DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Nội dung
CBQL : Cán bộ quản lý
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CTVTT : Cộng tác viên thanh tra
GD : Giáo dục
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GV THPT : Giáo viên Trung học phổ thông
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
HT : Hiệu trưởng
KH : Kế hoạch
KT : Kiểm tra
NT : Nhà trường
NV : Nhân viên
PHT : Phó hiệu trưởng
QL : Quản lý
QLGD : Quản lý giáo dục
QLNN : Quản lý nhà nước
THPT : Trung học phổ thông
TT : Thanh tra
TTGD : Thanh tra giáo dục
TTHĐSP : Thanh tra hoạt động sư phạm
TTV : Thanh tra viên
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.3. Thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên 14
1.4.1. Nguyên tắc thanh tra 15
2.2.2. Thực trạng về công tác xây dựng lực lượng TTV và CTVTT 44
2.2.4. Thực trạng về tổ chức thực hiện TT 54
2.2.5. Thực trạng về chỉ đạo công tác thanh tra 56
2.2.6. Thực trạng về kiểm tra công tác thanh tra 58
2.2.7. Thực trạng về tổ chức sử dụng kết quả thanh tra 60
2.2.8. Thực trạng về các điều kiện hỗ trợ cho công tác thanh tra 61
2.3. Đánh giá chung 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65
Chương 3 66
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC THANH TRA HOẠT ĐỘNG SƯ
PHẠM CỦA GIÁO VIÊN THPT TỈNH LÂM ĐỒNG 66
3.1. Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 66
3.1.1. Nguyên tắc về tính định hướng đảm bảo mục tiêu GD&ĐT 66
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý 68
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 69
3.2. Đề xuất biện pháp 70
3.2.1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, thanh tra viên,
cộng tác viên TT và GV về công tác thanh tra 70
3.2.2. Xây dựng kế hoạch công tác TT HĐSP của GV THPT 72
3.2.3. Cải tiến phương thức thanh tra HĐSP của GV THPT 74
3.2.4. Xây dựng đội ngũ Thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra đáp ứng yêu cầu
công tác thanh tra 76
3.2.5. Chỉ đạo triển khai công tác TT HĐSP của GV THPT 79
3.2.7. Sử dụng các kết luận sau thanh tra nhằm đổi mới HĐSP của GV THPT 85
3.2.8. Tăng cường hỗ trợ các điều kiện, phương tiện làm việc cho TTV, CTV TT 88
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 89
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 90
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
1. Kết luận 95
đối với công tác TT HĐSP của GV THPT 59
Bảng 2.16. Mức độ, kết quả thực hiện về tổ chức sử dụng kết quả thanh tra 61
Bảng 2.17. Mức độ, kết quả thực hiện về các điều kiện hỗ trợ 61
cho công tác thanh tra 62
Bảng 3.1. Ý kiến đánh giá về tính cần thiết và khả thi 90
của các biện pháp 90
Bảng 3.2. Tính tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi 92
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Mô hình quản lý 10
Biểu đồ 2.1 : Biểu đồ so sánh kết quả đánh giá và tự đánh giá của HT và GV
THPT về phẩm chất, năng lực, uy tín của lực lượng CTVTT bậc học THPT 49
Biểu đồ 2.2 : Biểu đồ mức độ thực hiện việc xây dựng kế hoạch TT HĐSP GV
THPT của Sở GD&ĐT 53
Biểu đồ 2.3 : Biểu đồ kết quả thực hiện việc xây dựng kế hoạch TT HĐSP GV
THPT của Sở GD&ĐT 54
Biểu đồ 3.1 : Biểu đồ khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 91
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ khảo nghiệm tính rất khả thi của các biện pháp đề xuất 92
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hoạt động quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng, quá
trình quản lý diễn ra theo một chu trình với 4 chức năng cơ bản, đó là: kế
hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra, thanh tra. Trong đó, chức năng kiểm
tra, thanh tra là chức năng giúp cho nhà quản lý xác định hệ quản lý đang ở
tình trạng nào để có giải pháp điều chỉnh cho phù hợp; kiểm tra, thanh tra còn
là cầu nối giữa nhà quản lý và đối tượng bị quản lý, là nơi diễn ra quá trình
thu nhận thông tin để hệ vận động và phát triển. Do đó, việc nghiên cứu hoàn
thiện công tác thanh tra, kiểm tra là yêu cầu có tính cấp thiết và liên tục.
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ XI đã
xác định quan điểm phát triển giáo dục nước ta giai đoạn hiện nay và những
năm trước mắt là: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo (GD &
của GV THPT ở địa phương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động thanh tra trường THPT của Sở Giáo dục và Đào tạo.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý của thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên
THPT tỉnh Lâm Đồng.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của Giám đốc Sở Giáo
dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng đối với thanh tra HĐSP của GV các trường THPT.
