. Hai đặc điểm nổi
bật nhất của thủy dịch so với huyết tương là nồng độ ascorbate vượt trội (gấp
15 lần so với huyết tương động mạch), và sự thiếu hụt protein. Nguồn các
protein trong thủy dịch có vẻ như là từ thể mi, thấm ra phía trước qua mống
mắt hoặc tiết vào dịch kính.[8] Thủy dịch có nồng độ đậm đặc hơn so với


Hình 5: Các đường thoát thủy dịch
Lượng thủy dịch thoát ra là một trong yếu tố quan trọng quyết định lượng
thủy dịch còn lại trong nội nhãn và từ đó quyết định giá trị của nhãn áp.
Có 2 đường thoát của thủy dịch và cả hai đều nằm ở góc tiền phòng:


13

 Phần lớn thủy dịch thoát ra ngoài nhãn cầu tại vùng góc tiền phòng: thủy
dịch đi qua các lớp của vùng bè củng giác mạc, từ đó vào ống Schlemm
rồi qua hệ thống các ống góp dẫn tới tĩnh mạch trong củng mạc và tĩnh
mạch thượng củng mạc, từ đó vào hệ thống tuần hoàn. Tế bào nội mô
thành trong ống Schlemm rất mỏng và liên kết với nhau lỏng lẻo. Do
vậy, một phần thủy dịch có thể thấm qua giữa các tế bào để vào ống, còn
phần lớn sẽ theo các kênh dẫn nội bào được tạo nên bởi sự lõm vòa của
tế bào nội mô và thoát qua những lỗ nhỏ ở đỉnh tế bào tới lòng ống
Schlemm. Đây gọi là đường thoát thủy dịch truyền thống hay là đường
thoát qua vùng bè củng giác mạc. Con đường này chiếm khoảng 70%
lượng thủy dịch thoát ra khỏi nhãn cầu ở người trẻ tuổi và tới 95% ở
người lớn tuổi. Con đường thoát dịch này phụ thuộc vào nhãn áp và trở
ngại chủ yếu nằm ở vùng bè cạnh ống Schlemm. Nghiên cứu cho thấy
càng lớn tuổi thì lượng thủy dịch thoát qua con đường truyền thống càng
chiếm tỷ lệ cao hơn. [11]
 Đường thoát thủy dịch thứ hai là qua màng bồ đào củng mạc, chiếm
khoảng 10% đến 20% lượng thủy dịch thoát ra ngoài với lưu lượng ước
tính khoảng 0,8µl/phút ở người trưởng thành. Ở con đường này, do
không có hàng rào biểu mô ngăn cách giữa tiền phòng và thể mi nên
thủy dịch có thể thấm qua khoảng gian bào giữa các sợi cơ thể mi vào
khoang thượng thể mi và khoang thượng hắc mạc, từ đó thấm qua củng

bradykinin, vv... có khả năng kích hoạt các cơ chế bên trong của tế bào vùng
bè. Tất cả những yếu tố này có khả năng gây hoạt tính ngay cả ở nồng độ rất
thấp. Có vẻ là các mô của tiền phòng và hậu phòng tiết ra các chất này và
chúng sẽ điều hòa sự hoạt động của các tế bào vùng bè. Ví dụ như nghiên cứu
đã chỉ ra rằng các tế bào không sắc tố của thể mi tiết ra các chất vào thủy dịch
như atrial natriuretic peptide, endothlin-1 hoặc glanin …có khả năng kích
hoạt receptor đặc hiệu của chúng ở trên tế bào vùng bè.[15]


