1
Tiểu luận CÔNG NGHỆ TRUYỀN DỮ LIỆU TRÊN NỀN TẢNG B2B
2
Contents
TRAO ĐỔI DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ- EDI 4
I. KHÁI NIỆM 4
1. Khái niệm 4
2. Lịch sử hình thành và ra đời 4
3. Sự hình thành và phát triển của các chuẩn EDI 5
II. NGUYÊN LÍ HO ẠT ĐỘNG 6
III. LỢI ÍCH CỦA EDI 8
IV. PHÂN LO ẠI 8
Xét trên quan điểm kết nối cơ bản có 2 loại: kết nối trực tiếp và kết nối gián tiếp 8
Dựa trên kết nối internet có 2 loai: EDI truyền thống và Internet EDI: 9
V. TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG EDI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 10
INTERNET EDI 11
1. Viettel IDC của viettel 29
2. Mạng riêng ảo GigaWan của CMC TI 29
3. Dịch vụ MPLS/VPN của FPT Telecom 32
4. Dịch vụ mạng riêng ảo VPN/MPLS của VNPT 35
VI. CHI PHÍ SỬ DỤNG VPN 36
1. Chi phí thấp 37
2. Giảm chi phí đàm thoại đường dài 37
VAN 38
I. KHÁI NIM 38
II. CÁCH THỨC HOẠT ĐỘNG 38
III. ƯU, NHƯỢC ĐIỂM 39
1. Ưu điểm 39
2. Nhược điểm: 39
IV. NHÀ CUNG CẤP 40
VII. CHI PHÍ 40
4
CÔNG NGHỆ TRUYỀN DỮ LIỆU TRÊN NỀN TẢNG B2B
TRAO ĐỔI DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ- EDI
I. KHÁI NIỆM
1. Khái niệm
Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI) là việc trao đổi các dữ
liệu dưới dạng có cấu trúc (stuctured form - có cấu trúc nghĩa là các thông tin trao đổi
được với các đối tác thỏa thuận với nhau tuân thủ theo một khuôn dạng nào đó) từ máy
chuyến hàng vào file dữ liệu máy tính tương thích với các định dạng chuẩn TDCC ->
dạng thức đầu tiên của EDI
3. Sự hình thành và phát triển của các chuẩn EDI
Năm 1979, ANSI hình thành nên một ủy ban mới có nhiệm vụ thống nhất các
chuẩn EDI.ủy ban này mang tên ủy ban tiêu chuẩn được ủy quyền X12 (ASC X12-
Accredited Standard Committee X12)
Tiêu chuẩn thông thường gồm các đặc tả cho vài trăm sét giao dịch ( Transaction
Sét), đó là tên của các định dạnh (format) cho các trao đổi dữ liệu kinh doanh đặc thù.
Các set giao dịch ASC X12 sử dụng phổ biến
104
Thông tin v
ậ
n t
ả
hàng không
829
Yêu c
ầ
u h
ủ
y thanh toán
110Các chi ti
Thông tin v
ề
hàng t
ồ
n kho
151Gi
ớ
i thi
ệ
u l
ậ
p file đi
ệ
n t
ử
d
ữ
li
ệ
u
thuế doanh thu
847
chuẩn ASC X12.
- Năm 1987, Liên hiệp quốc đã công bố những chuẩn đầu tiên dưới tên gọi
EDI cho quản trị, thương mại và vận tải (EDIFACT, hay UN/EDIFACT)
Một số sét giao dịch UN/EDIFACT sử dụng phổ biến
BOPCUS
Báo cáo v
ề
cân đ
ố
i thanh
IFTC
CA
Tính chi phí g
ử
i 6
toán giao d
ị
ch khách hàngvà v
ậ
ị
ch phân ph
ố
i
REMADV
Nh
ậ
n thông báo
trả nợ
HANMOV
V
ậ
n chuy
ể
n
và b
ả
o qu
ả
n
hàng hóa
STATAC
Di
ễ
n gi
ả
7
Bước 1: Bên gửi dữ liệu điện tử sẽ chuẩn bị tài liệu điện tử. Nghĩa là họ
phải mã hóa dữ liệu điện tử của họ dưới dạng chuẩn EDI dựa vào hệ thống phần mềm của
mình. Như trên sơ đồ chúng ta có thể nhận thấy các bước thực hiện ở đây:
Bước 2: Dịch dữ liệu để truyền thông: ở bước này: từ bộ chuyển đổi EDI
Phong bì EDI cho thông điệp truyền tải modern. Để chuẩn bị truyền dữ liệu điện tử thông
qua các phương tiện điện tử.