2
4.2. Giới hạn về khách thể khảo sát
- 03 Lãnh đạo Sở
- 40 Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng 20 trường THPT tỉnh Lâm Đồng
- 130 giáo viên một số trường THPT tỉnh Lâm Đồng
- 120 cộng tác viên thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng
- 05 Thanh tra viên của Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng
4.3. Giới hạn địa bàn khảo sát
Khảo sát ở 20/59 trường THPT trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
5. Giả thuyết khoa học
Công tác thanh tra HĐSP của GV THPT trong thời gian qua đã góp một
phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của tỉnh Lâm
Đồng. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý công tác HĐSP của GV THPT tỉnh Lâm
Đồng còn một số tồn tại, bất cập.
Nếu có sự nghiên cứu, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng quản lý của Sở
Giáo dục và Đào tạo đối với công tác thanh tra HĐSP của GV THPT và đề xuất
được các biện pháp cần thiết, khả thi thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
công tác thanh tra giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện
nay.
phạm của giáo viên trung học phổ thông tỉnh Lâm Đồng; Kết luận và khuyến
nghị; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC THANH TRA
HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thanh tra (TT) là một phạm trù lịch sử, TT gắn liền với quá trình lao
động xã hội. Chính bản chất của quá trình lao động xã hội đã đòi hỏi tính tất
yếu phải có sự quản lý để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện
những chức năng chung phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động của cả cơ
chế sản xuất với sự vận động của các yếu tố khách quan, độc lập hợp thành cơ
chế sản xuất đó.
Thanh tra giáo dục (TTGD) là loại hình thanh tra chuyên ngành, được
hình thành ở nhiều quốc gia trên thế giới như Pháp, Đức, Nhật, Bỉ, Hà Lan, Ai
Cập … và tồn tại song song với nhiều loại hình thanh tra khác. TTGD thực
hiện quyền thanh tra nhà nước về giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước,
nhằm tăng cường hiệu lực quản lý, bảo đảm và nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo.
Ở Việt Nam, dưới thời Pháp thuộc, hệ thống TTGD đã được hình thành
từ Trung ương đến các tỉnh, huyện. TTGD thời kỳ này đã để lại nhiều dấu ấn đối
với những người dạy học thời kỳ trước cách mạng tháng 8/1945. Các quan
TTGD thực hiện sự đánh giá thường bất chợt, chủ quan theo phương châm
"vạch mặt, tóm bắt". Quyền hạn của các quan TTGD thời kỳ này rất lớn.
Nhìn lại quá trình hoạt động Thanh tra Giáo dục (TTGD), từ khi có
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới ánh sáng đường lối đổi
mới của Đảng, Bộ Giáo dục-nay là Bộ GD&ĐT đã có Quyết định 1019/QĐ-
BGD ngày 29/10/1988 ban hành bản quy định về tổ chức và hoạt động của hệ
5
Tác giả Hà Sỹ Hồ, trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học”
tập 2-NXBGD đã cho rằng: “Chức năng KT đặc biệt quan trọng vì quá trình
QL đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng QL,
về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược
chính xác, vững chắc giữa các phân hệ QL, và phân hệ được QL ”. Ông khẳng
định: “QL mà không kiểm tra thì QL sẽ ít hiệu quả và trở thành QL quan liêu”
[12, tr. 126].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang, trong cuốn “Những khái niệm cơ bản về
quản lý giáo dục” cho rằng: Quá trình QL diễn ra qua năm giai đoạn: “Chuẩn
bị kế hoạch, kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra; trong đó kiểm tra là giai
đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình QL. KT giúp cho việc chuẩn bị tích
cực cho kỳ KH tiếp theo. KT tốt sẽ đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng
thái cuối cùng của hệ thì đến kỳ KH tiếp theo là việc soạn thảo KH năm học
mới sẽ thuận lợi, kế thừa mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện được lệch
lạc để uốn nắn, loại trừ”. Tác giả kết luận: “Như vậy, theo lý thuyết
Xibecnetic, KT giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình QL, nó giúp cho chủ
thể QL điều khiển tối ưu hệ QL. Không có KT không có QL” [20, tr. 35].
Tác giả Đặng Quốc Bảo (1997) - “Những vấn đề cơ bản về quản lý
giáo dục” xác định: “KT là công việc gắn bó với sự đánh giá, tổng kết kinh
nghiệm giáo dục, điều khiển mục tiêu” [1, tr. 125].
