Sự cần thiết và các Giải pháp phát triển KTHH ở Thái Bình - Pdf 12

Mục lục
Trang
Lời nói đầu
3
Ch ơng I : Cơ sở lý luận của sự cần thiết phát triển KTHH ở Thái
Bình
5
I. LLSX phải phù hợp với QHSX 5
II. Sự phân công lao động xã hội 8
III. Sự khác nhau về các hình thức sở hữu về TLSX và sản phẩm
lao động
9
Ch ơng II : Đặc điểm KTHH ở Thái Bình
11
I. Những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế ở
Thái Bình
11
1- Những điều kiện thuận lợi
11
2- Những điều kiện khó khăn
12
II. Nền kinh tế Thái Bình đang trong quá trình chuyển đổi theo h-
ớng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn
13
III. Nền KTHH dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần
14
1- Thành phần kinh tế Nhà nớc
15
2- Thành phần kinh tế hợp tác
16
3- Thành phần kinh tế cá thể

27
2- Ưu tiên phát triển mạnh và toàn diện kinh tế biển
29
1
3- Phát triển mạnh mẽ nghề và làng nghề
30
4- Đầu t xây dựng các khu kinh tế công nghiệp tập trung
30
5- Xây dựng đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách
31
IV. Hình thành đồng bộ và phát triển các loại thị trờng
31
1- Thị trờng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ
31
2- Thị trờng các yếu tố sản xuất
32
3- Phát triển thị trờng ra bên ngoài
33
Kết luận
34
Danh mục tài liệu tham khảo 36
2
Lời nói đầu
Dới ánh sáng của Nghị quyết đại hội Đảng VI, VII, VIII, thực tiễn qua
hơn 15 năm đổi mới đã đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng. Nền kinh tế
chuyển tử kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, định
hớng xã hội chủ nghĩa. Hoà nhập với công cuộc đổi mới do Đảng để xớng,
nền kinh tế Thái Bình đã đạt đợc những kết quả quan trọng, tạo ra thế và lực
cho nền kinh tế Thái Bình phát triển trong thế kỷ mới.

hoàn thiện hơn.
4
Ch ơng I
Cơ sở lý luận của sự cần thiết phát triển kinh tế
hàng hoá ở Thái Bình
Khi sản phẩm làm ra không phải dùng cho nhu cầu bản thân và gia
đình ngời sản xuất, mà là để bán, nghĩa là đem trao đổi trên thị trờng thì sản
phẩm đó trở thành hàng hoá.
KTHH là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó hình thái phổ
biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi trên thị trờng.
Trong nền KTHH, mọi sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều đợc mua
bán trên thị trờng. Thị trờng là một hợp phần tất yếu và hữu cơ của toàn bộ
quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá. Nó ra đời và phát triển cùng với sự
ra đời và phát triển và l thông hàng hoá.
Thực tế lịch sử đã cho thấy, hình thái KTHH trải qua nhiều giai đoạn
khác nhau tuỳ theo trình độ phát triển của LLSX (LLSX) và tính chất QHSX
(QHSX) chiếm địa vị thống trị. Mặt khác, KTHH không phải là một phơng
thức riêng của một chế độ xã hội nào, mà nó tồn tại trong nhiều KTHH khác
nhau, với phạm vu, tính chất và trình độ phát triển khác nhau. Hơn nữa, ngay
trong sản xuất thuần tuý, mà luôn luôn có sự đan xen, kết hợp của nhiều
QHSX khác nhau, trong đó có một QHSX giữ vai trò thống trị.
Từ những khái niệm ban đầu, chúng ta có thể đa ra cơ sở lý luận của
sự cần thiết ở KTHH ở Thái Bình tập trung vào 3 phần:
I- LLSX phải phù hợp với QHSX
Trong nền kinh tế của mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một KTHH
(PTSX) thống trị và hình thức kinh tế phụ thuộc vào PTSX thống trị đó. PTSX
là cơ sở của chế độ xã hội mà nó quyết định tính chất, thế nào thì bản chất xã
hội thế ấy. Mỗi PTSX mới, cao hơn đánh dấu một trình độ mới, cao hơn của
lịch sử xã hội loài ngời.
PTSX vật chất là sự thống nhất biện cnứg của LLSX và quan hệ sản

