Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
PHẦN MỞ ĐẦU
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Invesment - FDI ) đã
và đang được xem là một trong những nguồn lực quan trọng đem đến một làn
gió mới, một động lực mới thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, đặc biệt tại
các nước đang phát triển như Việt Nam. Cùng với việc hội nhập vào nền kinh
tế thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế của đất nước ta. Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn
đóng góp tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển giao
công nghệ vào Việt Nam, góp phần tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất
khẩu, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã đóng góp hơn 30% tổng nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội. Tuy nhiên,
dòng vốn này không tự nhiên mà có, nó phụ thuộc vào sức hấp dẫn của địa
phương, thể hiện qua các yếu tố tự nhiên như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên,
khoáng sản cùng với cơ chế, chính sách, con người và các vấn đề xã hội khác
của địa phương đó. “ làm thế nào để thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước
ngoài” đã và đang được đặt ra như một vấn đề lớn với không chỉ các bộ ngành
mà còn là dấu hỏi lớn cho từng địa phương ở Việt Nam.
Là một sinh viên chuyên ngành Kinh tế phát triển em rất muốn tìm hiểu về
vấn đề này vì thấy đây là một đề tài rất hay, và đây cũng là một đề tài tương
đối lớn nên em chỉ xin phép đi sâu vào phần: “ Giải pháp thu hút nguồn vốn
FDI vào tỉnh Vĩnh Phúc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
Tính cấp thiết của đề tài: Ngày nay, FDI trở thành một tất yếu kinh tế
trong điều kiện quốc tế hoá sản xuất và lưu thông.
. Thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện đang được nhiều nước
trên thế giới quan tâm, nhất là đối với các nước đang phát triển. Không một
tỉnh thành nào, dù lớn hay nhỏ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá lại
không cần đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tất cả đều coi đó là
nguồn lực quốc tế quan trọng cần khai thác để từng bước hoà nhập vào cộng
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
1
1.1. Cơ sở lý luận về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.1. Khái niệm
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài để đầu tư
cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đây là một
nguồn vốn lớn, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang
phát triển.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình của đầu tư quốc tế,
trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều
hành hoạt động sử dụng vốn.
Trong lịch sử thế giới FDI đã tồn tại từ lâu, ngay từ thời tiền tư bản.
Các công ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,... là những công ty
đi đầu trong lĩnh vực đầu tư FDI dưới hình thức đầu tư vốn vào các nước
Châu Á để khai thác đồn điền nhằm cung cấp nguyên liệu cho các ngành công
nghiệp của chính quốc. Cùng với các ngành khai thác đồn điền là các ngành
khai thác khoáng sản, tài nguyên trong lòng đất đưa về chính quốc.
Đầu tư nước ngoài là việc các tổ chức và các cá nhân nước ngoài đưa
vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính
phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc
thành lập xí nghiệp liên doanh hay xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là số vốn đầu tư được
thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền
kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư giành
được tiếng nói hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp đó
1
.
1
Khái niệm về FDI của quỹ tiền tệ quốc tế IMF.
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
3
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động
hợp tác.
Khái niệm liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc
tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ
thống tài chính, luật pháp và bản sắc văn hoá; hoạt động trên cơ sở sự đóng
góp của các bên về vốn, quản lý lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi
nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra theo tỷ lệ vốn góp; hoạt động của liên
doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ,
hoạt động nghiên cứu cơ bản và triển khai.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít
phổ biến hơn hình thức liên doanh trong hoạt động đầu tư quốc tế. Do nhà đầu
tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh.
Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh có
tư cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủ đầu tư và
nước sở tại. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành
quản lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều
kiện về môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính
trị, kinh tế, luật pháp, văn hoá và mức độ cạnh tranh...Doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là một thực thể pháp lý độc lập hoạt
động theo luật pháp nước sở tại. Thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm
hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh
doanh: Hình thức này là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm
và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh
mà không thành lập pháp nhân mới.
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
5
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng chúng như những sản phẩm mới ở nước
này, tạo thêm lợi nhuận cho nhà đầu tư.
Cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế, tăng cường khả
năng ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế, nhờ mở rộng được thị
trường tiêu thụ sản phẩm, lại tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của nước
nhận đầu tư, giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh với các hàng hoá
nhập từ các nước khác.
Giúp các công ty chính quốc tạo dựng được thị trường cung cấp
nguyên, vật liệu dồi dào, ổn định với giá rẻ.
Thông qua đầu tư FDI, các nước đi đầu tư tận dụng được những lợi thế
về chi phí sản xuất thấp của các nước nhận đầu tư (giá nhân công rẻ, chi phí
khai thác nguyên, vật liệu tại chỗ thấp) để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi
phí vận chuyển đối với sản xuất hàng thay thế nhập khẩu ở các nước tiếp nhận
đầu tư. Nhờ đó, mà nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.
1.2.2. Nguồn vốn FDI đối với các nước tiếp nhận đầu tư
Đầu tư FDI làm cho các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, thúc
đẩy tính năng động và khả năng cạnh tranh trong nước. Điều đó có tác động
mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
Vốn đầu tư FDI giải quyết tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã
hội do tích luỹ nội bộ thấp, cản trở đầu tư và đổi mới kỹ thuật trong điều kiện
khoa học, kỹ thuật thế giới phát triển mạnh. Các nước NICs trong gần 30 năm
qua, nhờ nhận được trên 50 tỷ USD đầu tư nước ngoài cùng với chính sách
kinh tế năng động, hiệu quả đã trở thành những con rồng Châu Á.
Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua FDI các công ty nước ngoài đã
chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang cho nước tiếp
nhận đầu tư, do đó các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp nhận công nghệ, kỹ
thuật tiên tiến hiện đại (thực tế, có những công nghệ không thể mua được
bằng những quan hệ thương mại đơn thuần), những kinh nghiệm quản lý,
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
8
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
1.3.2. Sự ổn định về chính trị và hệ thống luật pháp
Sự ổn định về chính trị: Đây là điều kiện tiên quyết để nhà đầu tư xác
định là có nên đầu tư hay không. Đó là những rủi ro mà vượt khỏi sự kiểm
soát của nhà đầu tư, những yếu tố bất ổn về kinh tế - chính trị không chỉ làm
cho dòng vốn FDI bị chững lại và thu hẹp đi, mà còn làm cho cả quá trình huy
động nguồn vốn trong nước bị giảm mạnh. Ngoài ra các cuộc xung đột nội
chiến hay sự hoài nghi thiếu thiện cảm và gây khó dễ của giới lãnh đạo, nhân
dân đối với vốn đầu tư nước ngoài đều là nhân tố tác động tâm lý tiêu cực của
các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi vậy ổn định chính trị không chỉ trong thời
gian ngắn mà còn cần giữ vững lâu dài, để cho các nhà đầu tư yên tâm hoạt
động. Việt Nam luôn tự hào và cũng được các nhà đầu tư đánh giá là nơi có
“hệ thống chính trị ổn định” nhất nhì thế giới.
Hệ thống luật pháp: Là một trong những nhân tố kìm hãm hay thúc đẩy
gia tăng hoạt động đầu tư của nước ngoài. Vì thế, trong hệ thống luật đầu tư
phải nêu rõ quan điểm của đất nước mình trên lĩnh vực đầu tư về hình thức
đầu tư, đảm bảo lợi ích cho các bên liên quan như thế nào. Ngoài ra các nhà
đầu tư còn xem xét những luật liên quan như luật thuế, luật cho thuê đất đai,
luật lao động,... Vì vậy hệ thống luật pháp càng đồng bộ, cởi mở và phù hợp
với thông lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài càng cao.
Việt Nam, với thế mạnh của một điểm đến ổn định chính trị, nhưng
cũng cần phải tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng giúp các
nhà đầu tư hiện thực hoá chiến lược đầu tư của mình thông qua việc giảm
thiểu các khó khăn và rủi ro khi đầu tư tại đây. Tăng cường tính trong sáng
của hệ thồng luật pháp, giảm thiểu tham nhũng trong bộ máy công quyền,
đảm bảo một môi trường kinh doanh tuân thủ theo luật định chính là cốt lõi
của vấn đề khi đề cập sự ổn định chính trị trong thu hút FDI hiện nay.
