[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
MỤC LỤC
Lời mở đầu
1. Tổng quan về FDI
1.1. FDI là gì?
1.2. Lợi ích thu hút FDI
1.2.1. Đối với chủ đầu tư
1.2.2. Đối với nước nhận đầu tư
1.3. Các hình thức FDI
2. Dòng vốn FDI trên thế giới
2.1. Tổng quan về dòng vốn FDI trong những năm gần đây
2.2. Xu hướng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong thời gian tới
3. Thực trạng dòng vốn FDI của Việt Nam
3.1. Tổng quan về dòng vốn FDI trong những năm gần đây
3.2. Những tồn tại và hạn chế của việc thu hút FDI
3.2.1. Những thách thức còn tồn tại
3.2.2. Hạn chế của việc thu hút FDI
4. Định hướng thu hút FDI của Việt Nam sau khủng hoảng
4.1. Mục tiêu thu hút FDI sau khủng hoảng
4.2. Những định hướng và chính sách thu hút FDI sau khủng
hoảng
4.2.1. Định hướng ngành
4.2.2. Định hướng vùng
4.2.3. Định hướng đối tác
4.3. Các giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam
Kết luận
Trang
1
2
2
cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng đấn tất cả các quốc gia trên thế giới, trên mọi
phương diện. FDI, cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng này. Vậy vấn đề đặt ra,
các quốc gia phải làm gì để có thể tiếp tục thu hút được nguồn vốn này sau cuộc
khủng hoảng.
Tiếp cận với FDI, chúng tôi xin được trình bày những gì tổng quan nhất về
nó. Dòng vốn FDI chảy đi đâu trên toàn bộ thế giới.
Việt Nam chúng ta, một quốc gia mới phát triển, đang hội nhập với kinh tế
thế giới sẽ phải làm gì để có thể tiếp tục thu hút được dòng vốn FDI trong thời gian
tới, đặc biệt đó là sự kết thúc của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới với những hậu
quả của nó để lại. Cần có những định hướng, chính sách thật rõ ràng có thể thu hút
và tiếp tục giữ chân “đại gia” FDI.
Bài tiểu luận này xin được đề cập đến vấn đề này!
****************
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 2
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
1. TỔNG QUAN VỀ FDI:
1.1. FDI là gì?
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó
người chủ sở hửu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động
sử dụng vốn. Sự ra đời và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất
yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế.
Tổ chức thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng
với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt fdi với các
công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà
người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp
đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là
"công ty con" hay "chi nhánh công ty".
phát triển thấp, GDP và GDP tính theo đầu người thấp vì vậy khả năng tích lũy vốn
trong nội bộ nền kinh tế rất hạn chế. Bên cạnh đó, ở nhiều nước tâm lý chung của
dân chúng là chưa yên tâm bỏ vốn đầu tư tiến hành sản xuất, kinh doanh do cơ chế
huy động vốn chưa rõ ràng, chưa phù hợp. Trong khi đó nhu cầu vốn đầu tư để
phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển lại rất
lớn. ĐTNN, với vai trò là một nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, giúp các nước kể
trên giải được bài toán thiếu vốn đầu tư và dần thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn.
FDI giữ vai trò quan trọng trong số các nguồn vốn ĐTNN vào các nước
đang phát triển vì nó có nhiều ưu điểm nổi trội hơn các nguồn vốn ĐTNN khác. Cụ
thể là:
- FDI là nguồn vốn đầu tư dài hạn, tồn tại chủ yếu dưới hình thức công
nghệ, đất đai, nhà xưởng, nên có độ ổn định cao hơn rất nhiều so với đầu tư
chứng khoán nước ngoài, vì vậy FDI ít khả năng gây sốc cho nền kinh tế. lịch sử
các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, tiền tệ trên thế giới cho thấy nguyên nhân
của khủng hoảng thường là do nợ nước ngoài quá nhiều, hoặc huy động vốn nước
ngoài qua thị trường chứng khoán nhiều mà không có cơ chế đảm bảo an toàn,
- FDI chủ yếu là vốn đầu tư tư nhân, các chủ đầu tư tự tiến hành hoạt
động đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động vì vậy hiệu quả sử dụng
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 4
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
nguồn vốn này thường cao hơn các nguồn vốn khác, đồng thời FDI không để lại
gánh nặng nợ nần cho ngân sách nước nhận đầu tư như vay thương mại, cũng
không gây ra các sức ép về kinh tế, chính trị, xã hội.
