BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN
MẠNG & TRUYỀN DỮ LIỆU NÂNG CAO
Đề tài:
TÌM HIỂU CƠ CHẾ BẢO ĐẢM AN TOÀN ĐỊNH TUYẾN MULTICAST
CHO GIAO THỨC PBM TRÊN MẠNG MANET
GVHD: PGS.TS Võ Thanh Tú
Học viên: Lê Đình Phúc
Trần Đình Hoàng Huy
Lớp: K7MCS
Khoá: 2012-2014
Đà Nẵng, 08/2013
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 2
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 1
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, cùng với sự bùng nổ, phát triển mạnh mẽ của các thiết bị di động cá nhân
như: laptop, smartphone, tablet, thì nhu cầu kết nối giữa các thiết bị này cũng ngày
càng đòi hỏi cao hơn về tốc độ và khả năng kết nối. Mạng di động đặc biệt MANET
(Mobile Ad – hoc Network) là một trong những công nghệ vượt trội đáp ứng nhu cầu kết
nối đó nhờ khả năng hoạt động không phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng mạng cố định, với chi
phí hoạt động thấp, triển khai nhanh chóng và có tính di động cao. Mạng MANET có
một số đặc trưng như cấu hình topo mạng hay thay đổi, băng thông giới hạn, nguồn năng
lượng giới hạn, không có nút mạng cố định nào thực hiện chức năng điều khiển trung
mạng hạ tầng, truyền thông giữa các phần tử mạng phụ thuộc vào sự hỗ trợ của hạ tầng
mạng, các thiết bị đầu cuối di động truyền thông đơn bước không dây qua các điểm truy
nhập (các trạm cơ sở) để tới hạ tầng mạng cố định. Kiểu mạng không phụ thuộc hạ tầng
còn được gọi chung là các mạng tùy biến di động MANET (mobile adhoc network) là
một tập hợp của những node mạng không dây, những node này có thể được thiết lập tại
bất kỳ thời điểm và tại bất cứ nơi nào.
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 2
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
Mạng di động đặc biệt (Mobile Ad-hoc Netwowk) là mạng tự cấu hình của các nút
di động kết nối với nhau thông qua các liên kết không dây tạo nên mạng độc lập không
phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng mạng. Các thiết bị trong mạng có thể di chuyển một cách tự
do theo mọi hướng, do đó liên kết của nó với các thiết bị khác cũng thay đổi một cách
thường xuyên.
1.2. Lịch sử phát triển
Nguyên lý làm việc của mạng Ad-hoc bắt nguồn từ năm 1968 khi các mạng
ALOHA được thực hiện. Tuy các trạm làm việc là cố định nhưng giao thức ALOHA đã
thực hiện việc quản lý truy cập kênh truyền dưới dạng phân tán, đây là cơ sở lý thuyết để
phát triển kỹ thuật truy cập kênh phân tán vào mạng Ad-hoc.
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 3
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
Năm 1973 tổ chức DARPA đã bắt đầu làm việc trên mạng vô tuyến gói tin PRnet.
Đây là mạng vô tuyến gói tin đa chặng đầu tiên. Trong đó các nút hợp tác với nhau để
gửi dữ liệu tới một nút nằm ở xa khu vực kết nối thông qua một nút khác. Nó cung cấp
cơ chế cho việc quản lý hoạt động trên cơ sở tập trung và phân tán.
Một lợi điểm của làm việc đa chặng so với đơn chặng là triển khai đa chặng tạo
thuận lợi cho việc dùng lại tài nguyên kênh truyền về cả không gian, thời gian và giảm
năng lượng phát cần thiết.
Sau đó có nhiều mạng vô tuyên gói tin phát triển nhưng các hệ thống không dây này
4. Ứng dụng phổ biến của mạng MANET
Công nghệ mạng Ad-hoc di động tương tự như mạng vô tuyến gói di động (Mobile
Packet Radio Networking), mạng lưới di động (Mobile Mesh Networking) và kết nối
mạng vô tuyến, nhiều chặng, di động (Mobile, Multihop, Wireless etworking). Vấn đề
nổi trội của kết nối mạng di động với sự nhấn mạnh về hoạt động của giao thức IP di
động sẽ được mở rộng dần và yêu cầu công nghệ kết nối di động có khả năng tương thích
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 5
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
cao để có thể quản lý hiệu quả các nhóm mạng Ad-hoc nhiều chặng, trong đó các nhóm
mạng có thể hoạt động độc lập hoặc cũng có thể kêt nối với một số điểm Internet cố định.