đăng ký xấp xỉ 1,2 tỷ USD. Số dự án đầu tư nước ngoài tại Hà Nội đến tháng
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
10
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
3/2006 đạt tới 634 với tổng số vốn đăng ký đạt 9,32 tỷ USD. Năm 2005 là
năm Hà Nội dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tính đến
tháng 1/2006 có tới 59% số vốn đăng ký vào các ngành dịch vụ với các hoạt
động cụ thể như phát triển hệ thống bưu chính viễn thông, văn phòng, khách
sạn, khu vui chơi, ngân hàng, bảo hiểm và các dịch vụ công nghiệp khác. Vốn
đầu tư vào các ngành công nghiệp chiếm 38,9%, tập chung chủ yếu vào phát
triển hạ tầng cơ sở, phát triển khu công nghiệp, sản xuất ô tô, xe máy, các
ngành công nghệ cao và may mặc. dưới 3% là lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực
nông lâm, tập trung vào sản xuất thức ăn chăn nuôi, chế biến và nuôi trồng
thuỷ sản nước ngọt, cung ứng hạt giống lai cho sản xuất nông sản rau quả.
Do lượng vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm 38,9%, đặc biệt là
đầu tư vào các khu công nghiệp. Phân tích SWOT sẽ góp phần làm rõ hơn
những điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ hội (O), thách thức (T) trong việc
thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển các khu công
nghiệp tại Hà Nội trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
8 điểm mạnh chủ yếu của Hà Nội so với các địa phương khác trong việc thu
hút FDI:
Là Thủ đô của Việt Nam, trung tâm văn hoá và thương mại của cả
nước.
Chính trị ổn định, đảm bảo một môi trường kinh doanh an toàn.
Nguồn nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản.
Tiềm năng thị trường lớn.
Cơ sở hạ tầng được nâng cấp thường xuyên.
Các chi phí dịch vụ xã hội, sở hữu bất động sản thấp hơn các địa
phương khác.
Có rất nhiều các khu công nghiệp.
sút nhưng thay vào đó, tỷ trọng vốn đầu tư lại tăng lên do các dự án đầu tư
vào Hà Nội ngày càng lớn hơn, vào các lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao.
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
12
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
Với lợi thế Thủ đô, tiềm năng thị trường lớn và một nguồn nhân lực dồi
dào, Hà Nội có thể thu hút nhanh hơn, nhiều hơn nữa các dự án FDI có số vốn
đầu tư lớn, vào các ngành nghề sử dụng lao động chất xám nhiều hơn, tạo
nhiều giá trị lợi ích hơn cho người lao động, cho xã hội và đem lại nhiều lợi
nhuận cho nhà đầu tư. Những dự án vào các ngành kinh tế tri thức, du lịch và
dịch vụ sẽ hấp dẫn với các nhà đầu tư từ các quốc gia phát triển và các quốc
gia đang phát triển tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinh doanh ở một thị trường mới
nổi như Việt Nam nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng.
1.4.2. Thành phố Hồ Chí Minh
Để có được thành quả là dẫn đầu cả nước trong thu hút nguồn vốn FDI,
TP Hồ Chí Minh đã có những nỗ lực rất nhiều trong việc cải thiện môi trường
đầu tư. Trước hết, Thành phố Hồ Chí Minh cũng bắt đầu cuộc chạy đua với
các địa phương “trải thảm đỏ” đón các nhà đầu tư. Thành phố Hồ Chí Minh
lựa chọn các ngành nghề phù hợp với quy hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
ưu tiên những ngành dịch vụ cao cấp, những ngành nghề công nghệ cao sử
dụng ít lao động. Công bố quy hoạch ngành nghề, quy hoạch sử dụng đất, hỗ
trợ các nhà đầu tư tìm kiếm địa điểm, đơn giản các thủ tục đăng ký và triển
khai các dự án đầu tư. TP Hồ Chí Minh còn hợp đồng với các hãng thông tấn
lớn trên thế giới để giới thiệu các dự án, chính sách ưu đãi,... đến các nhà đầu
tư quốc tế. Sau hội chợ là kế hoạch mời các nhà đầu tư vào TP Hồ Chí Minh
tham quan, giới thiệu các cơ hội và tiềm năng đầu tư vào những ngành công
nghiệp mũi nhọn, giới thiệu tiềm năng du lịch,... Tính đến tháng 3 năm 2006
lượng vốn đăng ký đầu tư vào TP Hồ Chí Minh lên tới 12.208 triệu USD,
trong đó vốn thực hiện là 6.058 triệu USD, với số dự án lên đến 1.834 dự án
đứng thứ nhất cả nước trong việc thu hút nguồn vốn FDI.