- Đi kèm với nguồn vốn này thường có công nghệ chảy vào các nước
nhận đầu tư, đây cũng là một yếu tố mà các nước đang và kém phát triển đang
thiếu và rất cần cho quá trình phát triển của mình.
Ngoài ý nghĩa bổ sung một lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triển kinh tế,
cần nói đến chất lượng của vốn FDI. sự có mặt của nguồn vốn này đã góp phần tạo
điều kiện cho nguồn vốn nhà nước tập trung vào các vấn đề kinh tế xã hội ưu tiên.
Các công nghệ mà các chủ đầu tư nước ngoài chuyển giao cho các nước
đang phát triển thường dưới dạng những tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ,
công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý,
công nghệ marketing. chi phí chuyển giao công nghệ vào các nước đang phát triển
qua FDI. Số lượng các hợp đồng công nghệ giữa các công ty mẹ với các chi nhánh,
công ty con ở các nước đang phát triển đã tăng lên nhanh chóng.
Về phía các doanh nghiệp trong nước, một mặt do năng lực yếu kém về đổi
mới công nghệ, mặt khác công nghệ tiên tiến đều do các công ty quy mô lớn có
tiềm năng công nghệ trên thế giới nắm giữ. Để vượt qua các yếu điểm này, các
doanh nghiệp trong nước có xu hướng muốn được áp dụng ngay công nghệ tiên
tiến hoặc trực tiếp thông qua thành lập các liên doanh với đối tác nước ngoài hoặc
gián tiếp thông qua phổ biến và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI.
các doanh nghiệp FDI mặc dù không muốn tiết lộ bí quyết công nghệ cho đối thủ
trong nước nhưng cũng sẵn sàng bắt tay với đối tác trong nước để thành lập liên
doanh, qua đó diễn ra quá trình rò rỉ công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với
các nước nghèo là liệu các điều kiện trong nước có đủ để đón nhận phổ biến và
chuyển giao công nghệ hay không. Kết quả từ nhiều mô hình lí thuyết cũng rút ra
là mức độ phổ biến và chuyển giao công nghệ còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ
của doanh nghiệp trong nước, tức là năng lực của doanh nghiệp trong sử dụng một
cách hiệu quả tri thức bên ngoài từ các nghiên cứu cơ bản, ứng dụng kỹ thuật tới
triển khai dây chuyền sản xuất mới.
FDI không chỉ mang lại công nghệ cho các nước thông qua con đường
chuyển giao từ nước ngoài vào mà còn bằng cách xây dựng các cơ sở nghiên cứu
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 6
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
và phát triển, đào tạo cho đội ngũ lao động ở nước chủ nhà để phục vụ cho các dự
án đầu tư. Chi phí cho nghiên cứu và phát triển của các chi nhánh nước ngoài
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí cho nghiên cứu và phát triển ở nhiều nước
đang phát triển.Như vậy fdi giúp các nước đang phát triển học hỏi, từ đó phát triển
học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh,
nâng dần kiến thức kinh doanh hiện đại của mình lên, ví dụ như: kinh nghiệm xây
dựng và đánh giá dự án, kinh nghiệm tổ chức và điều hành doanh nghiệp, quản lý
tài chính, kế toán, quản lý công nghệ, nghiên cứu thị trường, nghệ thuật tiếp thị,
thông tin quảng cáo, tổ chức mạng lưới dịch vụ,
Nhiều nghiên cứu cho thấy tiền lương trả cho lao động trong các doanh
nghiệp có vốn fdi lớn hơn trong các doanh nghiệp trong nước. Điều này không chỉ
đúng ở các nước đang phát triển mà còn đúng cả ở các nước công nghiệp phát
triển. Lý do chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn FDI thường có xu hướng đầu tư
vào các ngành hoặc các địa bàn có mức lương tương đối cao ở nước nhận đầu tư,
hoặc thường thuê lao động có tay nghề cao, hoặc nhờ công nghệ chủ đầu tư đem
vào hiện đại hơn nên có thể đem lại năng suất cao hơn, do đó tiền lương trả cho lao
động cao hơn.