15

Một số nghiên cứu cũng thấy rằng, khi nhãn áp tăng, tế bào vùng bè
tăng tổng hợp các chất αβ- crystallin, α-tubulin hay collagenase… các chất
này ảnh hưởng đến tính thấm thành mạch, tiết dịch, tái tạo lưới ngoại bào và
tái tổ chức tế bào. Tuy nhiên người ta chưa rõ làm thế nào mà các tế bào vùng
bè lại phát hiện được những thay đổi về nhãn áp và sự phát hiện này dẫn đến
thay đổi việc mã hoá gen và tiết ra các chất trên như thế nào. [16]
Một số đặc điểm khác của tế bào vùng bè cũng có thể ảnh hưởng đến
sự thoát thủy dịch. Cụ thể là sự cân bằng giữa quá trình tổng hợp và thoái hóa
của ma trận ngoại bào. Bởi vì quá trình này liên quan đến cơ chế tổng hợp
protein nên nó không biểu hiện ngay trong ngắn hạn mà ảnh hưởng đến việc
định hình cấu trúc của vùng bè trong suốt cuộc đời. Trên thực tế, với người
tuổi càng cao, sự kháng trở của dòng thoát thủy dịch càng lớn. Đó là do số
lượng tế bào vùng bè giảm và sự thay đổi trong ma trận ngoại bào ở vùng bè
cạnh ống Schlemm. Những thay đổi này theo độ tuổi tương đồng với những
thay đổi được tìm thấy trong mắt của người bị glôcôm so với mắt bình thường
ở cùng lứa tuổi. Như đã được mô tả, vùng bè là một cấu trúc có hàm lượng
cao các ma trận ngoại bào, và các tế bào vùng bè có thể tự tổng hợp được rất
nhiều các protein ma trận ngoại bào cũng như các protein metallop matrix
(MMPs). Sự biểu hiện bền vững của các protein do tế bào vùng bè tiết ra góp

giác củng mạc có cấu trúc phức tạp hơn với các thành phần như glycoprotein,
collagen, acid hyaluronic và các sợ đàn hồi. Cấu trúc này cùng với sự thu hẹp
của các khoảng gian bào trong lớp này làm tăng sự kháng trở đến dòng thoát
thủy dịch. Lớp thứ 3 là vùng bè cạnh ống Schlemm. Đây là vùng có khoảng
gian bào hẹp nhất. Lớp tế bào nội mô của ống Schlemm là lớp hàng rào cuối
cùng mà thủy dịch phải vượt qua trước khi thoát khỏi nhãn cầu. Người ta ước
tính rằng lớp này gây ra khoảng 10% của toàn bộ sức khảng trở của dòng
thoát thủy dịch theo con đường truyền thống.[17] Khi đánh giá trên sinh hiển
vi điện tử, người ta thấy rằng thủy dịch thoát qua lớp nội mô của ống


17

Schlemm bằng hai cơ chế: thấm qua khoang gian bào giữa các tế bào nội mô
và đi qua các kênh xuyên tế bào của các không bào.[17]
Tăng nhãn áp là hậu quả của việc tăng kháng lưu của đường thoát thủy
dịch, có liên quan đến hiện tượng ống Schlemm bị xẹp.[18] Ở nhãn áp bình
thường, kháng lưu phụ thuộc vào thành trong của ống Schlemm mà nó áp vào
thành ngoài của ống, chặn các kênh dẫn nội củng mạc.[19] Khi nhãn áp tăng
dẫn đến sự căng ra của vùng bè, làm tăng các không bào nội mô và phồng tế
bào nội mô của thành trong của ống Schlemm. Sự phồng lên của ống
Schlemm làm giảm sức kháng trở của thủy dịch, đây chính là cơ chế làm hạ
nhãn áp của phẫu thuật viscocanalostomy.[20]
Có sự suy giảm kích thước của ống Schlemm liên quan đến tuổi, dẫn đến
giảm số lượng các không bào khổng lồ và số lượng tế bào của ống Schlemm.
[21] Các sợi của vùng bè trở nên dày hơn, các khoảng gian bè hẹp lại và các
chất ngoại bào tăng lên. Tất cả những thay đổi vế cấu trúc này dẫn đến tăng
tính kháng trở của vùng bè. Hình thái tương tự nhưng những thay đổi ở mức
độ mạnh mẽ hơn được thấy ở glôcôm góc mở nguyên phát.Sự tăng áp lực của
tĩnh mạch thượng củng mạc, dẫn đến nhãn áp tăng bằng hoặc cao hơn như