Bước 3 : Truyền thông. Truyền EDI trong môi trường mạng. Ở đây sẽ có 2
cách để thực hiện truyền EDI và mỗi cách đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng
của nó.
- Truyền EDI thông qua môi trường internet công cộng. Phương pháp này có
ưu điểm là tốn ít chi phí, nhưng độ an toàn bảo mật không cao. Dữ liệu có thể dễ dàng bị
thay đổi trên đường truyền tới đối tác của mình.
- Truyền EDI thông qua mạng VAN riêng. Nghĩa là sẽ có những công ty
đứng ra lập các đường dây mạng để kết nối các đối tác với nhau. Phương pháp này có
nhược điểm là rất đắt nhưng có ưu điểm là độ bảo mật được thực hiện một cách tuyệt đối.
Tài liệu không thể bị thay đổi do truyền trong một đường dây riêng.
Bước 4: Dịch dữ liệu đến. dữ liệu modern Phong bì EDI cho thông điệp
truyền tải chuyển định dạng trong. Ở đây với hệ thống phần mềm của mình, bên nhận sẽ
tiến hành dịch các dữ liệu mà bên gửi gửi thông qua bộ hệ thông phần mềm của họ dựa
trên các chuẩn EDI.
Bước 5: Xử lí tài liệu điện tử . Tại liệu sau khi được dịch sẽ được chuyển
đến hệ thống điện tử. Và ở đây tài liệu điện tử sẽ được bên nhận xử lí.
Khi giao dịch được thực hiện bằng EDI, hệ thống máy tính của công ty bạn sẽ hoạt
động như một kho dự trữ các dữ liệu cần thiết để hỗ trợ các giao dịch đó.Khi được sử
dụng, EDI rút thông tin từ những ứng dụng của công ty và truyền tải các chứng từ giao
dịch phi giấy tờ dưới dạng máy tính đọc được qua đường dây diện thoại hoặc các thiết bị
viễn thông khác.Ở đầu nhận, dữ liệu có thể nhập trực tiếp vào hệ thống máy tính của đối
tác, được tự động xử lý với các ứng dụng nội bộ tại nơi nhận. Toàn bộ quá trình này diễn
ra trong vài phút mà không cần phải gõ lại thông tin và tránh cho các bên những phiền
• Kết nối EDI trực tiếp yêu cầu mỗi doanh nghiệp tham gia mạng EDI phải vận
hành một máy tính phiên dịch riêng của mình.
• Các máy tính này kết nối trực tiếp với nhau bằng các sử dụng modem và qua các
đường dây điện thoại hoặc các đường thuê bao riêng.
• Phương án kết nối qua điện thoại trở nên bất tiện khi các đối tác nằm ở các múi
thời gian khác nhau với các giao dịch nhạy cảm về thời gian, và khi khối lượng giao dịch
lớn.
• Phương án sử dụng đường dây thuê bao riêng trở nên rất đắt đỏ đối với doanh
nghiệp, đặc biệt khi họ phải duy trì rất nhiều kết nối với những đối tác khác nhau. Các đối 9
tác thương mại thường dùng các giao thức truyền thông khác nhau, điều này làm cho cả
hai phương án kết nối trực tiếp đều khó thực hiện
Kết nối gián tiếp các đối tác thương mại sử dụngVAN – Mạng giá trị gia
tăng
( sẽ nói chi tiết ở phần sau)
Dựa trên kết nối internet có 2 loai: EDI truyền thống và Internet EDI:
EDI truyền thống EDI trên cơ sơ Internet
Định nghĩa Là sự chuyển thông tin từ máy tính
này sang máy tính khác bằng
phương tiện điện tử theo một tiêu
chuẩn đã được thỏa thuận về cấu
trúc thông tin
Là sự trao đổi thông điệp cho các giao
dịch kinh doanh giữa các máy tính của
các tổ chức khác nhau bằng cách sử
10
V. TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG EDI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Hàn quốc: ở Hàn quốc tất các các thông điệp thương mại điện tử (EDI,XML hay
XMl/EDI) đều được chuẩn hóa bởi ủy ban EDIFACT Hàn Quốc – KEC. 610 thông điệp
chuẩn (262EDI,53XML/EDI,295 XML) cụ thể trong các ngành, lĩnh vực như thương
mại, bảo hiểm, tài chính, hải quan, điện tử, đóng tàu, vận tải biển, phân phối oto xe
máy…
Nhật bản: hội đồng trao đổi dữ liệu điện tử (JEDIC) là tổ chức hoạt động nhằm
phổ biến và thúc đẩy EDIFACT, thúc đẩy quá trình chuẩn hóa với cả người bán và người
mua cho các giao dịch kinh doanh. Kết quả cho thấy 59,4% hiện nay đang áp dụng EDI
trong công tác hành chính và 53,9% áp dụng EDI cho công tác marketing.