Tác động lan truyền của bộ phận lao động trong khu vực FDI rất có ý nghĩa.
Các cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật trong nước được kích thích nâng cao trình
độ khi giao dịch với các đối tác nước ngoài. Người lao động, nhất là lực lượng lao
động trẻ, mong muốn tìm việc làm trong các doanh nghiệp có vốn FDI để được thử
sức trong một môi trường năng động hơn và có thu nhập cao hơn đã quan tâm hơn
đến việc nâng cao trình độ và tay nghề.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
Những thập kỷ đầu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, FDI vào các nước
đang phát triển chủ yếu nhằm khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ
cho các ngành công nghiệp ở chính quốc. Ngày nay, FDI đang trở thành một yếu tố
tạo ra sự chuyển biến cơ cấu kinh tế tích cực ở các nước nhận đầu tư. FDI chủ yếu
được tiến hành bởi các tnc và thường tập trung vào các ngành công nghiệp và dịch
vụ, vì vậy FDI đáp ứng được nhu cầu phát triển các ngành này của các nước đang
phát triển.
FDI góp phần tích cực vào các cân đối lớn của nền kinh tế
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 8
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
tranh cãi, do quan điểm cho rằng nguồn lợi nhuận chuyển ra nước ngoài dần sẽ lớn
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 9
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
và có tác động bất lợi, nhưng về lâu dài fdi vẫn có ảnh hưởng tích cực cho cán cân
thanh toán nói chung. Nguồn thu từ xuất khẩu và từ các dịch vụ thu ngoại tệ sẽ
ngày càng tăng, còn nhu cầu nhập khẩu sẽ ổn định.
FDI đối với tăng trưởng GDP và thu ngân sách nhà nước. FDI giúp các nước
tăng GDP. Ở nhiều nước đang phát triển, tốc độ tăng trưởng của khu vực có vốn
fdi thường cao hơn tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế có vốn trong nước,
chính vì vậy FDI góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế, thúc
đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển. Tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn fdi
trong cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế ngày càng tăng. Khu vực này liên tục có
tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình của nền kinh tế. FDI cũng góp phần
tăng thu cho ngân sách nước nhận đầu tư thông qua thuế và tiêu dùng các dịch vụ
công cộng.
Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị
trường thế giới
Vai trò này của fdi thể hiện rất rõ nét ở các nước áp dụng chính sách thu hút
fdi hướng vào xuất khẩu. sự xuất hiện của các dự án FDI đi kèm với công nghệ,
máy móc, thiết bị hiện đại đã giúp các nước nâng cao chất lượng và đa dạng hóa
các mặt hàng xuất khẩu. Các dự án FDI tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao
hơn, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế hơn. Bên cạnh đó thông qua các mối quan hệ sẵn
có của các nhà đầu tư nước ngoài hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn FDI tiếp
cận được thị trường thế giới. Như vậy, FDI đã vừa làm tăng năng lực xuất khẩu
vừa mở rộng thị trường xuất khẩu cho các nước nhận đầu tư. Ở nhiều nước kim
ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn FDI chiếm tỷ trọng ngày càng cao
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội
nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
- Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời một
công ty mới.
- Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thỏa thuận, phù
hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu của
hợp đồng.
Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải đucợ đề cập trong văn bản hợp
đồng hợp tác kinh doanh.
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 11
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
• Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh.
Xí nghiệp hay công ty được thành lập giữa một bên là một thành viên của
nước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia. Một xí
nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh. Đặc điểm
của hình thức liên doanh này là:
- Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân
mới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp
liên doanh được quy định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước.
- Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh,
đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.
• Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn từ nước ngoài.
Đây là các hình thức công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu
của tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và
hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. đặc điểm của các công ty này
là:
- Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một
pháp nhân mới ở nước nhân đầu tư.
- Hoạt động dưới sự phân phối của luật pháp nước nhận đầu tư.
• Các hình thức khác.
khoảng 30% lượng fdi vào và trung bình khoảng 14% lượng fdi ra từ 2005-2007.
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 13
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
Xếp cuối cùng là các nước nam-đông Châu Âu, khối CIS
(commonwealth of independent states) trong việc thu hút và đầu tư FDI ra.
Như vậy , hầu hết trong thời gian qua, dòng vốn FDI chỉ tập trung vào các
nước có tiềm lực về mặt kinh tế trên thế giới, bảng số liệu dưới này là xếp hạng các
nước theo lượng fdi (đô la mỹ) thu hút được trong năm 2006 dựa vào nguồn cia
factbook công bố tại thời điểm tháng 1 năm 2008 với 10 quốc gia đúng đầu về thu
hút FDI .
Hạng Quốc gia/lãnh thổ FDI
1 Hoa Kỳ 1.818.000.000.000
2 Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland 1.135.000.000.000
3 Hồng Kông 769.100.000.000
4 Đức 763.900.000.000
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 14
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
5 Trung Quốc 699.500.000.000
6 Pháp 697.400.000.000
7 Bỉ 633.500.000.000
8 Hà Lan 450.900.000.000
9 Tây Ban Nha 439.400.000.000
10 Canađa 398.400.000.000
Đồng thời, một trong những vấn đề cần xem xét trong thời gian vừa qua đối
với dòng vốn FDI, đó là tình trạng mua bán và sáp nhập trong nguồn vốn FDI.
Hoạt động mua bán và sáp nhập của các nước trên thế giới diễn ra mạnh mẽ,
với sự gia tăng trong dòng chảy FDI, hoạt động này ngày càng diễn ra mạnh mẽ.
Đồng thời, với việc củng cố và liên kết lại với nhau để tồn tại trong một môi
tranh của các doanh nghiệp trong nước.
Chính vì vậy, bức tranh FDI 2007-2011 sẽ là FDI sẽ đổ về nhiều hơn (so với
các thời kỳ trước) phát triển, các nước công nghiệp, các nước giàu so với các nước
đang phát triển, các nước mới nổi (Trung Quốc, Ấn Độ, ASEAN, ), tất nhiên các
nước phát triển, đặc biệt các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) cũng sẽ
đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài .
Trung bình một năm trong thời kỳ trên FDI sẽ lên tới 1500 tỷ USD, riêng
năm 2011 sẽ lên trên 1600 tỷ USD (mức trung bình một năm thời kỳ 2002-2006
khoảng 843 tỷ USD). Theo xếp hạng 10 nước và lãnh thổ nhận FDI nhất đã thu hút
tới gần 58% FDI trên toàn thế giới, mặc dù dân số các nước này chỉ chiếm gần
40% dân số thế giới, trung bình một người dân một năm nhận khoảng 864,1 USD*,
trong 10 nước và lãnh thổ có 9 nước và lãnh thổ thuộc nhóm công nghiệp, có nền
kinh tế thu nhập cao, chỉ duy nhất có Trung Quốc thuộc nhóm nước đang phát
triển, có nền kinh tế thu nhập trung bình chỉ nhận trung bình một năm khoảng 66,8
USD.
Dự báo dòng vốn FDI vào các nước (trung bình một năm trong thời kỳ
2007-2011)
Tỷ USD Xếp hạng Tỷ lệ so
với FDI
toàn thế
GDP
BQĐN
2004
Nhận FDI
BQĐN-USD
*
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 17
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
giới -%
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 18
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
tỷ USD), Xrilanca (0,3 tỷ USD), Bănglađét (0,7 tỷ USD), và cùng có hàng chục
nước và vùng lãnh thổ không thu hút FDI.