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Cuối cùng, người QL phải thực hiện
chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra. Điều cần
lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi
hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức”[ 15, tr.45]
7
Vậy KT, TT có tác dụng rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động QLNN
nói chung, hoạt động QLGD nói riêng. Quản lý đồng thời là kiểm tra. Thanh
tra, kiểm tra nằm trong bản thân sự hoạt động QL.
Gần đây, một số Luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD đã nghiên cứu
về các biện pháp nhằm đẩy mạnh các hoạt động TT góp phần nâng cao chất
trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Trên cơ sở kế thừa kho tàng lý luận QL, để làm sáng tỏ phù hợp với
thực tiễn Việt Nam, các nhà nghiên cứu lý luận nước ta đã có một số định
nghĩa về khái niệm QL một cách cụ thể hơn:
Tác giả Vũ Hào Quang cho rằng: “QL chính là sự tác động liên tục, có
tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được
hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [21, tr. 105].
Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ đã viết: “QL là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, QL một hệ thống nhằm đạt được mục tiêu
nhất định”
Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “QL là những tác động của chủ thể QL
trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các
nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội
lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”
[14, tr. 8].
Tóm lại, QL là hệ thống những tác động gây ảnh hưởng, có chủ định,
phù hợp quy luật khách quan của chủ thể QL đến khách thể QL thông qua
việc thực hiện các chức năng QL bằng những công cụ và phương pháp mang
tính đặc thù nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội
9
của khách thể QL để đạt đến mục tiêu chung của hệ thống trong một môi
trường luôn biến động. Quá trình tác động đó được thể hiện qua sơ đồ:
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục (QLGD) là một bộ phận quản lý xã hội, được hình
thành một cách khách quan.
Tùy theo cách nhìn nhận ở những góc độ khác nhau, các nhà nghiên
cứu về QL đã đưa ra những khái niệm về QLGD như sau:
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QLGD là những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL
đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục
quan, xí nghiệp”.
Năm 1961, trong bài huấn thị về công tác TT, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói “Thanh tra là tai mắt của Đảng và Chính phủ, tai mắt sáng suốt thì người
mới sáng suốt”.
Theo tác giả Trần Kiểm: “Thanh tra là hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước, có chức năng duy trì các hoạt động của cơ quan hay của công
chức bằng các hoạt động xem xét, thẩm định lại những hành vi của công
chức, những hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở những
quy định pháp lý về quyền hạn, nhiệm vụ của cá nhân hoặc tổ chức được TT”
[15, tr.81]
11
Luật Thanh tra năm 2010 đã nêu: Mục đích của hoạt động TT nhằm
phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát
hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực
hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng
cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động QLNN; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Từ những luận điểm nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm Thanh tra
như sau: Thanh tra là một dạng hoạt động, là một chức năng của QLNN được
thực hiện bởi chủ thể QL có thẩm quyền, nhân danh quyền lực nhà nước,
nhằm tác động đến đối tượng QL trên cơ sở xem xét, đánh giá ưu, khuyết
điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, tăng cường
QL, góp phần hoàn thiện cơ cấu QL, tăng cường pháp chế bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.
TT có nghĩa là sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của
một đối tượng nhất định.
Thanh tra khác với kiểm tra. Kiểm tra là một trong những chức năng cơ
bản, là giai đoạn kết thúc trong quá trình QL. Theo Từ điển tiếng Việt (1992):
“Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”. Theo Từ điển
Có khả năng chuyên
sâu
Không nhất thiết phải chuyên
sâu
Về phạm vi hoạt
động
Có khả năng chuyên
sâu
Rộng, có tính quần chúng
Về thời gian tiến
hành
Dài Ngắn
Về sản phẩm Văn bản kết luận Ý kiến tư vấn
Sự phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra chỉ là tương đối. Khi tiến hành
thanh tra, thường thực hiện nhiều hoạt động kiểm tra. Khi tiến hành kiểm tra,
có thể chọn nội dung thanh tra. Chính từ quan hệ qua lại giữa hai khái niệm
này nên trong thực tế người ta hay sử dụng cả hai từ: thanh tra, kiểm tra.
Như vậy, TT luôn được hiểu gắn liền với hoạt động của chủ thể mang
thẩm quyền Nhà nước. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi được trao quyền,
nhân danh chủ thể QLNN tiến hành TT, KT, xem xét tận nơi, tại chỗ các đối
13
tượng của QL để giúp cho QL đạt được mục tiêu nhiệm vụ đã đặt ra.