quốc tế Berjaya, với số vốn đầu tư 3,5 tỷ USD; Dự án Công viên phầm mềm
TECO thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin có vốn đầu tư 1,2 tỷ USD,... Để thu
hút thêm nữa vốn FDI trong thời gian tới, UBND TP Hồ Chí Minh tiếp tục
huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, trong đó ban hành quy chế
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
14
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
khuyến khích tư nhân, đầu tư nâng cấp các công trình giao thông, cảng biển,
dịch vụ viễn thông, cung cấp điện nước, phấn đấu không để xảy ra tình trạng
thiếu điện trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Về phía các cơ quan quản lý
nhà nước, cần phối hợp hỗ trợ, thúc đẩy nhanh việc giải ngân vốn đăng ký của
các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, đặc biệt chú trọng đến công
tác thúc đẩy triển khai các dự án quy mô vốn đầu tư lớn bằng cách tạo điều
kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, về giải phóng mặt bằng,... giúp cho các
dự án này triển khai nhanh chóng. Bên cạnh những yếu tố trên, nguồn nhân
lực cũng là một trong những vấn đề được quan tâm: Tiếp tục tăng cường công
tác đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực, cán bộ quản lý các cấp, cán bộ kỹ
thuật để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong thời gian tới,
TP Hồ Chí Minh khuyến khích thu hút FDI vào các ngành dịch vụ, công
nghiệp kỹ thuật cao, có hàm lượng chất xám và tạo ra giá trị gia tăng cao; các
dự án ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, điện tử, vật liệu
mới, viễn thông, sản xuất phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các
ngành mà Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế cạnh tranh gắn với công
nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của Thành phố Hồ Chí Minh. Khuyến khích các nhà đầu tư từ tất cả các nước
và vùng lãnh thổ đầu tư vào Thành phố Hồ Chí Minh, nhất là các nhà đầu tư
nước ngoài có tiềm năng lớn về tài chính và nắm công nghệ nguồn từ các
nước công nghiệp phát triển; tạo thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đầu tư về nước; quan tâm nhiều hơn đến công tác thu hút các
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có chất lượng, đặc biệt chú trọng thu
cửa thị trường, tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
và bảo đảm quyền lợi cho các doanh nghiệp FDI.
Năm 2008, Thành phố Hồ Chí Minh đã có 528 dự án có vốn FDI được
cấp phép với tổng vốn đăng ký 8 tỷ 441 triệu USD, tăng gấp 3,4 lần so với
năm 2007 và là năm thứ 3 liên tiếp vốn đầu tư nước ngoài vào Thành phố Hồ
Chí Minh đạt mức kỷ lục. Năm 2008, năm khủng hoảng tài chính, kinh tế thế
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
16
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
giới gặp khó khăn, thế nhưng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào TP
Hồ Chí Minh lên đến 8,65 tỷ USD, tăng gấp 5 lần so với năm trước. Đó
không chỉ là con số vượt bậc về vốn mà quan trọng hơn là vốn đầu tư đúng
theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà TP Hồ Chí Minh đề ra. Những
thành quả về kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đã được các nhà đầu tư
nước ngoài tin tưởng, đánh giá cao.