Việt Nam:
Cảng Hải Phòng ngày 21/11/2003, Cảng Hải Phòng đã triển khai xây dựng hệ
thống kết nối dữ liệu điện tử EDI với hàng tàu APM. Ngày 14.6.2004, sau hơn 6 tháng
phối hớp với hãng tàu APM, toàn bộ hệ thống EDI đã được xây dựng và hãng tàu đã
chính thức dùng sô liệu EDI để triển khai container tại Cảng Hải Phòng. Hệ thống được
xây dựng theo hệ thống tiêu chuẩn quốc tế EDIFACT.
Ulilever Việt Nam: Năm 2007, Unilever VN và Metro Cash & Carry đã triển khai
trao đổi dự án trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) trong giao dịch đặt hàng. Hiện nay, Unilever
mới chỉ triển khai EDI đối với quy trình đạt hàng trong 1 1 siêu thị và 240 nhà phân phối,
từ dự án này Unilever sẽ mở rộng rộng khắp đến các nhà phân phối trên cả nước.
Dựa trên định nghĩa của EDI, Internet EDI được định nghĩa là sự trao đổi thông
điệp cho các giao dịch kinh doanh giữa các máy tính của các tổ chức khác nhau bằng
cách sử dụng các thoả thuận chuẩn (các hiệp định khác nhau được đồng ý rộng rãi trên
thế giới đến mức có thể được) qua Internet. Sau đây là các thoả thuận chuẩn có thể dùng
cho việc truyền thông tin và biểu diễn thông tin, nhưng phải bổ sung thêm các thoả thuận
mới khi chuyển từ đường truyền thông hiện tại sang Internet.
III. PHÂN LOẠI
Có 2 loại Internet EDI như sau:
1. Truyền file:
Là mở rộng của EDI kiểu truyền theo lô hiện tại, trong đó thông điệp EDI được
truyền và nhận trong dạng file. Giao thức truyền thông chuẩn được sử dụng bao gồm giao
thức FTP (giao thức truyền file), SMTP/MIME (giao thức thư ) hoặc giao thức ZENGIN
(Liên đoàn các hiệp hội ngân hàng Nhật Bản), dựa trên TCP/IP… Giao thức ZENGIN chỉ
được dùng trong nội đia của Nhật.
2. Kiểu WWW:
Bằng cách chuyển đổi thông điệp EDI sang định dạng HTML và đăng ký trên máy
phục vụ WWW, thông điệp EDI có thể đọc được và nhập vào dễ dàng từ trình duyệt
WWW. HTTP được sử dụng như giao thức truyền thông.
12
IV. LỢI ÍCH
Internet cũng làm một cuộc cách mạng hoá nền thương mại điện tử doanh nghiệp
đến doanh nghiệp. EDI thông qua Internet đã rẻ hơn rất nhiều so với VANs và những
người sử dụng EDI ở qui mô lớn đã phát triển những hệ thống giao dịch trực tuyến của họ
dựa trên web dựa trên những ngôn ngữ đánh dấu tương thích với Web thay cho những tài
liệu EDI cứng nhắc. Nǎm 2001, một phiên bản của XML được thiết kế cho thương mại
điện tử, được gọi là ebXML, đã chính thức được chuẩn hoá và những người sử dụng ngày
nay đang tiến hành kết hợp những yếu tố tốt nhất của EDI và ebXML để tạo ra một loại
13
V.
GIAO THỨC TRUYỀN THÔNG DÙNG CHO INTERNET EDI1. FTP (File Transfer Protocol)
FTP là giao thức truyền file phổ biến nhất được sử dụng qua mạng TCP/IP
.