bình thường của đường thoát thủy dịch. Bệnh nhân glôcôm có nồng độ
cortisol trong máu cao hơn so với người bình thường.[25] Protein TIGR,
myocilin là sản phẩm của phản ứng gây căng thẳng và glucocorticoid. Mà sự
tăng nồng đồ của loại protein này phù hợp với thời gian mà steorid có tác
dụng lên nhãn áp và đường thoát thủy dịch, có liên quan đến sự giảm thoát
thủy dịch và bệnh lý glôcôm. Thay đổi nồng độ TIGR/myocilin ảnh hưởng
đến sự kết dính của các tế bào vùng bè, sự tăng sinh của tế bào và quá trình
thực bào. Gen TIGR có liên hệ trực tiếp đến các bệnh nhân bị glôcôm góc mở


19

nguyên phát.[26]
Cách thức chính xác mà steroid ảnh hưởng đến quá trình thoát thủy dịch
vẫn còn đang tranh cãi, nhưng có thể chính khớp nối giữa các tế bào mà cần
thiết cho sự phát triển và duy trì kháng lưu xuyên nội mô có liên quan đến sự
tăng kháng lưu mà có liên quan đến tác động của glucocorticoid.
Glycosaminoglycans (GAG) có đóng góp vào hàng rào lọc của đường thoát
thủy dịch.[27]
Có sự suy giảm acid hyaluronic và sự tích tụ của chondroitin sunfat ở vùng
bè của bệnh nhân glôcôm góc mở nguyên phát. Các nghiên cứu cho thấy acid
hyaluromic có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh kháng lưu sinh lý của
thủy dịch hoặc trong việc duy trì các kênh thoát thủy dịch, hoặc cả hai.[28]
Hiểu biết thấu đáo về giải phẫu học và sinh lý của tiền phòng, vùng góc
tiền phòng và thủy dịch là rất cần thiết để có thể hiểu được cơ chế bệnh sinh
của bệnh glôcôm. Kiến thức này cũng là cơ sở cho bất kỳ phương pháp điều
trị nào cho bệnh glôcôm.


20

glôcôm góc mở nguyên phát. Sự co lại của ống Schlemm gây ra gần một nửa
sự suy giảm lượng thủy dịch thoát ra ngoài trên bệnh nhân glôcôm góc mở
nguyên phát. [30]
Thêm vào đó, ống Schlemm trở nên hẹp hơn sau phẫu thuật lỗ rò thành
công, nguyên nhân là do sau phẫu thuật, thủy dịch chủ yếu thoát qua lỗ rò và
giảm thoát qua vùng bè. Sự giảm kích thước của ống Schlemm sau phẫu thuật
này làm cho glôcôm khó được kiểm soát hơn khi lỗ rò thất bại.
 Thoát vị của thành ống Schlemm làm bít tắc các kênh thu thủy dịch
Khi nhãn áp tăng lên, vùng bè bị đẩy về phía thành ngoài của ống
Schlemm và làm cho ống Schlemm bị xẹp. Vì không có thành ngoài của ống
Schlemm trong khu vực của các kênh thu thủy dịch ostia, nên vùng bè cạnh
ống Schlemm và thành trong của ông Schlemm bị đẩy ra ngoài dẫn đến thoát
vị ra phía các kênh thu thủy dịch. Trên thực nghiệm ở các mắt khỏe mạnh,
hiện tượng thoát vị này sẽ phục hồi khi nhãn áp giảm từ mức cao xuống bình
thường. Nhưng ở các mắt bị glôcôm góc mở nguyên phát, sự thoát vị này sẽ
tồn tại kéo dài mà không thể hồi phục ngay cả khi nhãn áp về không. Hiện
tượng bít tắc của các kênh thu gom thủy dịch được thấy ở các bệnh nhân
glôcôm góc mở nguyên phát qua việc đánh giá sự thoát huỳnh quang từ ống
Schlemm đến tĩnh mạch thượng củng mạc và dòng máu trào ngược từ tĩnh
mạch thượng củng mạc trở lại ống Schlemm. Những kết quả này gợi ý một
cách mạnh mẽ rằng việc tắc các kênh thu thủy dịch có đóng góp làm tăng
kháng lưu. [31]



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status