Các ứng dụng của công nghệ MANET có thể bao gồm các ứng dụng công nghiệp và
thương mại liên quan đến trao đổi dữ liệu di động có tính chất cộng tác lẫn các máy.
Ngoài ra, các mạng di động cấu hình lưới có thể được vận hành một cách hiệu quả dưới
dạng mạng thay thế hoặc mạng mở rộng của mạng di động tổ ong. Việc kết nối mạng
trong quân đội cũng yêu cầu các dịch vụ dữ liệu IP trong các mạng truyền thông di động
vô tuyến, nhiều mạng trong số này bao gồm các phần với cấu hình mạng tự trị với tính
động cao. Bên cạnh đó, sự phát triển của các công nghệ tính toán và truyền thông có thể
cung cấp các ứng dụng cho các mạng MANET. Khi được kết hợp một cách hợp lý với
truyền thông vệ tinh, mạng MANET có thể cung cấp các phương thức cực kỳ linh hoạt
trong việc thiết lập truyền thông cho hoạt động cứu hỏa, cứu thương, khắc phục sự cố tai
nạn hoặc các trường hợp cần triển khai mạng thật nhanh chóng để phục vụ tức thì.
Quân sự: hoạt động phi tập trung của mạng Ad-hoc và không phụ thuộc vào cơ sở
hạ tầng mạng là một yếu tố thiết yếu đối với lĩnh vực quân sự, nhất là trong các trường
hợp chiến đấu khốc liệt, các cơ sở hạ tầng mạng bị phá hủy. Lúc này mạng Ad-hoc là lựa
chọn số một để các thiết bị truyền thông liên lạc với nhau một cách nhanh chóng.
Trường học: Chúng ta cũng có thể thiết lập các mạng Ad-hoc trong trường học, lớp
học, thư viện, sân trường,… để kết nối các thiết bị di động (laptop, smartphone) lại với
nhau, giúp sinh viên, thầy cô giáo có thể trao đổi bài một cách nhanh chóng thông qua
mạng Ad-hoc vừa tạo.
đặc biệt của mạng ad hoc.
1.5. An toàn và độ tin cậy
Độ an toàn là một vấn đề quan trọng khi multicast trong MANET do bản chất quảng
bá của kiểu mạng này, môi trường không dây cũng như không có hạ tầng trung tâm.
MANET rất dễ bị tấn công trước các dạng tấn công chủ động cũng như bị động. Các giao
thức định tuyến multicast phải tính đến điều này đặc biệt khi sử dụng trong các hoạt động
quân sự, nguy cơ quốc gia hay tình trạng khẩn cấp. Độ tin cậy là nhân tố chìa khóa xác
định tỷ lệ phân phối gói tin trong mạng.
1.6. Khả năng mở rộng
Giao thức định tuyến cần đảm bảo cung cấp dịch vụ ở mức chấp nhận được bất kể
số lượng nút có trong mạng. Vì vậy cũng cần phải xem xét một số đặc tính như giới hạn
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 7
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
nguồn cung cấp, tính di động ngẫu nhiên,… của môi trường MANET để giải quyết vấn
đề này.
2. Các kiểu tấn công trong mạng MANET
Các dạng tấn công có thể chia làm 2 loại nếu dựa vào nguồn gốc: tấn công từ bên
trong, tấn công từ bên ngoài, hoặc dựa vào hành vi: tấn công chủ động, tấn công bị động.
Tấn công bên ngoài: kẻ tấn công gửi thông tin định tuyến giả đến các nút làm tắt
nghẽn mạng.