Các phương pháp xác nhận truyền như kiểm tra kích cỡ file được yêu cầu để
kiểm tra dữ liệu được gửi và nhận không bị rò rỉ. Khi kết nối máy phục vụ FTP tới
Internet, phải có các biện pháp an ninh mạng như cài đặt bức tường lửa trong mạng
LAN nội bộ.
2. SMTP/MIME (Simple Mail Transfer Protocol/Multi-purpose Internet
Mail Extension)
SMTP/MIME là giao thức truyền thư được sử dụng bởi mạng TCP/IP. Chỉ các
chuỗi ký tự mới có thể truyền hoặc nhận bởi SMTP và việc chuyển đổi (mã hóa)
thành các chuỗi ký tự bằng phương pháp MIME sẽ cho phép truyền các file có chứa
các dữliệu nhị phân.
3. HTTP (Hyper-Text Transmission Protocol)
Giao thức được sử dụng để truyền và nhận dữ liệu HTML giữa máy phục vụ
WWW và trình duyệt.
4. Địa chỉ IP (Internet Protocol)
-
Sử dụng trái phép PC hoặc máy phục vụ: Kẻ tội phạm máy tính truy cập
trái phép một tập tin hoặc một chương trình trên một PC hoặc một máy phục vụ để lấy
thông tin, sửa đổi và cuối cùng phá hủy chúng. Hơn nữa chúng có thể dùng để phá
hủy chức truyền thông.
-
Mắc trộm để nghe lén, nhìn trộm một cách phi pháp những thông tin
truyền qua mạng và sửa đổi chúng.
-
Nặc danh những dữ liệu truyền. 1. Mức IP (phương pháp kiểm tra truy nhập).
Khái niệm: Là phương pháp cho phép tất cả các gói IP, và kiểm soát gói
nào thì phải hạn chế (loc). Thông thường, bằng cách giới hạn các dịch vụ cần thiết ở
mức tối thiểu sẽ ngăn chặn được việc truyền bất hợp pháp.
Ý tưởng cơ bản của việc lọc như sau:
-
Chỉ cho qua các gói dịch vụ được yêu cầu
-
Không cho qua các gói dịch vụ không sử dụng
-
o
Đặt máy phục vụ dịch vụ trên một segment ở bên trong bức tường lửa
o
Tách biệt với mạng của tổ chức bằng cách dùng một địa chỉ IP riêng
(quy định trong RFC 1597 – RFC là viết tắt của Request For Comments)
o
Những phát triển khác của công nghệ bảo mật ở mức IP được trình bày ở
các phần sau đây.
c. IP phiên bản 6 (IPv6).
Địa chỉ IP thế hệ mới của Internet IPv6 (IP Address Version 6) được Nhóm
chuyên trách về kỹ thuật IETF (Internet Engineering Task Force) của Hiệp hội
Internet đề xuất thực hiện kế thừa trên cấu trúc và tổ chức của IPv4.
IPv4 có 32 bít địa chỉ với khả năng lý thuyết có thể cung cấp một không gian
địa chỉ là 232 = 4 294 967 296 địa chỉ. Còn IPv6 có 128 bit địa chỉ dài hơn 4 lần so
với IPv4 nhưng khả nǎng lý thuyết có thể cung cấp một không gian địa chỉ là 2128 =
340 282 366 920 938 463 463 374 607 431 768 211 456 địa chỉ, nhiều hơn không gian
địa chỉ của IPv4 là khoảng 8 tỷ tỷ tỷ lần vì 232 lấy tròn số là 4.10 9 còn 2128 lấy tròn
số là 340. 10 36 (khoảng 340 tỷ tỷ tỷ tỷ địa chỉ).
Đây là một không gian địa chỉ cực lớn với mục đích không chỉ cho Internet mà
còn cho tất cả các mạng máy tính, hệ thống viễn thông, hệ thống điều khiển và thậm
chí cho từng vật dụng trong gia đình. Nhu cầu hiện tại chỉ cần 15% không gian địa chỉ
IPv6 còn 85% dự phòng cho tương lai. 16
Với cấu trúc của IPv6, các vấn đề cần quan tâm không còn là việc thiếu địa chỉ
lập thủ công, việc quản lý sẽ phức tạp và sẽ không linh hoạt khi mở rộng các chức
năng.Vì vậy cần thiết phải có một giao thức quản lý mã khóa nhằm có thể trao đổi
thông tin về mã khóa một cách năng động. IKE (Internet Key ExchangeTrao đổi mã
khóa Internet) do hãng Sysco đề xuất đã được sử dụng thành chuẩn giao thức quản lý
mã khóa của IP sec. Việc trao đổi mã khóa phiên được tiến hành dựa trên phương 17
pháp mã hóa khóa chung của Diffie-Hellman. Đầu tiên xác định thuật toán mã hóa
dùng cho giai đoạn sau đó và tạo ra một mã khóa theo hệ thống “DiffieHellman”. Sau
đó, thực hiện thỏa thuận các thông tin khác nhau cần thiết cho liên lạc IPsec, như một
số tuần tự cho truyền thông mã hóa và xác định thuật toán mã hóa và trao đổi một mã
khóa.
