Tìm hiểu về mô hình cải cách của trung quốc và đổi mới của việt nam để khẳng định con đường đi lên CNXH của hồ chí minh - Pdf 12

Đề: Tìm hiểu về mô hình cải cách của Trung Quốc và đổi mới của Việt Nam để
khẳng định con đường đi lên CNXH của Hồ Chí Minh.
I. Mở đầu:
Hồ Chí Minh đã từng biết đến tư tưởng CNXH sơ khai ở phương Đông, qua
“thuyết đại đồng của” Nho giáo, chế độ công điền ở phương Đông là cơ sở kinh
tế tạo nên sự cố kết cộng đồng bền chặt của người Việt Nam.
Khi ra nước ngoài khảo sát cách mạng thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy
trong học thuyết Mác về lý tưởng một xã hội nhân đạo, về con đường thực hiện
ước mơ giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ. Đến năm 1923, Nguyễn
Ái Quốc đến Liờn-xụ, lần đầu tiên biết đến “chớnh sách kinh tế mới” của Lờnin,
được nhìn thấy thành tựu của nhân dân xụ-viết trờn con đường xây dựng xã hội
mới.
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn
phát triển của chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế, do đó sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đó cũng
có những điểm khác so với trước đây.
Trước những năm 1986, do nhận thức và vận dụng sai lầm lý luận của
chủ nghĩa Mác –Lênin vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến
những thất bại to lớn như sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN ở Liên xô
và các nước Đông Âu, còn ở Việt nam do nhận thức và vận dụng sai lầm đã
dẫn đến tụt hậu về kinh tế và khủng hoảng về chính trị.
Sau đây là phần trình bày về đề tài: “Tìm hiểu về mô hình cải cách của
Trung Quốc và đổi mới của Việt Nam để khẳng định con đường đi lên CNXH
của Hồ Chí Minh.” Để giúp nhận thức đúng đắn hơn về quan điểm cũng như
nhiệm vụ xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
II. Nội dung
1. Mô hình cải cách của Trung Quốc
1.1 Dưới thời Mao Trạch Đông
Bởi ý thức tư tưởng phong kiến ở Trung Quốc ăn sâu và ngoan cố nên trong
quá trình lãnh đạo Trung Quốc xây dựng văn hoá tinh thần xã hội chủ nghĩa,
Mao Trạch Đông đã tiến hành cải tạo tư tưởng với quy mô lớn nhằm thông qua

nghĩa quan liêu là di sản được sinh ra từ tác phong "ông lớn" của quan bản vị.
Tất cả những thứ nói trên đều đi ngược lại xu hướng giá trị "công bằng, công
chính" xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng của Mao Trạch Đông. Vì thế Mao Trạch
Đông đã căn cứ theo nguyên tắc duy vật lịch sử, chủ trương nhân dân bản vị
(mưu lợi ích cho nhân dân), đề ra tư tưởng phục vụ nhân dân. Ông kêu gọi mọi
người học tập các tấm gương tiêu biểu như Trương Tư Đức, Bạch Cầu Ân, Lôi
Phong, mỗi người là một chiến sĩ cộng sản; Đề xướng phẩm chất đạo đức cộng
sản chí công vô tư, không màng lợi ích cá nhân. Ông cho rằng trong điều kiện
chế độ xã hội chủ nghĩa, dù làm bất cứ việc gì, ở bất cứ cương vị nào cũng đều
không được tư lợi mà phải phục vụ nhân dân. Nếu có được tinh thần và phẩm
chất phục vụ nhân dân như thế sẽ chiến thắng các loại khó khăn, ở xã hội nào
cũng đều có thể lập nên kỳ tích. Quan điểm giá trị phải được thể hiện qua hành
động cụ thể nên Mao Trạch Đông ra sức đề xướng tinh thần phấn đấu gian khổ,
dũng cảm, chí thú sự nghiệp, hiến dâng và chủ nghĩa tập thể, lấy đó làm thước
đo đánh giá tình hình xây dựng quan điểm giá trị.
Qua phân tích cho thấy trong thực tiễn tìm kiếm phương hướng xây dựng
nền văn hoá tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mặc dù gặp nhiều trắc trở nhưng Mao
Trạch Đông đã thông qua cải tạo tư tưởng, loại bỏ những tàn dư của chủ nghĩa
phong kiến và chủ nghĩa thực dân, thay đổi thói quen tâm lý và phương thức
hành vi cũ, xây dựng nền văn hoá tinh thần xã hội chủ nghĩa theo quan điểm giá
trị và quan điểm đạo đức phục vụ nhân dân. Do đó ở Trung Quốc đã có được
những thay đổi long trời lở đất, thay đổi đó lại đặt cơ sở, đem lại kinh nghiệm
quý báu cho sự phát triển toàn diện vì tiến bộ xã hội và tự do của con người hôm
nay.
1.2 Dưới thời Đặng Tiểu Bình
Đặng Tiểu Bình đã mang đến xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung
Quốc. Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc là sản phẩm kết hợp giữa tư
tưởng chủ nghĩa xã hội dân chủ của Mác-Ăng-ghen những năm cuối đời và thực
tiễn cụ thể cải cách-mở cửa của Trung Quốc, sẽ xây dựng Trung Quốc thành
một nước xã hội chủ nghĩa dân chủ giàu có, văn minh, công bằng và hài hoà như