bên đều theo đuổi những mục đích riêng cỉa mình. trong nền KTHH phát
triển đạt tới trình độ cao thì thị trờng càng phát huy tác dụng mạnh của nó.
6
Từ những điều kiện khách quan cử sự phù hợp giữa QHSX với tính
chất và trình độ phát triển của LLSX trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
chúng ta cần thiết và có khả năng xây dựng nền KTHH. Song đây cũng
không phải là mô hình cố định, mà nó luôn sống động và đợc phát triển, bổ
sung qua thực tiễn. Sự khẳng định hình thái tổ chức KTHH có kế hoạch là thể
hiện sự cần thiết của nền kinh tế hỗn hợp. Thực tiễn lịch sử cho thấy không
thể xây dựng nền KTHH theo cơ chế thị trờng thuần tuý, cũng không thể áp
dụng máy móc cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ. Dĩ nhiên là phải dựa
trên trình độ phát triển nhất định của nền KTHH, phải vận dụng nhuần
nhuyễn cơ chế thị trờng thì mới có khả năng điều hành nền kinh tế theo
những định hớng kế hoạch đã đề ra.
ở nớc ta, sự nghiệp công nghiệp hoá, CNH, HĐH đòi hỏi cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần trong nền kinh tế quá độ, cần phải đợc cấu trúc lại nhằm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với điều kiện mới. Để phát triển nền kinh
tế nhiều hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN, các thành phần
kinh tế phải đợc cải biến dựa vào những tiền đề khách quan sau: thứ nhất,
phải xuất phát từ trình độ phát triển của LLSX xã hội và yêu cầu xã hội hoá
sản xuất trên thực tế; thứ hai, phải xuất phát từ đặc điểm, từ tính chất của
từng ngành ngề mà xác định tỷ trọng, quy mô, cơ cấu các thành phần kinh tế
cho phù hợp, thứ ba, phải xuất phát từ khả năng tổ chức và quản lý kinh tế
của Nhà nớc XHCN và đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế.
Do đó, trong cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên
CNXH, Đảng ta đã xác định:
(1)
"Trong quá trình xây dựng CNXH và bảo
vệ tổ quốc, cần nắm vững những phơng thức cơ bản sau đây... Ba là, phù
hợp với sự phát triển của LLSX, thiết lập từng bớc QHSX XHCN từ phấp