Có 3 giao thức chủ yếu là:
- IKE (Internet Key Exchange): trao đổi mã khóa Internet.
- ESP (Encapsulating Security Payload): Khối an ninh gói gọn.
Một gói IP được mã hóa, gắn thêm 3 thông tin SPI, số tuần tự và thông tin chứng thực
và gói thành một khối gọi là ESP, sau đó được truyền tới nơi nhận.
- SPI (Security Parameters Index-Chỉ số tham biến an ninh). Đây là định
danh của SA tương ứng. Ở phía nhận ESP, giá trị này chỉ định thuật toán mã hóa và
mã khóa cho giải mã.
Số tuần tự: Đây là con số tuần tự được gắn thêm vào các gói IPsec dùng để chống lại
các “tấn công gửi lại”, đó là gửi lặp lại một gói nào đó bị theo dõi và bị bắt giữ rồi
khống chế liên lạc. Bên nhận sẽ loại trừ một gói sai lệch dựa trên
kiểm tra con số tuần
tự này.Thông tin chứng thực: Chức năng của nó là đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu được
chữ ký số, v.v sẽ được các bên sử dụng, sau đó nó các bên xác nhận và truyền dữ liệu
ứng dụng.
Chức năng của SSL:
- Xác nhận một máy phục vụ: Khách dùng có thể thẩm tra chứng nhận của
máy phục vụ. Một CA (Certification Authority) ủy thác sẽ cấp chứng nhận cho máy
phục vụ trong đó công nghệ mã hóa khóa chung sẽ được dùng khi khách hàng gửi yêu
cầu tới CA.
- Chứng thực một khách hàng: Máy phục vụ có thể kiểm tra tên và mật
khẩu của người dùng. Máy phục vụ có thể thẩm tra chứng nhận của người dùng. Một
CA ủy thác sẽ cấp chứng nhận cho người dùng và công nghệ mã hóa khóa chung sẽ
được dùng khi người dùng gửi yêu cầu tới CA .
- Truyền dữ liệu mã hóa: Máy phục vụ và máy khách có thể kiểm tra xem
dữ liệu truyền có bị sửa đổi không. Người thứ ba không thể can thiệp vào dữ liệu
trong quá trình truyền. Việc mã hóa được thực hiện bằng hệ thống khóa thông thường.
b. Sự xuyên qua đường hầm (Tunneling)
Để các gói theo giao thức A có thể xuyên qua được các mạng với môi trường
giao thức B khác, các gói giao thức A được chèn vào trong các gói giao thức B, và các
gói A được gửi tới phía đối tác như thể chúng là các gói giao thức B. Bằng cách kết
hợp với mật mã hóa, các mạng riêng đã được xây dựng bằng cách sử dụng đường
riêng hiện có, bây giờ có thể xây dựng thành VPN (Virtual Private Network mạng
riêng ảo) với chi phí thấp sử dụng mạng công cộng như Internet, v.v
c. Tổng quan về các biện pháp bảo mật ở mức phương pháp truyền thông
Bảo mật liên quan tới phương pháp quản lý thông tin. 19
Mật khẩu
Phương pháp thực hiện việc xác thực nhận dạng riêng của phía khác theo các
chuỗi ký tự và chuỗi số được đăng ký trước. Nó được sử dụng rất rộng rãi vì đơn giản
Một phương pháp dẫn tới các thông tin quản lý bảo mật là sử dụng các dịch vụ
chỉ dẫn dựa trên LDAP (Light Weight Directory Access Protocol) được mô tả bởi
nhóm công tác IETF (The Internet Engineering Task Force). Nó rất hữu dụng để làm 20
tăng hiệu quả quản lý và các thao tác chứng nhận và các thông tin người sử dụng cá
nhân.