Tấn công bên trong: kẻ tấn công truy cập mạng một cách bình thường bằng cách
đóng vai hoặc thỏa hiệp với 1 nút mạng hiện tại và sử dụng nó để thực hiện các hành vi
của mình.
Tấn công bị động: kẻ tấn công thường nghe trộm thông tin và có được vị trí cũng
như mẫu di chuyển của các nút mạng. Kiểu tấn công này rất khó phát hiện do kẻ tấn công
rất ít khi biểu lộ các hoạt động bất thường trên mạng.
Tấn công chủ động: mục tiêu thường là lưu lượng dữ liệu hoặc lưu lượng định tuyến. Kẻ
tấn công gửi tràn ngập một lượng lớn các gói tin không cần thiết làm nghẽn mạng hoặc
có thể chủ động làm rơi, ngắt không chuyển tiếp hoặc tăng độ trễ chuyển các gói tin khi
Kiểu tấn công này làm tiêu tốn tài nguyên mạng, chẳng hạn như băng thông, làm
tiêu tốn tài nguyên của một nút như nguồn cung cấp hoặc ngắt hoạt động định tuyến làm
giảm hiệu năng mạng.
Tất cả các kiểu tấn công này cũng như các điểm yếu của MANET sẽ làm giảm hiệu
năng của các giao thức trong MANET.
III. GIAO THỨC MULTICAST DỰA TRÊN VỊ TRÍ (PBM)
1. Giới thiệu giao thức
PBM là một thuật toán định tuyến trong MANET. Ngược lại với các thuật toán
thông thường, PBM không sử dụng phân cấp dạng cây hoặc lưới. Thay vào đó nút
chuyển tiếp sẽ sử dụng thông tin về vị trí của nút đích và các nút láng giềng để xác định
nút tiếp theo phải gửi gói tin vì vậy rất thích hợp cho mạng có cấu hình hay thay đổi.
PBM là sự mở rộng của giao thức định tuyến unicast dựa trên vị trí (PBU) chẳng hạn như
face-2 hoặc GPSR. Hai điểm quan trọng nhất của PBM là các quy tắc để phân chia các
gói tin multicast và chiến lược sửa chữa trong tình huống không tồn tại láng giềng trực
tiếp để chuyển gói tin đến đích.
Định tuyến dựa trên vị trí (Position Based Routing) có 2 yếu tố chính: dịch vụ xác
định vị trí và chuyển tiếp dựa trên vị trí. Dịch vụ xác định vị trí sử dụng để ánh xạ định
danh duy nhất (như địa chỉ IP) của nút với vị trí địa lý của nó. Chuyển tiếp dựa trên vị trí
được thực hiện bởi nút để chọn 1 trong các nút láng giềng để chuyển tiếp gói tin đến.
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 9
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
Giao thức này sử dụng vị trí địa lý để xác định vị trí của nút. Với thông tin này, nút
chuyển tiếp sẽ chọn 1 trong các nút láng giềng sao cho gói tin hướng đến vị trí địa lý của
đích. Có trường hợp không có nút láng giềng nào hướng đến đích nhưng có tồn tại một
đường đi hợp lệ đến đích. Lúc này gói tin được gọi là đã đến một vị trí địa phương tối ưu.
Lúc này chiến lược phục hồi sẽ được sử dụng để ra khỏi vị trí địa phương tối ưu và tìm
đường đến đích.
Để mở rộng định tuyến dựa trên vị trí đến multicast thì 2 vấn đề quan trọng cần
phải giải quyết. Một là, ở một nút nào đó, gói tin multicast phải được sao ra nhiều bản
tắc hóa với một giá trị giữa [0,1] bằng cách chia nó cho tổng khoảng cách còn lại từ nút
chuyển tiếp k đến các nút đích. Λ nằm trong khoảng [0,1] xác định trọng lượng của mỗi
đối tượng. Nếu λ gần bằng 0 thì gói multicast sẽ được phân chia sớm, ngược lại nếu λ
tiến gần đến 1 thì gói multicast chỉ phân chia nếu bị bắt buộc bởi các giới hạn để hướng
đến đích. λ xác định khi nào thì gói tin sẽ được phân chia.