và nhiều nghề thủ công mỹ nghệ khác. Huyện kiến Xơng nổi tiếng với chạm
bạc Đồng Xâm, đây là làng nghề mà cả nớc biết. Huyện Đông Hng với sản
phẩm nổi tiếng trong mỗi dịp tết đó là Bánh Cáy - làng Nguyền... Huyện Vũ
Th trong 5 năm (1995 - 2000) đã xây dựng đợc 5 xã nghề, 6 làng nghề, sắp
xếp lại ngành tiểu thủ công nghiệp. Một số ngành hàng tiếp tục phát triển nh
8
sửa chữa cơ khí nh, chế biến nông sản, ơm tơ, thêu. các xã Vũ Hội, Vũ Minh,
Minh Lãng, Nguyên Xá, Bách Thuận phát triển mạnh mẽ làng nghề chiém tỷ
trọng 50,6% thu nhập kinh tế xủa xã. Số hộ có nghề ổn định chiếm 30% số
hộ nông nghiệp.
Bên cạnh đó nhiều ngành nghề mới ở Thái Bình ra đời và phát triển,.
Nh phát triển nuôi tôm sú ở Tiền Hải, khai thác nớc khoáng (nớc khoáng
Vital) và khí đốt ở Tiền Hải. Cùng với sự hội nhập, mở cửa thu hút đầu t nớc
ngoài của đất nớc, Thái Bình đã có nhiều dự án đầu t nớc ngoài đã và đang
tạo ra nhiều ngành nghề mới cho Thái Bình. Sự chuyên môn hoá và hợp tác
lao động đã vợt ra khỏi phạm vi quốc gia, và đã tham gia vào phân công lao
động quốc tế.
Nh vậy với sự đa dạng phong phú về làng nghề truyền thống nhiều
ngành mới xuất hiện, đầu t nớc ngoài đã tạo ra cho Thái Bình phân công lao
động xã hội ngày càng sâu sắc. Điều đó nói lên rằng đây chính là điều kiện
cần cho Thái Bình phát triển KTHH.
III- Sự khác nhau về các hình thức sở hữu về TLSX và sản phẩm
lao động
Điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hoá là sự tách biệt về kinh tế giữa
những ngời sản xuất do các quan hệ sở hữu khác nhau về TLSX quy định.
Cùng với sự đổi mới của đất nớc, nền kinh tế của Thái Bình cũng tồn tại nền
kinh tế nhiều thành phần và hội đủ 5 thành phần kinh tế. Các thành phần kinh
tế này tham gia hoạt động trên tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh
doanh và có đều ở các huyện thị. Đó là kinh tế Nhà nớc: hoạt động trong lĩnh
vực cung ứng giống phân đạm, thuốc bảo vệ thực vật... thành phần kinh tế

Th, Hồng Hà, Đông Hng, Thái Thụy, Quỳnh Phụ, Kiến Xơng và thị xã Thái
Bình. Trong những năm đổi mới Thái Bình là một tỉnh lá cờ đầu trong phong
trào xây dựng nông thôn mới: điện, đờng, trờng trạm phát huy truyền thống
quê hơng 5 tấn, năm 1999 năng suất lúa 12,5 tấn/ha dẫn đầu cả nớc, 7 năm
10
liền Thái Bình giữ vững mục tiêu trên 1 triệu tấn lơng thực/ năm. Năm 2000
giá trị sản xuất trên 1ha đất canh tác là 30 triệu đồng.
I- Những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế
ở Thái Bình.
1- Những điều kiện thuận lợi: là một tỉnh có dân số đông 1,7 triệu
ngời là nguồn lao động lớn cho Thái Bình trong phát triển kinh tế - xã hội là
một thị trờng tiêu thụ đầy tiềm năng với mức thu nhập ngày càng tăng GDP
bình quân (1990 - 1999) mỗi năm tăng 9,36%, GDP bình quân trên đầu ngời
là 9 triệu đồng/ năm. Bên cạnh đó ngời Thái Bình có đức tính cần cù, đây
cũng là một lợi thế của Thái Bình trong việc thu hút đầu t trong nớc và nớc
ngoài.
Vị trí địa lý của Thái Bình: 3 mặt giáp sông, 1 giáp biển. Các công
trình vợt sông lớn đã đợc xây dựng và da vào khai thác có hiệu quả nhu cầu
Triều Dơng, cầu Thái Bình. Đặc biệt là sau khi hoàn thành cầu Tân Đệ và đ-
ờng 10 sẽ tạo điều kiện cho Thái Bình giao lu kinh tế trong nớc và quốc tế.
Với 56 km bờ biển loại hải sản có giá trị kinh tế: 46 loài cá, 10 loài tôm, 5
loài mực và có những bở biển đẹp ở Thái Bình đã tạo ra cho Thái Bình trong
việc đánh bắt, khai thác lợng khí đốt 1 tỷ m
3
đã và đang tạo ra cho Thái Bình
trong phát triển công nghiệp khai thác khí. Chính phủ đã có chủ trơng xay
dựng Thái Bình thành 1 trong 3 cụm khí - điện - đạm của cả nớc cùng với Bà
Rịa Vũng Tầu và Quảng Ngãi.
Qua hơn 15 năm đổi mới, Thái Bình dẫn đầu cả nớc về phong trào xây
dựng nông thôn mới, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của Thái Bình đã đợc