Trong số dự án FDI đầu tư vào TP Hồ Chí Minh 20 năm qua (1988 -
2008), có hơn 3.100 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 25,5 tỷ USD,
nhưng riêng năm 2008 đã chiếm hơn 8 tỷ USD. Điều quan trọng không phải
là con số vốn đăng ký lớn mà chính ở chỗ là đầu tư đúng hướng thương mại –
dịch vụ mà TP Hồ Chí Minh đề ra. Cụ thể, số dự án kinh doanh bất động sản
là 786 dự án (chiếm 25% tổng số dự án) với số vốn đầu tư 6,9 tỷ USD (chiếm
27% tổng số vốn). Số dự án dịch vụ đạt cao hơn, đến 921 dự án (chiếm 29%)
với số vốn 11 tỷ USD (chiếm 43%). Nếu trước đây, quy mô đầu tư nhỏ (dưới
1 triệu USD/dự án) chiếm đến 61%, từ 1 - 10 triệu USD chiếm gần 30%, chỉ
9% số dự án còn lại có vốn đầu tư trên 10 triệu USD; thì trong năm 2008,
nhiều dự án lớn đã được đăng ký. Và trước tình hình các nhà đầu tư ồ ạt đổ
tiền vào bất động sản (năm 2007), đẩy thị trường tăng giá ảo, nhả lại gánh
nặng ô nhiễm môi trường và ngập nước,... cho TP Hồ Chí Minh thì năm 2008
mũi tàu đã được lái đúng hướng.
Nhiều dự báo cho rằng năm 2009 sẽ là một năm đầy khó khăn, thách
Để đạt được kết quả khả quan trên, chính sách “trải thảm đỏ” của tỉnh
Bình Dương tiếp tục phát huy hiệu quả. Dưới góc nhìn của các nhà đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài, tỉnh Bình Dương hội tụ đủ các yếu tố “thiên thời, địa
lợi, nhân hoà” kết hợp với hạ tầng công nghiệp đồng bộ, được đầu tư tốt nên
nơi đây vẫn là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tính đến tháng 1/2008 đã có trên 36 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư
vào Bình Dương, trong đó có nhiều tập đoàn, công ty xuyên quốc gia. Tỷ lệ
các nhà đầu tư đến từ Châu Á chiếm vị trí cao nhất, với 82% tổng số dự án và
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
18
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
72% tổng nguồn vốn đầu tư. Trong giai đoạn đầu khi tỉnh Bình Dương mở
cửa kêu gọi đầu tư, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu đổ vào
lĩnh vực công nghiệp chế biến nông - lâm sản,... thì trong vài năm trở lại đây,
nguồn vốn FDI lại chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp với hàm
lượng kỹ thuật cao như sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy, linh kiện điện tử,...
Các dự án có nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động ở nhiều lĩnh
vực của ngành kinh tế quốc dân, ngày càng chuyển dịch phù hợp hơn với sự
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ngành công nghiệp thu hút được nhiều nhất số
dự án và số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chiếm hơn 90% số dự án và tổng
số vốn. tiếp theo là ngành dịch vụ chiếm 2% số dự án và 4% tổng nguồn vốn
đầu tư. Các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông - lâm chỉ chiếm 1% số dự án và
2% tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bình Dương.
Nhờ thu hút được nhiều các dự án đầu tư sản xuất công nghiệp, tỉnh
Bình Dương đang tạo sự đột phá mạnh mẽ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp
trong GDP. Nếu như trước đây nông nghiệp giữ vai trò chính yếu, thì hiện
nay trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Dương, công nghiệp đã giữ vai trò chủ
đạo. Trong thời gian gần đây, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của khu
vực có nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương bình quân
bằng pháp luật chung của cả nước.
Ở tỉnh Bình Dương, lãnh đạo tỉnh luôn “xắn tay áo” sát cánh cùng nhà
đầu tư. Tỉnh Bình Dương coi tất cả những khó khăn, vướng mắc của nhà đầu
tư chính là khó khăn, vướng mắc của tỉnh để cùng hợp tác cải thiện môi
trường đầu tư cho lành mạnh và thông thoáng hơn.
Về cấp phép đầu tư, chỉ trong vòng 3 ngày trở lại kể từ khi nộp hồ sơ,
các doanh nghiệp sẽ có trong tay giấy phép đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư
tỉnh Bình Dương là đầu mối thực hiện “cơ chế một cửa”, giải quyết tất cả
những thủ tục cho các nhà đầu tư. Đặc biệt, tỉnh Bình Dương có hai Ban quản
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
20
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
lý KCN, trong đó KCN Việt Nam - Singapore được chính phủ đặc biệt hỗ trợ
qua việc cho phép thành lập một ban quản lý riêng để tư vấn, thẩm định và
cấp giấy phép đầu tư và các thủ tục khác cho nhà đầu tư, tại đây còn có hải
quan riêng của KCN nhằm giúp doanh nghiệp (DN) thông quan hàng hoá
nhanh, tiết kiệm. Tại các KCN ở tỉnh Bình Dương, các nhà đầu tư được hỗ trợ
miễn phí từ việc lập hồ sơ thành lập công ty, xin giấy phép đăng ký kinh
doanh, lập dự án đầu tư, thiết kế nhà xưởng,...