3. Chuyển tiếp multicast vòng ngoài (Perimeter Multicast Forwarding)
Việc áp dụng chuyển tiếp multicast tham lam có thể dẫn đến tình huống gói tin đến
một nút nhưng không có láng giềng để thực hiện chuyển tiếp đến đích. Ở hình bên dưới,
một bản copy của gói multicast đang trên đường đến D2, D3 và D4 và bản copy cho D5
bị kẹt lại trong điểm tối ưu địa phương.
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 11
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
Hình 3.1: Định tuyến Multicast tham lam thất bại
Vấn đề này đã được giải quyết bằng cách áp dụng bản chỉnh sửa của quy tắc bàn tay
phải. Ý tưởng cơ bản là đi theo các biên của các khoảng trống trong mạng cho đến khi
chuyển tiếp tham lam có thể thực hiện lại được. Nếu một nút trong PBM phát hiện ra
không có láng giềng để chuyển tiếp đến một hoặc nhiều đích thì chế độ multicast vòng
ngoài được kích hoạt. Còn các nút đích khác thì chuyển tiếp multicast tham lam vẫn được
sử dụng. Khi một nút nhận được gói tin multicast vòng ngoài, nó kiểm tra mỗi đích đến
có gần với đích hơn nút mà gói tin bắt đầu chế độ multicast vòng ngoài hay không. Đối
với tất cả các đích có trường hợp chuyển tiếp multicast tham lam có thể được sử dụng lại
thì các nút đích khác sẽ được tiếp tục chuyển tiếp gói thông qua cạnh tiếp theo chiều kim
đồng hồ, nơi mà gói tin đã đến.
IV. GIỚI THIỆU LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI
1. Giới thiệu lý thuyết trò chơi
Lý thuyết trò chơi là một nhánh của Toán học ứng dụng. Ngành này nghiên cứu các
tình huống chiến thuật trong đó các đối thủ lựa chọn các hành động khác nhau để cố gắng
làm tối đa kết quả nhận được. Ban đầu được phát triển như là một công cụ để nghiên cứu
hành vi kinh tế học, ngày nay Lý thuyết trò chơi được sử dụng trong nhiều ngành khoa
sau mạnh hơn khái niệm cân bằng trước theo chiều mũi tên.
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 13
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
Bảng 4.1: Các cân bằng trong lý thuyết trò chơi
2.1. Trò chơi tĩnh với thông tin đầy đủ
2.1.1 Dạng thức của trò chơi
Dạng thức của trò chơi này là những người chơi đồng thời ra quyết định (hay hành
động) để tối ưu hóa kết quả (có thể là độ thỏa dụng, lợi nhuận, v.v.); mỗi người chơi đều
biết rằng những người khác cũng đang cố gắng để tối đa hóa kết quả mình sẽ thu được.
Kết quả cuối cùng cho mỗi người phụ thuộc vào phối hợp hành động của họ.
2.1.2 Trò chơi thế “lưỡng nan của người tù”
Giả sử Giáp và Ất cùng nhau ăn trộm, tuy nhiên công an lại chưa tìm được đủ
chứng cứ để có thể kết tội hai người. Mặc dù công an có thể tạm giam hai người nhưng
chưa thể kết tội nếu cả Giáp và Ất cùng không nhận tội. Công an mới nghĩ ra một cách
như sau khiến Giáp và Ất phải cùng khai đúng sự thật. Công an sẽ giam Giáp và Ất vào
hai phòng tách biệt, không cho phép họ được thông tin cho nhau và thông báo với mỗi
người rằng: Nếu cả hai cùng không chịu nhận tội thì mỗi người sẽ bị giữ thêm 1 tháng để
thẩm tra và tìm thêm chứng cứ. Nếu cả hai cùng khai nhận tội thì mỗi người sẽ phải ngồi
tù 3 tháng. Nếu chỉ có một người nhận tội còn người kia ngoan cố không chịu nhận tội
thì người thành khẩn cung khai sẽ được hưởng sự khoan hồng và không phải ngồi tù,
trong khi người kia sẽ chịu hình phạt nặng hơn, ngồi tù thay cả phần của người kia với
thời gian 6 tháng. Các khả năng và kết cục này được trình bày theo cách chuẩn tắc trong
bảng dưới đây.