1.2.2.2. Thanh tra giáo dục
Thanh tra giáo dục (TTGD) là hoạt động của chủ thể QLGD nhằm
kiểm tra xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân hoạt động
trong lĩnh vực GD&ĐT (đối tượng của QLGD); thường được thực hiện bởi
một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để
giúp cho QLGD đạt được mục tiêu nhiệm vụ đã đặt ra.
Thanh tra giáo dục thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi QLNN về
GD, nhằm đảm bảo việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng
hạn chế, thiếu sót.
1.4. Nguyên tắc thanh tra và yêu cầu quản lý hoạt động thanh tra giáo
dục trong giai đoạn hiện nay
1.4.1. Nguyên tắc thanh tra
Nguyên tắc TT là tập hợp các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành
động mà các cơ quan QL, các tổ chức TT, các Thanh tra viên (TTV) và các
đối tượng TT phải tuân theo trong quá trình hoạt động TT.
Luật TT năm 2010 đã nêu: Hoạt động TT phải tuân theo pháp luật; bảo
đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không
trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ
quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở đến hoạt động bình
thường của cơ quan tổ chức, cá nhân là đối tượng TT” [24, tr. 4].
Do vậy, hoạt động TT phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc phải tuân thủ pháp luật: không được làm trái pháp luật là
nguyên tắc quan trọng đối với những người làm công tác TT. Đây là nguyên
tắc cơ bản bao trùm toàn bộ hoạt động TT.
15
- Nguyên tắc bảo đảm tính chính xác: là nguyên tắc quan trọng, bảo đảm
cho công tác TT đạt hiệu quả cao, phản ảnh đúng sự thật về đối tượng TT.
- Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan: để bảo đảm nguyên tắc này cần
phải sâu sát thực tiễn, tôn trọng sự thật. Do vậy, yêu cầu cán bộ TT phải có bản
lĩnh vững vàng, ý thức trách nhiệm cao và có năng lực xem xét, phân tích chính
xác, khoa học.
- Nguyên tắc đảm bảo tính công khai, dân chủ: nguyên tắc này đòi hỏi:
nội dung, kết luận, kiến nghị TT phải được thông báo đầy đủ để những người
liên quan biết cùng tham gia, giám sát, góp phần bảo đảm tính chính xác,
khách quan trong hoạt động TT.
- Nguyên tắc đảm bảo tính kịp thời: là phát hiện, ngăn ngừa, xử lý vi
phạm kịp thời, đáp ứng yêu cầu: không chậm trễ và gắn với chu trình QL.
- Nguyên tắc không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời
TTGD chưa bám sát vào chức năng của mình. Không ít vụ việc sai phạm
trong lĩnh vực giáo dục do quần chúng nhân dân hay do đội ngũ giáo viên
phát hiện chứ không phải do TTGD. Xử lý của TTGD có khi còn chậm và
hiệu quả chưa cao. TTGD chưa phát huy được dân chủ hóa cơ sở trong quá
trình hoạt động của mình. Cơ chế: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
chưa được thực hiện đầy đủ.
Có nhiều nguyên nhân đưa đến những khiếm khuyết, tồn tại nêu trên.
Một trong những nguyên nhân ấy chính là tổ chức và hoạt động của TTGD
chậm đổi mới, chưa theo kịp với những biến đổi và phát triển của GD& ĐT,
nhất là giai đoạn 10 năm qua (2001- 2010). Do đó, một trong những vấn đề cấp
bách đặt ra cho TTGD là phải nhanh chóng đổi mới tổ chức và hoạt động của
mình sao cho phù hợp với tình hình mới, nhất là ở những năm tiếp theo, khi
17
GD& ĐT nước ta bước vào giai đoạn tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển
giáo dục 10 năm tiếp theo của thế kỷ XXI mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.
Đổi mới công tác TTGD nói chung và TT hoạt động sư phạm GV
THPT nói riêng là yêu cầu mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm
phục vụ đắc lực cho QLNN và QLGD. Để làm được vấn đề đó, QL công tác
TT cần phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- Coi trọng đổi mới hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn
TT theo yêu cầu bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động TT. Đây là một trong
những vấn đề cơ bản;
- Phải đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức TT và TTV cho
sát với yêu cầu QLNN và QLGD hiện nay;
- Thông qua hoạt động thực tiễn và trên cơ sở quy định của pháp luật,
các tổ chức TT phải tăng cường củng cố tổ chức và xây dựng lực lượng. Nâng
cao trình độ lý luận, năng lực nghiệp vụ cho TTV, CTVTT.
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra giáo dục
1.5.1. Yếu tố chủ quan
Trước hết, đó là nhận thức, tâm lý và tư tưởng của đội ngũ TTV, CTV