Cũng theo World Investment Prospects to 2011, các nước Đông Nam Á vẫn
tiếp tục thu hút FDI nhưng theo chiều hướng chậm lại, điển hình như Việt Nam chỉ
thu hút khoảng 6,5 tỷ USD trong một năm, chỉ bằng 1/3 mức đã đạt được trong
năm 2007, và gấp hơn 1,6 lần mức bình quân thu hút FDI trong một năm trong
suốt thời kỳ 20 năm đầu tư nước ngoài ở nước ta. Đây là một con số để chúng ta
tham khảo khi đề ra mục tiêu thu hút FDI trong các năm tới.
Bức tranh triển vọng thu hút FDI bình quân trong một năm của thời kỳ
2007-2011 của một số nước ASEAN như sau:
Dự báo dòng vốn FDI vào các nước (trung bình một năm trong thời kỳ
2007-2011)
Tỷ USD Xếp
hạng
Tỷ lệ so với
FDI toàn thế
giới -%
GDP BQĐN
2004
Nhận FDI
BQĐN-USD
*
Xingapo 27,1 15 1,81 25207 6452,4
Thái Lan 8,9 27 0,59 2537 139,4
Malaixia 6,8 34 0,45 2716 265,6
Inđônêxia 6,6 36 0,44 1193 30,2
Việt Nam 6,5 38 0,44 555 79,3
nông, lâm, ngư nghiệp.
Theo đối tác đầu tư: Trong năm 2007 có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu
tư tại Việt Nam, trong đó Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí đứng đầu với số vốn đăng ký
(cấp mới và tăng vốn) 5,3 tỷ USD, chiếm 25,2% về tổng vốn đăng ký. British
Virgin Islands đứng thứ 2, chiếm 20,6%; Singapore đứng thứ 3, chiếm 12,04%;
Đài Loan đứng thứ 4, chiếm 11,6%; Nhật Bản đứng thứ 5, chiếm 6,4%; Malaysia
đứng thứ 6, chiếm 5,5% ; Trung Quốc đứng thứ 7, chiếm 2,6% (cộng cả Hồng
Kông sẽ chiếm 5,5%) và Hoa Kỳ (không tính các dự án đầu tư qua nước thứ 3)
đứng thứ 8, chiếm 1,8%; Thái Lan đứng thứ 10 chiếm 1,3% tổng vốn đăng ký.
Về cơ cấu vùng: Trừ dầu khí, trong năm 2007 cả nước có 56 địa phương thu
hút được dự án ĐTNN, trong đó 10 địa phương dẫn đầu. Đó là: Hà Nội đứng đầu
với số vốn đăng ký 2,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đầu tư đăng ký; Đồng Nai
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 20
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
đứng thứ 2, chiếm 11,3%; TP Hồ Chí Minh đứng thứ 3, chiếm 10,6% ; Bình
Dương đứng thứ 4, chiếm 10,5% về tổng vốn đầu tư đăng ký; Phú Yên đứng thứ 5,
chiếm 7,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu đứng thứ 6, chiếm 5,2%; Vĩnh phúc đứng thứ 7,
chiếm 4,9%; Đà Nẵng đứng thứ 8, chiếm 4,4%; Long An đứng thứ 9 chiếm 3,8%
và Hậu Giang đứng thứ 10, chiếm 2,9%.
• Luỹ kế tình hình ĐTNN từ 1988 đến hết năm 2007 :
Tính đến hết năm 2007, cả nước có 8.684 dự án còn hiệu lực với tổng vốn
đăng ký 85,05 tỷ USD, vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạt gần 30 tỷ
USD. (Nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì tổng vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷ
USD ).
Phân theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn
nhất chiếm 67% về số dự án và 60% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là lĩnh vực
dịch vụ chiếm 22,3% về số dự án và 34,3% (tăng từ mức 30,7% đến hết năm 2006)
về số vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.
Phân theo hình thức đầu tư:- Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 77,6%
khối doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, 2007 trên 1,5 tỷ USD, thu hút trên 1,2
triệu lao động trực tiếp và nhiều triệu lao động gián tiếp, góp phần tăng thêm các
ngành nghề lao động mới, thay đổi cơ cấu ngành nghề cũng như nâng dần chất
lượng chuyên môn của lực lượng lao động này.