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 14
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
Bảng 4.2: Thế lưỡng nan của người tù
2.1.3 Chiến lược áp đảo và chiến lược bị áp đảo
Trong trò chơi này, Giáp và Ất mỗi người chỉ có thể lựa chọn một trong hai chiến
lần lượt là không gian chiến lược (strategy space) và độ thỏa dụng của người chơi thứ i,
tổ hợp chiến lược (s*1, s*2, , s*n) là một cân bằng Nash nếu, với mỗi người chơi i nào
đó, s*i (chiến lược do người thứ i lựa chọn) là phản ứng tốt nhất của người chơi này đối
với các chiến lược của (n-1) người chơi còn lại (s*1, s*2, , s*i-1, s*i+1, , s*n) (ký
hiệu là s*-i).
Trong ví dụ của Giáp và Ất, điểm cân bằng của trò chơi là (“khai”, “khai”), tức là
Giáp và Ất cùng khai nhận tội, và đây cũng là cân bằng Nash duy nhất của trò chơi này.
Vì cân bằng Nash được tạo bởi những chiến lược phản ứng tốt nhất của tất cả người chơi
(ứng với các chiến lược tối ưu của những người chơi còn lại) nên nó có tính ổn định và
bền vững về mặt chiến lược (strategically stable), đồng thời nó có tính chất tự chế tài
(self-enforcement) – tức là mỗi người chơi, một khi cực đại hóa lợi ích của mình (trong
khi những người khác cũng cố làm như vậy), sẽ tự nguyện tuân thủ cân bằng Nash, đồng
thời họ không hề có động cơ để di chuyển khỏi điểm cân bằng này.
Sau khi dự báo được ứng xử của những người chơi khác thì mỗi người chơi chọn
chiến lược (hành động) để tối ưu hóa lợi ích của mình. Chiến lược (hành động) này vì
vậy được gọi là phản ứng tốt nhất (best response). Quay lại bài toán của 2 người tù, như
đã lập luận ở phần trên, “khai” là phản ứng tốt nhất của cả Giáp và Ất, và phản ứng tốt
nhất này không phụ thuộc vào hành động cụ thể của người kia (“khai” là chiến lược áp
đảo).
2.2. Trò chơi tĩnh với thông tin không đầy đủ
Dạng thức của trò chơi này là những người chơi đồng thời ra quyết định (hay hành
động) để tối ưu hóa kết quả (có thể là độ thỏa dụng, lợi nhuận, v.v.)Tuy nhiên mỗi người
chơi không thể tính toán được kết quả (payoff) của tất cả những người còn lại.
Tương tự như trò chơi tĩnh với thông tin đầy đủ, trong trò chơi này cũng tồn tại một
cân bằng là Bayesian-Nash.
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 16
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
V. PHƯƠNG PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN ĐỊNH TUYẾN MULTICAST
1. Cơ chế tấn công và chạy trốn
nhận thức rất rõ chiến thuật hoạt động của nút bình thường và có thể sử dụng kiến thức
này để tối đa hóa sự phá hoại mạng. Ngoài ra giải pháp này cũng không xem xét đến
chiến thuật phối hợp hoạt động của các nút ác hiểm.
2. Cây Steiner hướng dẫn vị trí (LGS)
Cây Steiner thường được sử dụng như cây phân phối gói multicast để nâng cao khả
năng phân phối của các gói multicast trong mạng cố định. Nó tỏa ra tất cả các nút trong
nhóm multicast và tối thiểu hóa chi phí tổng cộng của cây. Tìm cây Steiner trong mạng là
một bài toán tối ưu NP khó. Bằng phép heuristic Takahashi-Matsuyama nổi tiếng, giao
thức định tuyến multicast tạo ra cây Steiner bằng phương pháp gia tăng. Khởi đầu cây có
một nút nguồn. Ở mỗi bước lặp, điểm đến chưa được nối gần nhất với cây được thêm vào
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 18
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
cây. Khoảng cách thường được đo bởi số lượng quảng đường đi. Quá trình hình thành
cây được lặp lại đến khi tất cả nút đích nằm trong cây. Trong cách tiếp cận multicast hỗ
trợ định tuyến, mỗi nút trong mạng có thể trở thành một nút của cây.