Bình lúc bấy giờ không có mấy ngành phát triển, chỉ có một số ngành công
nghiệp trụ vững trong thời kỳ đó là: sành sứ, sản xuất xe đạp.
Từ năm 1986 đến nay, qua hơn 15 năm đổi mới nền kinh tế Thái Bình
có bớc tăng trởng khá, trong đó có một số lĩnh vực có bớc tăng trởng nhanh.
Tổng sản phẩm của tỉnh năm 2000 đạt 4.450 tỷ đồng (theo giá cố định năm
1994), tăng 24% so với 1995, nhịp độ tăng GDP bình quân 10 năm (1991 -
12
2000): 7%, tỷ trọng giá trị công nghiệp tăng từ 38,8% 91998) lên 44% (năm
2000).
Trong 5 năm (1996 - 2000) Thái Bình đã đầu t lớn trên 3580 tỷ đồng
cho xây dựng két cấu hạ tầng nông thôn bằng diện tích sản xuất và sinh hoạt
đờng nhựa, trờng học, trạm y tế, điện thoại, nớc sạch. Huy động gần 4500 tỷ
đồng đầu t cho phát triển nông nghiệp: xây dựng các công trình thủy lợi, kiên
cố hoá kênh mơng, trang bị máy móc công cụ sản xuất, 5 năm qua số lợng
máy bơm tăng 82,5%, máy kéo nhỏ tăng 4 lần, máy tuốt tăng 63,8 lần, máy
nghiền thức ăn gia súc 17,6 lần... so với năm 1990.
Hiện nay toàn tỉnh có 56 doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh, với
tổng giá trị tài sản cố định là 323 tỷ đồng, thu hút 10457 lao động khu vực
công nghiệp ngoài quốc doanh có 197 doanh nghiệp t nhân, HTX và 25000
hộ lao động cá thể, giá trị tài sản 421 tỷ đổng, thu hút 126970 lao động, trong
đó có 82 làng nghề, xã nghề với 88500 lao động.
Kết quả sản xuất kinh doanh toàn ngành những năm qua liên tục tăng
trởng. Năm 1990 đạt 410 tỷ đồng, năm 1995 đạt 964 tỷ, năm 1999 đạt 1330
tỷ, năm 2000 đạt 1410 tỷ. Tốc độ tăng bình quân 5 năm (1996 - 2000) là
7,8%/năm. Tốc độ bình quân 10 năm (1991 - 2000) là 13%/năm. Chất lợng
sản phẩm ngày một nâng cao. Một số sản phẩm đạt tiêu chuẩn cấp Nhà nớc,
đợc tặng huy chơng vàng trong các hội chợ trong nớc và quốc tế giữ vững đ-
ợc thị trờng tiêu thụ trong nớc và phục vụ xuất khẩu nh các mặt hàng: khung
xe đạp, cơ khí phục vụ nông nghiệp, hàng mây tre, dệt, may mặc, thêu, gạch
ốp lát, cao su... Đã có nơi đạt tiêu chuẩn quản lý chất lợng ISO 9002 nh xí

xuất: Công ty cơ khí Thái Bình sản xuất máy tuốt lúa, máy cày tay, máy bơm
nớc ..... đây chính là sản phẩm thân quen của ngời nông dân Thanh Bình và
một số tỉnh lân cận nh: Nam Hà, Ninh Bình. Công ty sản xuất dụng cụ thể
dục thể thao Thái Bình với sản phẩm vợt cầu lông, bàn bóng bàn và các dụng
cụ thể thao khác .
Nhà máy sứ Tiền Hải, Công ty bia rợu ong Thái Bình, Công ty đay Trà
Lý - Thái Bình. Trong ngành công nghiệp toàn tỉnh có 56 doanh nghiệp quốc
doanh. Trong lĩnh vực kinh doanh: thơng nghiệp quốc doanh giữ vai trò chủ
14

Trích đoạn Thị trờng các yếu tố sản xuất:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status