Ngoài cơ chế chính sách, tỉnh Bình Dương chủ trương xây dựng thật
tốt cơ sở hạ tầng kỹ thuật các KCN nhằm thoả mãn yêu cầu nhà đầu tư. Cơ sở
hạ tầng giao thông chung của tỉnh, cũng như cơ sở hạ tầng tại các KCN tỉnh
Bình Dương được giới đầu tư đánh giá không hề thua kém những KCN trong
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Bên cạnh những tác động tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Bình Dương, các dự án FDI cũng vẫn còn tồn tại một số hạn chế, tiêu
cực, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình
Dương, thể hiện một số điểm sau
1
:
Tuy nhiên, môi trường đầu tư của 3 tỉnh, thành phố trên vẫn không
tránh khỏi những hạn chế chung của môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam. Và 3 tỉnh, thành phố trên cũng có lợi thế về mặt địa lý nhất định
nhưng sự chênh lệch quá lớn về mức thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) cũng là điều cần suy nghĩ, và cách làm của họ rất đáng được tham
khảo cho tỉnh Vĩnh Phúc.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) Ở TỈNH VĨNH PHÚC
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
22
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
2.1. Tổng quan về tỉnh Vĩnh Phúc và các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút
FDI vào tỉnh Vĩnh Phúc.
2.1.1. Tổng quan điều kiện vị trí địa lý tỉnh Vĩnh Phúc
Vị trí địa lý:
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, cửa
ngõ tây bắc của thủ đô Hà Nội, là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên. Phía Tây giáp
tỉnh Phú Thọ. Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Hà Tây và Thủ đô Hà Nội
Toạ độ địa lý: Vĩ độ Bắc 21
o
06’ - 21
o
35’
Kinh độ Đông 106
o
19’ - 106
o
48’
Diện tích đất tự nhiên 1.371 Km
tháng 5 đến tháng 8; mùa lạnh, khô từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm
sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24
o
C, riêng Tam Đẩo là 19
o
C. Tam Đảo
có nhiệt đô hàng ngày thấp hơn vùng đồng bằng ở Bắc Bộ là 5
o
C, nhiệt độ cao
nhất ở mùa hè không quá 24
o
C. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.400
mm. Số gời nắng trung bình hàng năm là 1.300 giờ. Độ ẩm trung bình là 83%.
2.1.2. Tiềm năng tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực
Tài nguyên đất:
Cơ cấu đất ở Vĩnh Phúc rất đa dạng, bao gồm nhiều loại, không kể
vùng núi cao Tam Đảo, Vĩnh Phúc chủ yếu là bán sơn địa, vùng trung du,
vùng đồi núi thấp và đồng bằng. Tổng diện tích đất tự nhiên 219.200 ha, trong
đó: diện tích đất nông nghiệp: 66.781 ha (chiếm 56%); diện tích đất lâm
nghiệp: 30.433 ha (chiếm 25%); diện tích đất chuyên dùng 18.693 ha (chiếm
15%); diện tích đất ở: 5.158 ha (chiếm 4%).
Sinh viên: Đỗ Văn Kha Lớp Kinh tế phát triển 47A
24
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH KTQD
Hình 2.1: Cơ cấu đất tỉnh Vĩnh Phúc
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc.
Vùng đồi gò trung du Vĩnh Phúc kéo dài từ Lập Thạch qua Vĩnh Yên
đến Mê Linh là vùng đất mở rộng từ chân núi Tam Đảo ra tới gần quốc lộ 2.
đây là vùng phù sa cổ được nâng lên, có tầng dầy đất sét pha cát có lẫn một ít
sỏi và cuội rất thích hợp để trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và cây