5. Các biện pháp đối phó với Virus
Cần xem xét các rủi ro xâm nhập của virus trong các trao đổi tệp qua Internet.
Khi trao đổi các tệp bằng thư điện tử và FTP trong môi trường Internet, việc truyền và
nhận các tệp đã bị nhiễm virus sẽ là nguyên nhân gây lan truyền virus. Vì vậy cần
phải chú ý rằng chỉ một lần bị nhiễm virus, thì vùng bị ảnh hưởng cũng sẽ lan ra các
máy khách. Để đối phó lại, cần kiểm tra trước khi truyền tệp và thực hiện việc kiểm
tra tại phía nhận.Sự kiểm tra/tiêu diệt virus bao gồm phương pháp kiểm tra bức tường
lửa cùng với máy phục vụ và phương pháp kiểm tra thiết bị khách của người sử dụng.
Vấn đề này luôn được giải quyết bằng phần mềm kiểm tra virus mới nhất
của tất cả những chiếc xe chạy qua đường hầmrồi.
Bạn có thể hiểu phương thức VPN dễ dàng là như thế.Đường xa lộ là DSL, và ống
hầm xuyên núi là phương thức bảo mật VPN. Và để bảo mật có hiệu quả, đường hầm có
"đầu vào" và "lối ra" tức là hai điểm nhà và công ty .
II. CÁCH THỨC HOẠT ĐỘNG
Hầu hết các VPN đều dựa vào kỹ thuật gọi là Tunneling để tạo ra một mạng riêng
trên nền Internet. Về bản chất, đây là quá trình đặt toàn bộ gói tin vào trong một lớp
header (tiêu đề) chứa thông tin định tuyến có thể truyền qua hệ thống mạng trung gian
theo những đường ống riêng( tunnel).
Khi gói tin được truyền đến đích, chúng được tách lớp header và chuyển đến các
máy chạm cuối cùng cần nhận dữ liệu. Để thiết lập kết nối Tunnel, máy khách và máy
chủ pahir sử dụng chung giao thức ( tunnel protocol). 22
Giao thức của gói tin bọc ngoài được cả mạng và hai điểm đầu cuối nhận biết.Hai
điểm đầu cuối này được gọi là giao diện Tunnel, nơi nhận gói tin đi vào và đi ra trong
mạng.
Kĩ thuật Tunneling yêu cầu 3 giao thức khác nhau:
Giao thức truyền tải là giao thức được sử dụng bởi mạng có thông tin đang đi
ngang qua.
Giao thức mã hoá dữ liệu là giao thức được bọc quanh gói dữ liệu gốc.
Giao thức gói tin là giao thức dữ liệu gốc được truyền đi.
Người dùng có thể đặt một gói tin sử dụng giao thức không được hỗ trợ trên
internet bên trong một gói IP và gửi đó an toàn qua internet. Hoặc họ coá thể đặt một gói
tin dùng địa chỉ IP riêng bên trong một gói khác dùng địa chỉ IP chung để mở rộng một
mạng riêng trên internet.
Kĩ thuật Tunneling trong mạng VPN điểm- nối điểm.
Trong VPN loại này, giao thức mã hoá định tuyến GRE cugn cấp cơ cấu “đóng
gói” giao thức gói tin để truyền đi trên giao thức truyền tải . Nó bao gồm thông tin về loại
24 III. LỢI ÍCH CỦA VNP
Mở rộng vùng địa lý có thể kết nối được
Tăng cường bảo mật cho hệ thống mạng
Giảm chi phí vận hành so với mạng WAN truyền thống
Giảm thời gian và chi phí truyền dữ liệu đến người dùng ở xa
Tăng cường năng suất
Giảm đơn giản hoá cấu trúc mạng
Cung cấp thêm một phương thức mạng toàn cầu 25
Cung cấp khả năng hỗ trợ thông tin từ xa
Cung cấp khả năng tương thích cho mạng băng thông rộng
Cung cấp khả năng sinh lợi nhuận cao hơn mạng WAN truyền thống
Một mạng VPN được thiết kế tốt sẽ đáp ứng được các yêu cầu sau:
Bảo mật (Security)
được thực hiện thông qua cơ sở hạ tầng công cộng bằng cách sử dụng công nghệ ISDN,
quay số, IP di động, DSL và công nghệ cáp và thường yêu cầu một vài kiểu phần mềm
client chạy trên máy tính của người sử dụng.