FDI góp phần vào mức độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua ở mức
độ cao (từ 2002-2004: trên 7,0%, 2005: 8,44%, 2006: 8,17%, 2007: 8,48%), góp
phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước (từ năm 2005 đến nay, công nghiệp, xây dựng chiếm trên 41% GDP,
riêng 2007: 41,61% GDP), chuyển giao công nghệ tạo nên nhiều sản phẩm mới có
chất lượng, có hàm lượng công nghệ cao, trong đó có các sản phẩm có khả năng
cạnh tranh trên thị trường quốc tế, góp phần nhanh chóng phát triển các vùng kinh
tế trọng điểm kéo theo các vùng phụ cận; góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp (kể
cả các doanh nghiệp không có FDI) nâng cao khả năng quản trị kinh doanh, khả
năng cạnh tranh, góp phần nâng cao khả năng khai thác, sử dụng có hiệu quả lao
động, vốn, tài nguyên,
Với 82 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, FDI là cầu nối
quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới ( không chỉ về kinh tế
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 22
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
tiếp cận và mở rộng thị trường, mà còn về phát triển du lịch, văn hóa, giáo dục, y
tế, ), nói cách khác FDI góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động
hội nhập kinh tế và các lĩnh vực khác trong khu vực và thế giới.
Trong thời gian tới, nước ta chủ trương thu hút nhiều hơn và nâng cao hiệu
quả sử dụng FDI như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra nhiệm vụ: “Tăng
cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư
phát triển toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút
FDI, hướng vào những thị trường giầu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu
thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài“.
vào Việt Nam; Tại sao tỷ lệ này ở nhiều địa phương rất thấp, nhưng có nhiều địa
phương khá cao, như: Hải Phòng 49%, TP Hồ Chí Minh 38,3%, Đồng Nai gần
36% - FDI được cấp giấy phép đầu tư vào 3 thành phố và tỉnh trên chiếm tới
37,1% tổng FDI còn có hiệu lực đầu tư vào Việt Nam Chắc tỷ lệ thấp, theo tôi
không chỉ do nước chủ nhà mà còn do các nhà đầu tư nước ngoài nữa
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI NĂM 2008
Căn cứ các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong bối cảnh tình hình trong nước
và thế giới, trên cơ sở tổng hợp một số dự án lớn đang trong quá trình đàm phán từ
các địa phương và tình hình triển khai nhanh các dự án được cấp trong vài năm vừa
qua (từ năm 2005 đến nay) dự kiến tình hình thu hút vốn ĐTNN trong 2 năm 2008
và 2009 sẽ thu hút vốn đầu tư mới (bao gồm cả tăng vốn mở rộng sản xuất) tương
tự như kết quả năm 2007, trong đó chú trọng thu hút các dự án lớn, trọng điểm, sử
dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh.
- Vốn thực hiện: đạt 10 tỷ USD vượt 25%năm 2007 (8 tỷ USD).
- Lao động: 16 vạn người, tăng 6,7% so với năm 2007;
- Nộp ngân sách Nhà nước: 2 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2007.
Mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước ta
gặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém
thuận lợi so với năm trước… năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thu
hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước, đạt khoảng 65 tỉ
USD – mức cao nhất từ trước tới nay. Điều này khẳng định, Việt Nam vẫn là điểm
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
NHÓM TCDN1 – K32 TRANG 24
[ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI]
FDI
Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2008, cả nước đã thu hút trên 60 tỉ USD,
trong đó cấp mới đạt 59 tỉ USD (1.059 dự án), bằng 82,5% về số dự án và tăng gấp
7 lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007, số còn lại là vốn đầu tư tăng thêm
của một số dự án mở rộng sản xuất, kinh doanh. Quy mô vốn bình quân đầu tư của
một dự án đạt 55,7 triệu USD/dự án thể hiện số lượng dự án có quy mô vốn lớn