tiến lên chủ nghĩa xã hội với đặc điểm như HCM đã từng nói :"Đặc điểm to
nhất của ta là từ một nước nông nghiệp lac hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa"
Từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống
nhất, cách mạng dân téc- dân chủ đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả
nước thì cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội của đảng ta nói rõ hơn thực trạng kinh tế và chính trị của đất
nước: "Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã
hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước
trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn
dư phong kiến còn nhiều, các thế lực thù địch thưỡng xuyên tìm cách phá hoại
chế độ XHCN và nền độc lập dan téc của nhân dân ta"
(Đảng cộng sản VN, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, Nxb, Sự thật HN 1991, tr 8 )
Thời kỳ qua độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ
nghĩa xã hội cùng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước có nền kinh
tế phát triển, bởi lẽ ở các nước này tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao
nhưng vẫn còn cần phải cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng
nền sản xuất mới. Dĩ nhiên đối với những nước thuộc loại này về khách quan
có nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể diễn ra ngắn hơn. Đối với nước
ta một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH bá qua chế độ tư bản chủ
nghĩa thì lại cần càng phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài.
Theo Chủ tịch HCM, thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là một thời kỳ lịch
sử mà:" nhiêm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật
chất và kỹ thuật của CNXH tiến dần lên CNXH, có công nghiệp và nông
nghiệp hiện đại, có văn hoá khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng
XHCN, chóng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà
xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài" (HCM toàn tập, Nxb chính trị quốc
gia HN, T10, tr 13)

nghĩa
Sau chặng đường gian lao chống giặc ngoại sâm, chúng ta đã giành
được chính quyền về tay giai cấp vô sản, do Đảng cộng- đại diện của Đảng
Macxít lãnh đạo, chúng ta đã thiết lập được liên minh công nông
Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng
chiến đấu, hy sinh không chỉ nhằm mục đích giành lại độc lập dân téc, mà còn
vì cuộc sống Êm no hạnh phúc.Những yêu cầu đó chỉ có chủ nghĩa xã hội mới
đáp ứng được.Vì vậy, quyết tâm của nhân dân sẽ trở thành lực lượng vật chất
đầy đủ vượt qua mọi khó khăn và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại
hội Đảng lần thứ VI đến nay đã thu được những kết quả bước đầu khả quan,
giữ vững ổn định chính trị; tạo môi trường hợp tác đầu tư; phát triển kinh tế;
đời sống nhân dân được cải thiện điều đó đã củng cố và khẳng định con
đường lùa chọn lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn
Điều kiện khách quan
Đất nước ta xây dựng chủ nghĩa trong điều kiện cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật hiện đại trên thế giới phát triển hết sức mạnh mẽ, nó làm cho lực
lượng sản xuất ngày càng mang tính quốc tế hoá cao, vì vậy các quốc qia phụ
thuộc vào nhau ngày càng lớn. Điều đó cho phép chúng ta có thể tranh thủ tối
đa các nguồn lực từ bên ngoài, đặc biệt là vốn, khoa học công nghệ, kinh
nghiệm quản lý để phát triển nhanh nền kinh tế trong nước.
Quá trình quốc tế hoá sản xuất và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước
ngày càng tăng lên,cũng như sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ về khách quan đã tạo ra những khả năng để các nước kém phát
triển đi sau có thể tạo ra những khả năng để các nước kém phát triển đi sau
có thể tiếp thu và vận dụng vào nước mình những lực lượng sản xuất hiện đại
của thế giới và những kinh nghiệm của các nước đi trước để thực hiện " con
đường phát triển rút ngắn". Xu thế toàn cầu hoá, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng lên tuy có chứa đựng những nguy
cơ và thách thức nhưng vẫn tạo ra khả năng khách quan cho việc khắc phục

"Tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều được. Đó là cả một
công tác tổ chức và giáo dục"
_
(1)
(1. Trích theo " HCM: Toàn tập.Nxb. Chính trị quốc gia, HN,1996,t8 ")
" Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần"
(1. Trích theo " HCM: Toàn tập.Nxb. Chính trị quốc gia, HN,1996,t226 ")
Nhận thức đúng nội dung của sự quá độ bỏ qua hay rút ngắn này có ý
nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp ta khắc phục được quan niệm đơn giản,duy ý
chí về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước mà chủ nghĩa tư bản
chưa phát triển
Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, theo cách nói tóm tắt và méc mạc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh là : Trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn
bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được Êm no và sống một
cuộc đời hạnh phóc. Quán triệt tư tưởng cơ bản đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Đảng ta đã khẳng định :" Xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là
một xã hội :
+ Do dân lao động làm chủ.
+ Có nền kinh tế phát triển cao dùa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
có chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
+ Có nền văn hoá đậm đà bản sắc dân téc.
+ Con người được giải phóng bằng áp bức, bóc lột, bất công, làm theo
năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống Êm no, tù do, hạnh phóc, có điều
kiên phát triển cá nhân.
+ Các dân téc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ.
+ Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân cả nước trên thế giới".
(Trích theo: Đảng cộng sản Vn:Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH,Nxb Sự Thật,HN1991,Tr 8-9)

thiện môi trường đầu tư.
- VN đã thu được nhiều thành tựu trong việc tăng cường đa phương, đa dạng hoá
quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng thị trường, tranh thủ viện trợ, cải thiện năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, tạo môi trường thuận
lợi phát triển và nâng cao năng lực quản lý, điều hành vĩ mô, gia tăng khả năng
thích ứng với sự biến động của kinh tế thế giới
- VN đã triển khai mạnh mẽ và toàn diện các hoạt động đối ngoại của mình và
thu được nhiều kết quả tốt đẹp.Đặc biệt VN tổ chức thành công Hội nghị Cấp
cao Á- ÂU lần thứ 5 (ASEM-5) tại Hà Nội tháng 10/2004, mở ra giai đoạn phát
triển mới thóc đẩy sự hợp tác giữa hai châu lục. Những kết quả đó góp phần
nâng cao và khẳng định vị thế của VN trên trường quốc tế
- Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản đạt 4 tỷ USD, VN được đánh
giá là nhà xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu Gạo xuất khẩu
đạt 3,9 triệu tấn với kim ngạch 900 triệu USD tăng gần 23% so với năm 2003;
xuất khẩu hạt Điều đạt 100000 tấn, với kim ngạch 400 triệu USD(mở rộng thị
trường sang Mỹ, TQ, Đông và Bắc Âu). Ngành chế biến Gỗ xuất khẩu tăng
mạnh nhất trong năm, đạt trên 1 tỷ đồng(chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu
của ngành nông nghiệp); Cà phê xuất khẩu đạt 900000 tấn tăng gần 40% với
kim ngạch tăng gần 30%
- Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá và ổn định, tăng trưởng bình quân 4
năm 2001-2004, năm 2001 tăng 6,9%, năm 2002 tăng 7,1%, năm 2003 tăng
7,3%, năm 2004 tăng 7,6%
- Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân trong 4 năm là 5,2%(kế
hoạch là 4,8%)
- Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước quí 1/2005 tăng 7,2% so với
cùng kỳ trước, cao hơn quí 1/2003 và quí 1/2004, trong đó khu vực nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản tăng 4,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng và dịch vụ tăng
7%
Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quí 1/2005 có mức tăng trưởng
4,1%, tăng đáng kể so với mức tăng 1,6 %, nông nghiệp tăng mạnh, từ mức tăng

khuyết tật, sai lầm trong quá trình xây dựng CNXH nhưng không quan niệm
những lệch lạc đó là khuyết tật của bản thân chế độ, coi khuyết điểm là tất cả,
phủ định thành tựu, từ đó dao động về mục tiêu và con đường đi lên CNXH.
Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu CNXH, mà là làm cho mục tiêu ấy
được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, bằng
những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.
1. Giữ vững mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
2. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ các nguồn
lực nhất là nguồn lực nội sinh để công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
3. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
4. Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước,
đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, thực hiện cần kiệm xây dựng CNXH.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status