Cây LGS được xây dựng sử dụng phiên bản đã chỉnh sửa của phép heuristic
Takahashi-Matsuyama. Điểm khác biệt là: (1) ta sử dụng khoảng cách địa lý để đo độ
gần; (2) chỉ các nút trong nhóm mới có thể trở thành nút của cây. Giữa các nút trong
nhóm, gói dữ liệu được đóng gói trong gói unicast và chuyển tiếp thông qua giao thức
định tuyến unicast bên dưới.
Hình 5.2: Thuật toán LGS
Khởi đầu, cây chỉ có nút n0. Trong tập các nút còn lại {n1, n2 n9}, nút n3 là gần
về địa lý với n0 nhất. Vì vậy, n3 được thêm vào cây với cạnh n0n3. Ở bước thứ hai, tập
còn lại của các nút chưa nối được xem xét và chọn nút gần với cây nhất. Trong ví dụ, ta
so sánh khoảng cách từ n0 đến mỗi nút trong tập chưa được nối {n1, n2, n4, ,n9} cũng
như khoảng cách từ n3 đến tập đó và chọn khoảng cách ngắn nhất giữa n0 và n5. Vì vậy,
n5 được thêm vào cây với cạnh n0n5. Quá trình này lặp lại cho đến khi tất cả các nút đều
nằm trong cây như hình trên. Tiếp theo, nút gửi n0 sẽ chuyển tiếp một copy của gói dữ
liệu đến mỗi nút con, cụ thể là n2, n3, và n5, với các cây con. Vì vậy các gói được gửi
TV2 = pf/pr (5)
Với pf: số lượng các gói chuyển tiếp bởi nút
pr: số lượng các gói nhận bởi nút
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 20
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
W xác định mỗi phần của giá trị tin cậy sẽ đóng góp bao nhiêu vào giá trị cuối cùng. Nói
cách khác, nó xác định làm thế nào để hai phương pháp tính toán độ tin cậy được kết hợp
để ra giá trị tin cậy cuối cùng.
5. Hình thành cây
Thuật toán hình thành cây LGS được chỉnh sửa để nâng cao hiệu quả của giao thức.
Trong LGS, trong khi xác định nút con của một nút nào đó trong cây multicast ta chỉ xem
xét khoảng cách. Trong khi đó theo hướng chỉnh sửa, độ tin cậy của các nút cùng với
khoảng cách giữa các nút được xem xét khi hình thành cây.
Trong ví dụ ở trên nếu độ tin cậy của n7 lớn hơn n3 và khoảng cách giữa n0 và n7 không
quá rộng so với giữa n0 và n3 thì việc hình thầy cây sẽ thay đổi. n7 thành nút con của nút
nguồn và n3 thành nút con của n7 như hình bên dưới:
Hình 5.3: Giải pháp
Giá trị ngưỡng được xác định dựa trên độ bất định trong việc xác định độ tin cậy:
Giá trị ngưỡng = TV(1-u) (6)
Trong đó u là độ bất định trong tính toán độ tin cậy.
Lê Đình Phúc - Trần Đình Hoàng Huy – K7MCS - GVHD:PGS.TS Võ Thanh Tú
Trang 21
Mạng & Truyền dữ liệu nâng cao
6. Tính hiệu quả của giải pháp
Để xem xét tính hiệu quả của giải pháp ta xem kết quả mô phỏng của một nghiên
cứu[1]. Tính hiệu quả được xem xét ở các tiêu chí: tỉ lệ phân phát gói tin, mức trễ trung
bình, control overhead và total overhead.
Với việc áp dụng giải pháp ở trên thì tỉ lệ phân phát gói tin tăng khoảng 10% trong
trường hợp bị tấn công; mức trễ trung bình giảm 1,5ms khi có tấn công thu thập và sử